BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
HOÀNG ĐÌNH CẢNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
“ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN
BẰNG THUỐC METHADONE” TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2009 - 2011)
Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế
Mã số: 62 72 01 64
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Hà Nội – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
HOÀNG ĐÌNH CẢNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
“ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN
BẰNG THUỐC METHADONE” TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2009 - 2011)
Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế
Mã số: 62 72 01 64
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Nguyễn Thanh Long
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Hưng
Hà Nội – 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tốt nghiệp này, em xin được chân thành cảm ơn
Ban Giám đốc Học viện quân y, Bộ môn Tổ chức chỉ huy quân y, phòng Sau
bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận án
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục sơ đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Một số khái niệm và phân loại ma túy 3
1.1.1. Một số khái niệm, định nghĩa 3
1.1.2. Phân loại ma túy 4
1.2. Tình hình nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và ở
Việt Nam
5
1.2.1. Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam 9
1.2.3. Tình hình nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS tại thành phố Hồ
Chí Minh và thành phố Hải Phòng
13
1.3. Các phương pháp điều trị hỗ trợ cai nghiện ma túy 15
1.3.1. Điều trị hỗ trợ cắt cơn, giải độc 15
1.3.2. Điều trị duy trì hỗ trợ chống tái nghiện 16
1.4. Điều trị thay thế bằng thuốc Methadone 20
53
3.1.1. Một số đặc điểm nhân khẩu, xã hội, việc làm của đối tượng
nghiên cứu
53
3.1.2. Thực trạng sử dụng ma túy trước khi tham gia điều trị
Methadone
55
3.1.3. Kết quả xét nghiệm trước khi điều trị Methadone 59
3.1.4. Hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV của bệnh nhân 60
3.1.5. Hành vi vi phạm pháp luật trước khi điều trị Methadone 61
3.1.6. Vấn đề sức khỏe của bệnh nhân trước khi điều trị Methadone 61
3.1.7. Tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế - xã hội trước khi tham gia điều
trị Methadone
63
3.1.8. Phân tích một số mối liên quan 64
3.2. Hiệu quả mô hình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc
phiện bằng Methadone tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố
Hải Phòng (giai đoạn 2009-2011)
65
3.2.1. Tình trạng bệnh nhân tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24
tháng
65
3.2.2. Đánh giá về mức độ hài lòng của bệnh nhân trong quá trình
điều trị Methadone
65
3.2.3. Sự chấp nhận mô hình điều trị Methadone
70
3.2.4. Hiệu quả đạt được về giảm sử dụng ma túy, giảm hành vi nguy
cơ và nhiễm HIV, nhiễm vi rút viêm gan B, nhiễm vi rút viêm
gan C của bệnh nhân điều trị Methadone
97
4.1.8. Thực trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi tham gia mô hình
điều trị Methadone
98
4.1.9. Thực trạng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế trước khi tham gia
mô hình điều trị Methadone
99
4.2. Hiệu quả mô hình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc
phiện bằng thuốc Methadone (giai đoạn 2009-2011)
100
4.2.1. Tình hình bệnh nhân tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24
tháng.
