Đánh giá hiệu quả mô hình “điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone” tại thành phố hồ chí minh và hải phòng (2009 – 2011) (tt) - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn nạn ma túy đã và đang ảnh hưởng nặng nề đến từng cá
nhân, gia đình, trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân chính gây lan
truyền đại dịch HIV/AIDS ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhiều năm qua, cộng đồng quốc tế đã nỗ lực rất lớn trong
công tác phòng, chống ma túy, phòng chống HIV/AIDS và đã thu
được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, điều trị nghiện và dự
phòng tái nghiện ma túy vẫn là thách thức lớn của nhiều quốc gia.
Những tiến bộ của khoa học đã giải mã được cơ chế của
nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính, cần điều trị lâu dài. Một
trong những giải pháp điều trị được nhiều nước áp dụng đó là điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone.
Các nghiên cứu trên Thế giới đều cho thấy hiệu quả của điều
trị thay thế bằng thuốc Methadone trong giảm sử dụng ma tuý bất
hợp pháp, dự phòng lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua
đường máu, giảm tội phạm và bạo lực gia đình.
Tại Việt Nam, điều trị thay thế bằng thuốc Methadone đã
được Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai triển khai thí
điểm từ 1996 đến 2002, từ những kết quả thu được ban đầu, năm
2008, Chính phủ đã giao Bộ Y tế triển khai thí điểm mô hình “Điều
trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone” tại
thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hải Phòng. Để đánh giá hiệu
quả mô hình điều trị Methadone tại hai thành phố triển khai thí điểm,
đề tài luận án này nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng sử dụng ma túy và một số ảnh hưởng đến
sức khỏe, xã hội của người nghiện ma tuý trước khi tham gia mô
hình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (2009).
2. Đánh giá hiệu quả mô hình “Điều trị thay thế nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone” tại thành phố Hồ Chí

1.1.1. Một số khái niệm, định nghĩa
1.1.1.1. Chất ma túy: là các chất gây nghiện, chất hướng thần được
quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
1.1.1.2. Chất gây nghiện: là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh,
dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
1.1.1.3. Chất hướng thần: là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây
ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện.
1.1.2. Phân loại ma túy
Cách phân loại chủ yếu hiện nay là theo 4 nhóm: Cần sa,
Cocain, Các chất dạng thuốc phiện và ma túy tổng hợp.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TÚY, NHIỄM HIV/AIDS TRÊN
THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.2.1.1. Tình hình nghiện ma túy trên thế giới
Theo UNODC, trên thế giới hiện nay, đứng đầu là nghiện
Cần sa, chiếm từ 2,82% - 5,03% dân số thế giới, đứng thứ hai là
nghiện các loại ma tuý tổng hợp, đứng thứ ba là nghiện các chất dạng
thuốc phiện, chiếm 0,88% - 1,23% dân số thế giới trong độ tuổi từ
15-64 (40,6 - 56,4 triệu người) và cuối cùng là nghiện Cocain.
1.2.1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Theo ước tính của UNAIDS, đến cuối năm 2011, trên toàn
cầu có khoảng 31,4 triệu - 35,9 triệu trường hợp nhiễm HIV, có
khoảng 0,8% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15-49 sống chung với
HIV.
1.2.2.1. Tình hình nghiện ma tuý tại Việt Nam
Đang có chiều hướng gia tăng, tính đến 30/06/2013, cả nước
có gần 180.000 người nghiện. Sử dụng hêroin vẫn là chủ yếu chiếm
75%; ma túy tổng hợp: 10%; thuốc phiện 7%; cần sa: 1,7%; loại
khác: 6,3%.
4
1.2.2.2. Tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam

1.4.2. Tình hình triển khai điều trị bằng thuốc Methadone ở một
5
số nước trên Thế giới
Điều trị Methadone đã được triển khai đầu tiên tại Canada
vào năm 1959 và đến nay đã có gần 80 quốc gia đang áp dụng. Tại
Mỹ, năm 2010 đã có hơn 267 nghìn người được điều trị Methadone.
Tại Úc, triển khai từ năm 1969, đặc biệt vào những năm thập kỷ 80,
đại dịch HIV gia tăng, số người tham gia điều trị bằng thuốc
Methadone đã tăng nhanh chóng, đến nay đã có 35.850 người được
điều trị. Ở các quốc gia châu Âu như Thụy Điển, Anh, Hà Lan, liệu
pháp Methadone đã được triển khai rất sớm vào cuối những năm
1960. Tại châu Á, liệu pháp Methadone đã được thực hiện ở nhiều
nước, Trung Quốc triển khai từ năm 2004, tính đến cuối năm 2010 đã
có 140.000 người tham gia điều trị, Hồng Kông triển khai từ năm
1974, với độ bao phủ khoảng 95% người sử dụng ma túy.
1.4.3. Hiệu quả điệu trị thay thế bằng thuốc Methadone thế giới
Chương trình điều trị bằng Methadone đã được chứng minh
có hiệu quả nhất, với những ưu điểm sau: Giảm sử dụng ma túy trái
phép; Giảm dùng chung BKT; Giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV và các bệnh
lây truyền qua đường máu; Giảm hoạt động tội phạm; Hiệu quả về
kinh tế: giảm chi phí cho người nghiện; Tạo việc làm, thu nhập, tái
hoà nhập cộng đồng; Cải thiện tình hình sức khỏe; Giảm tình trạng tử
vong do sốc thuốc và giảm tự tử.
1.4.4. Điều trị thay thế bằng thuốc Methadone tại Việt Nam
Tại Việt Nam mới chỉ có duy nhất một nghiên cứu của Viện
Sức khoẻ Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai đã được triển khai tại TP.
Hà Nội (với 68 người) và TP. Hải Phòng (với 74 người), từ 1996 đến
năm 2002.
6
CHƯƠNG 2

7
2.2.2. Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2.1. Cỡ mẫu và chọn mẫu mô tả cắt ngang
Lấy toàn bộ 970 bệnh nhân tham gia mô hình điều trị thay
thế bằng thuốc Methadone tại 2 thành phố, tuy nhiên, có 5 người từ
chối tham gia nghiên cứu, còn lại 965 người đồng ý tham gia nghiên
cứu (TP. Hải Phòng 467 người và TP. Hồ Chí Minh là 498 người).
- Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu định tính:
+ Chọn có chủ đích 64 người đại diện.
+ 02 lần lấy phiếu thăm dò ý kiến của bệnh nhân đang tham
gia mô hình điều trị Methadone. Tổng số phiếu là 600 phiếu/1 lần x 2
lần = 1200 phiếu.
2.2.3. Nghiên cứu can thiệp
2.2.3.1. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu can thiệp
Cỡ mẫu đối tượng nghiên cứu can thiệp là toàn bộ 965 bệnh
nhân tham gia điều trị, sau 12 tháng có 113 người bỏ tham gia nghiên
cứu, sau 24 tháng có thêm 101 người bỏ tham gia nghiên cứu, số còn
lại 751 bệnh nhân tham gia nghiên cứu cả 3 vòng.
2.6. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã được thông qua hội động đạo đức của trường
Đại học Y tế cộng cộng.
Các đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện.
Thoả thuận đồng ý tham gia nghiên cứu bằng văn bản được thu thập
từ mỗi người tham gia nghiên cứu trước khi họ được sàng lọc và
tuyển chọn tham gia. Các đối tượng tham gia nghiên cứu được hưởng
các xét nghiệm miễn phí, kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để tư
vấn, hỗ trợ cho đối tượng trong quá trình điều trị.
2.7. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu không có nhóm đối chứng
- Thời gian thử nghiệm mô hình ngắn (2 năm).

Thời gian nghiện ma tuý từ trên 5 năm – 10 năm chiếm tỷ lệ
cao nhất (46,2%), tiếp đến là từ trên 1 năm – 5 năm (36,4%), trên 10
năm (16,6%) và từ 1 năm trở xuống chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,8%).
Bảng 3.6. Loại ma tuý thường sử dụng
Loại ma túy
sử dụng
TP. Hải
Phòng
TP. Hồ Chí
Minh
Chung
(n=965)
TS % TS % TS %
Heroin 375 80,3 434 87,1 809 83,8
Thuốc phiện 117 25,1 27 5,4 144 14,9
Ma túy tổng
hợp
47 10,1 64 12,9 111 11.5
Cần sa 41 8,8 104 20,9 145 15,0
Tân dược gây
nghiện
44 9,4 148 29,7 192 19,9
10
Bảng 3.7. Cách thức sử dụng ma túy
Đường dùng
Ma túy
TP Hải Phòng
(n=467)
TP Hồ Chí Minh
(n=498)

Chung
(n=965)
SL % SL % SL %
HBV dương tính 55 11,8 103 20,7 158 16,4
HCV dương tính 200 42,8 349 70,1 549 56,9
3.1.4. Hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV của bệnh nhân
3.1.4.1. Hành vi sử dụng chung BKT khi tiêm chích ma túy
4,1% có sử dụng chung BKT với bạn chích.
11
3.1.5. Hành vi vi phạm pháp luật trước khi điều trị Methadone
Có 40,8% bệnh nhân có những hành vi vi phạm pháp luật.
3.1.6. Vấn đề sức khỏe của BN trước điều trị Methadone
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ BN có vấn đề sức khoẻ
tâm thần là 73,5%.
3.1.7. Tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế - xã hội trước khi tham gia
điều trị bằng Methadone
Bệnh nhân sử dụng dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện
chiếm tỷ lệ cao nhất (64,5%), dịch vụ điều trị ARV (12,8%), điều trị
lao (4,0%), điều trị nhiễm trùng cơ hội (3,1%) và điều trị chuyên
khoa tâm thần (0,1%).
3.2. HIỆU QUẢ MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG
THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HẢI PHÒNG (GIAI ĐOẠN 2009 –
2011)
3.2.2. Đánh giá về mức độ hài lòng của bệnh nhân trong quá
trình điều trị thay thế bằng thuốc Methadone
Phân tích kết quả phiếu thăm dò ý kiến của bệnh nhân tại 6
cơ sở điều trị Methadone cho thấy 90% bệnh nhân hài lòng với các
quy trình cụ thể của mô hình.
3.2.4. Hiệu quả đạt được về giảm sử dụng ma tuý, giảm hành vi

(p<0,05).
13
Tỷ lệ BN nhiễm HIV trước điều trị và sau điều trị trong tổng
số 751 BN được theo dõi không có sự khác biệt (p>0,05): trước điều
trị là 28,2% sau 12 tháng ĐT là 28,2% và sau 24 tháng ĐT là 28,4%.
Theo dõi trong 02 năm điều trị Methadone tại cơ sở chỉ có
duy nhất 01 bệnh nhân bị nhiễm mới HIV.
Tỷ lệ BN nhiễm vi rút viêm gan B trước ĐT là 16,1%/751
BN, sau 12 tháng ĐT và sau 24 tháng ĐT tỷ lệ này có tăng lên một ít
nhưng không có ý nghĩa thống kê (17,3%). Nghiên cứu trên 751 bệnh
nhân cho thấy sau 12 tháng có nhiễm mới 3 người và sau 24 tháng
nhiễm mới 9 người.
- Tỷ lệ BN nhiễm vi rút viêm gan C rất cao, 58,5% (trước ĐT)
và hầu như không tăng lên sau 12 tháng ĐT (59%) và sau 24 tháng
ĐT có tăng thêm vài trường hợp (61,4%). Sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ là
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Nghiên cứu 751 bệnh nhân sau
12 tháng có 4 trường hợp nhiễm mới HCV và sau 24 tháng có 22
trường hợp nhiễm mới HCV so với đầu vào.
3.2.5. Hiệu quả đạt được về sức khỏe và xã hội của bệnh nhân
- Tỷ lệ BN có hành vi vi phạm pháp luật từ 39,1% (trước ĐT)
đã giảm xuống 2,7% (sau 12 tháng ĐT) và 1,6% (sau ĐT). Sự khác
biệt giữa 2 tỷ lệ là rất có ý nghĩa thống kê (p<0,001); CSHQ đạt
93,1% và 95,9%.
- Tỷ lệ BN có hành vi bạo lực gia đình từ 86,8% (trước ĐT) đã
giảm xuống 4,8% (sau 12 tháng ĐT) và 2,3% (sau ĐT). Sự khác biệt
giữa 2 tỷ lệ là rất có ý nghĩa thống kê (p<0,001); CSHQ đạt 94,6% và
98,1%.
14
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ bệnh nhân có việc làm (n=751)
Tỷ lệ BN có việc làm tăng từ 55,7% (trước ĐT) lên 62% (sau