100
4.2.2. Hiệu quả của mô hình điều trị thay thế nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc Methadone
101
4.3. Tính khả thi và bền vững của mô hình điều trị nghiện các chất
dạng huốc phiện bằng thuốc Methadone tại Việt Nam
116
KẾT LUẬN 119
KIẾN NGHỊ 121
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Phần viết tắt Phần viết đầy đủ
AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrome (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải)
ARV Antiretroviral (Thuốc kháng vi rút)
IBBS Integrated Biological and Behavioral Surveillance
(Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học)
LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và xã hội
MMT Methadone Maintenance Therapy (Điều trị duy trì
bằng Methadone)
QHTD Quan hệ tình dục
PNBD Phụ nữ bán dâm
PTTH Phổ thông trung học
STI Sexually Transmitted Infection (Nhiễm trùng lây
qua đường tình dục)
TCMT Tiêm chích ma tuý
THCS Trung học cơ sở
TNHH
TP
Trách nhiệm hữu hạn
Thành phố
UNAIDS The Joint United Nations Programme on
HIV/AIDS (Chương trình Phối hợp của Liên Hợp
Quốc về HIV/ AIDS)
UNODC United Nations Office on Drugs and Crime (Cơ
quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên
Hợp Quốc)
VCT Voluntary Counseling and Testing (Tư vấn xét
nghiệm tự nguyện)
WHO
XN
World health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Xét nghiệm
Bảng
DANH MỤC CÁC BẢNG
tiêm với tình trạng nhiễm viêm gan C
64
3.25 Tình trạng bệnh nhân tham gia nghiên cứu 65
3.26 Tỷ lệ bệnh nhân dùng chung bơm kim tiêm trước và sau điều
trị Methadone
72
3.27 Tình trạng nhiễm HIV của bệnh nhân điều trị Methadone 74
3.28 Tình trạng nhiễm viêm gan B, viêm gan C của bệnh nhân
trước và sau điều trị Methadone
74
Bảng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Trang
3.29 Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi vi phạm pháp luật và bạo lực gia
đình trước và sau điều trị Methadone
75
3.30 Tỷ lệ bệnh nhân tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế và dịch vụ hỗ
trợ xã hội trước và sau điều trị Methadone
79
4.1 Số bệnh nhân đang điều trị Methadone tại các tỉnh/thành phố
tính đến 30/11/2012
117
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
1.1 Số ca nhiễm HIV/AIDS và tử vong (1990-2013) 12
1.2 Tình hình sử dụng ma tuý trước và sau điều trị thay thế bằng
thuốc Methadone
29
1.3 Theo dõi tỷ lệ nhiễm HIV của hai nhóm nghiên cứu 30
đang ảnh hưởng nặng nề đến từng cá nhân, gia đình, trật tự an toàn xã hội và
là nguyên nhân chính gây lây truyền đại dịch HIV/AIDS ở nhiều quốc gia trên
thế giới.
Nhiều năm qua, cộng đồng quốc tế đã nỗ lực rất lớn trong công tác
phòng, chống ma túy, phòng chống HIV/AIDS và đã thu được nhiều kết quả
đáng ghi nhận. Tuy nhiên, điều trị nghiện và dự phòng tái nghiện ma túy vẫn
là thách thức lớn của nhiều quốc gia. Những tiến bộ của khoa học đã giải mã
được cơ chế của nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính, cần điều trị lâu dài.
Một trong những giải pháp điều trị được nhiều nước áp dụng đó là điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone.
Vào những năm đầu của thập kỷ 80, khi HIV xuất hiện và lây lan thành
đại dịch, đồng thời tình trạng tội phạm ma tuý gia tăng, gánh nặng bệnh tật và
tử vong liên quan đến ma tuý và HIV/AIDS là những thách thức lớn của các
nước. Tháng 3 năm 1985, tại Hội nghị về chống lạm dụng ma túy ở Úc, điều
trị Methadone đã được các nước lựa chọn với mục tiêu là điều trị lâu dài cho
người nghiện chất dạng thuốc phiện, đồng thời mục đích quan trọng khác là
dự phòng lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu.
Trên thế giới, điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
thuốc Methadone đã được triển khai tại Canada từ năm 1959 và đến nay đã
được mở rộng ra gần 80 quốc gia. Một số nước triển khai chương trình điều
trị bằng Methadone rất hiệu quả như: tại Mỹ, đến năm 2010 đã có hơn 267
nghìn người được điều trị Methadone; tại Úc, liệu pháp Methadone triển khai
từ năm 1969, đến nay đã có 35.850 người được điều trị; tại châu Á, liệu pháp
2
Methadone đã được thực hiện ở nhiều nước; Trung Quốc triển khai từ năm
2004, tính đến cuối năm 2010 đã có 140.000 người tham gia điều trị; Hồng
Kông triển khai từ năm 1974, với độ bao phủ khoảng 95% người sử dụng ma
túy, Chính phủ Hồng Kông đánh giá chương trình này là một trong những
chương trình dự phòng HIV liên quan đến sử dụng ma tuý thành công nhất.
Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy rõ hiệu quả của điều trị thay
trạng nghiện đối với người sử dụng.
1.1.1.3. Chất hướng thần
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu
sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
1.1.1.4. Nghiện ma túy
Theo tổ chức Y tế Thế giới, nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc về mặt
tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai, khi một người sử dụng ma túy lặp đi lặp
lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy và tình trạng lệ
thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức
bách phải dùng ma túy để có được những hiệu ứng về mặt tâm thần của ma
túy và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma túy [130], [132].
1.1.1.5. Chất dạng thuốc phiện
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất
như thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Pethidine,
Fentanyle là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh), có biểu
hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não
[15], [111].
1.1.1.6. Methadone
Methadone là một chất dạng thuốc phiện (CDTP) tổng hợp, có tác dụng
dược lý tương tự như các CDTP khác, nhưng không gây nhiễm độc hệ thần
4
kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán hủy
dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong ngày là đủ để không
xuất hiện hội chứng cai. Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng
liều khi điều trị lâu dài [102], [105].
1.1.1.7. Điều trị thay thế bằng Methadone
Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là một điều trị
lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống nên giúp
dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, viêm
gan C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động
đến 6,9% dân số thế giới. Trong các loại ma túy được sử dụng, đứng đầu là
nghiện Cần sa, chiếm từ 2,82% đến 5,03% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15
đến 64 (từ 129 - 230 triệu người); đứng thứ hai là nghiện các loại ma túy tổng
hợp, ước tính có khoảng từ 24,4 đến 81,9 triệu người sử dụng ma túy tổng
hợp trong năm qua, chiếm 0,53% đến 1,79% dân số thế giới trong độ tuổi từ
15 - 64; đứng thứ ba là nghiện các chất dạng thuốc phiện, chiếm 0,88% đến
1,23% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 - 64 (40,6 - 56,4 triệu người) và
cuối cùng là nghiện Cocain, chiếm 0,3% đến 0,45% dân số thế giới trong độ
tuổi từ 15 - 64 (13,9 - 20,7 triệu người) [118].
Trong bản đồ sử dụng ma túy trên thế giới: Khu vực Bắc Mỹ là thị
trường ma túy bất hợp pháp lớn nhất thế giới, mặc dù các vùng khác đều là
nơi sản xuất hoặc tổng hợp ma túy. Châu Phi và châu Mỹ là nơi tập trung sản
xuất các loại ma túy từ Cần sa (mặc dù Cần sa có thể được trồng tại hầu hết
các nước trên thế giới). Châu Á là nơi sản xuất các loại ma túy có nguồn gốc
từ thuốc phiện, Nam Mỹ là Cocain, châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ là các loại
ma túy tổng hợp. Cần sa được sử dụng nhiều nhất tại châu Đại Dương, Bắc
Mỹ và châu Phi. Cocaine được sử dụng nhiều nhất tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Tây
6
Âu và một vài năm gần đây là châu Đại Dương. Nhóm các chất dạng thuốc
phiện (Opiats) được sử dụng nhiều nhất tại Trung Đông, Trung Á, châu Âu và
Bắc Mỹ. Ma túy tổng hợp được sử dụng nhiều nhất tại châu Đại Dương, Đông
và Nam Á, Bắc Mỹ và châu Âu. Tệ nạn ma túy đã ảnh hưởng không nhỏ tới
sức khỏe cộng đồng, sự phát triển của kinh tế, xã hội và đe dọa an ninh quốc
gia không chỉ ở những nước đang phát triển mà còn cả những nước đã phát
triển. Bản đồ sử dụng ma túy trên thế giới năm 2008, phân bố các vùng sử
dụng ma túy trên thế giới như sau:
Hình 1.1: Bản đồ sử dụng ma túy trên thế giới năm 2008
* Nguồn: theo UNODC, World drug report (2012) [117]
Những năm gần đây, bên cạnh các chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên,
thế giới bắt đầu đối mặt với sự lạm dụng các chất kích thích có nguồn gốc
cao: ước tính tỷ lệ nhiễm viêm gan C trong nhóm tiêm chích ma túy trên toàn
cầu là 51,0%, tương đương với 7,2 triệu người tiêm chích ma túy đang sống
chung với viêm gan C vào cuối năm 2011, tỷ lệ nhiễm viêm gan B trong
nhóm TCMT thấp hơn rất nhiều tỷ lệ nhiễm viêm gan C, tỷ lệ nhiễm viêm
8
gan B là 8,4%, tương ứng với 1,2 triệu người (số liệu được tổng hợp từ báo
cáo của 63 quốc gia) [117].
1.2.1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Theo ước tính của Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về
HIV/AIDS (UNAIDS), đến cuối năm 2011, trên toàn cầu có khoảng 31,4 triệu
đến 35,9 triệu trường hợp nhiễm HIV, khoảng 0,8% người trưởng thành trong
độ tuổi từ 15 - 49 trên toàn thế giới sống chung với HIV. Mặc dù số trường
hợp nhiễm HIV mới giảm nhưng do việc mở rộng chương trình điều trị bằng
thuốc kháng virus (ARV) nên số tử vong do AIDS cũng giảm, vì vậy đã làm
cho số trường hợp lũy tích hiện nhiễm HIV tăng 27% so với năm 1999 (24,6
triệu - 27,8 triệu) [115].
Năm 2011, ước tính có khoảng 2,5 triệu trường hợp nhiễm HIV mới,
mỗi ngày có 7.000 ca nhiễm mới HIV, giảm khoảng 20% so với năm 2001.
Số trường hợp tử vong do AIDS trên toàn thế giới giảm đều, từ đỉnh
điểm 2,3 triệu trong năm 2005 giảm xuống còn khoảng 1,7 triệu trong năm
2011. Kết quả trên cho thấy hiệu quả của những nỗ lực triển khai chương
trình điều trị ARV, chương trình tiếp cận cộng đồng, chương trình can thiệp,
đặc biệt tại những nước có thu nhập thấp và trung bình [104], [133]. Có thêm
74 quốc gia có số trường hợp tử vong liên quan đến AIDS giảm từ 10% đến
49 % được ghi nhận trong vòng 6 năm trở lại đây. Tuy nhiên, vẫn có các khu
vực số ca tử vong liên quan đến AIDS tăng như khu vực Đông Âu và Trung Á
tăng 21%, khu vực Trung Đông và Bắc Phi tăng 17% [114], [126].
1.2.2. Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình nghiện ma túy tại Việt Nam
Nghiện ma túy tại Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp với chiều
nghiện tại gia đình, cộng đồng là 3.128 người (chiếm 20%). Tổ chức quản lý
sau cai nghiện cho 12.901 người, trong đó quản lý tại Trung tâm là 4.769
10
người (tại 14/63 tỉnh, thành phố), quản lý sau cai tại nơi cư trú là 8.132 người
(tại 23/63 tỉnh, thành phố). Tổ chức dạy nghề, tạo việc làm, hỗ trợ vốn cho
6.398 người, trong đó, hỗ trợ tạo việc làm cho 2.385 người (chiếm 37,2%)
tổng số người được dạy nghề, tạo việc làm [5].
Tuy nhiên công tác cai nghiện, quản lý sau cai nghiện và tái hòa nhập
cộng đồng còn một số nguyên nhân tồn tại sau:
Số người cai nghiện tại cộng đồng ít (20% số người được cai nghiện),
phần lớn chỉ thực hiện giai đoạn cắt cơn đơn thuần, chưa chú trọng đến các
hoạt động tư vấn, sinh hoạt nhóm, hỗ trợ học nghề, tạo việc làm.
Cai nghiện tại Trung tâm vẫn nặng về quản lý hành chính, các hoạt
động về tư vấn, sinh hoạt nhóm có nội dung về điều trị nghiện ma túy và dự
phòng tái nghiện còn hạn chế. Chế độ hỗ trợ dạy nghề thấp, chỉ đủ chi phí học
nghề sơ cấp đơn giản ngắn hạn.
Nhiều mô hình cai nghiện tự nguyện, tại cộng đồng hiệu quả nhưng
chưa có cơ chế đầu tư phù hợp từ ngân sách dẫn đến khó nhân rộng; cai tự
nguyện không được hỗ trợ các chi phí, các mức hỗ trợ thấp, không đầy đủ và
không đảm bảo cho thực hiện quy trình cai nghiện.
1.2.2.2. Các hành vi nguy cơ trong nhóm tiêm chích ma túy tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu hành vi kết hợp với các chỉ số sinh học (IBBS)
được tiến hành tại 10 tỉnh/thành phố năm 2009, trong nhóm nguy cơ cao đã
nhận định dịch HIV/AIDS tại Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong
những năm tới đây với những bằng chứng như sau:
Dùng chung bơm kim tiêm (BKT) trong nhóm tiêm chích ma túy
(TCMT) còn tương đối phổ biến trong khoảng thời gian 6 tháng trước cuộc
điều tra, tỷ lệ này rất cao tại thành phố Đà Nẵng (37%) và trên 20% tại nhiều
tỉnh, thành phố như Hà Nội, Nghệ An và thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên,
tại Hải Phòng là thành phố có tỷ lệ sử dụng chung BKT trong nhóm người