Khi bắt đầu triển khai, chi phí trung bình trên ngày/người
cao, ở mức trên 241.000 đồng. Chi phí trung bình giảm rất nhanh
xuống còn 42.700 đồng và 27.000 đồng trong 2 quý sau đó, chi phí
trung bình trên ngày/người điều trị chỉ còn xấp xỉ 21.700 đồng, khi
mô hình đạt mức 57% công suất thiết kế.
Biểu đồ 3.12. Cấu trúc tổng chi phí 6 CSĐT Methadone
giai đoạn một năm đầu
Với cơ cấu tổ chức như hiện nay, chi phí trên ngày/người
điều trị cho cơ sở điều trị Methadone với quy mô 150 bệnh nhân sẽ là
16
20.750 đồng (1,26 USD) (tỉ giá tại thời điểm quý I/2009 là
1USD=16.450 đồng), chi phí điều trị cho một người một năm sẽ là
460 USD. Tương tự như vậy, với cơ cấu tổ chức hiện có, khi cơ sở
điều trị Methadone đạt công suất 250 bệnh nhân thì chi phí trên
ngày/người chỉ còn 15.500 đồng. Với phương án tổ chức hợp lý, chi
phí trên ngày/người của mô hình Methadone có thể đạt đến mức chỉ
còn 12.500 đồng (0,76 USD) tại các cơ sở điều trị Methadone có quy
mô điều trị 400 bệnh nhân (chi phí cho một người trong một năm sẽ
là 277 USD).
17
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. MÔ TẢ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MA TUÝ VÀ MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỨC KHOẺ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TRƯỚC
KHI THAM GIA MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC
CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HẢI PHÒNG (2009)
4.1.1. Tình hình chung của hai thành phố
Về độ tuổi: Theo báo cáo của Bộ Công an năm 2012 người
nghiện ma túy trong toàn quốc đang có xu hướng trẻ hóa, độ tuổi

ứng nhanh tại tỉnh Bắc Kạn, Hòa Bình và Tuyên Quang (2011) cũng
cho thấy tỉ lệ dương tính với vi rút viêm gan C cao: 83,6% tại Hòa
Bình, 82,4% tại Bắc Kạn và 56% tại Tuyên Quang.
4.1.6. Về hành vi vi phạm pháp luật của bệnh nhân trước khi
tham gia mô hình điều trị Methadone.
Ma tuý còn là nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là
nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Kết quả nghiên cứu của
đề tài cũng cho thấy mối liên quan giữa nghiện ma túy và tội phạm,
tỷ lệ bệnh nhân có hành vi vi phạm pháp luật là 40,8%, tỷ lệ bệnh
nhân có tiền sự là 13,0%, tỷ lệ bệnh nhân có tiền án là 20,6%, bạo lực
gia đình là 90,4%.
4.1.7. Tình trạng việc làm của bệnh nhân trước khi tham gia mô
hình điều trị bằng Methadone
Tỷ lệ bệnh nhân có việc làm là 64,0% và có thu nhập là
87,9%. Kết quả cao hơn kết quả nghiên cứu của Lại Kim Anh và
cộng sự (2006-2007) tại TP. Cần Thơ cho thấy 71% đối tượng
NCMT thất nghiệp và nghiên cứu của Phạm Thị Đào (2008-2009) tại
TP. Đà Nẵng (48%).
4.2. HIỆU QUẢ MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC
CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE
(GIAI ĐOẠN 2009-2011)
4.2.1. Tình trạng bệnh nhân bỏ tham gia nghiên cứu sau 12 tháng
và 24 tháng
Số bệnh nhân tham gia nghiên cứu ban đầu là 965 người, sau
12 tháng còn 852 bệnh nhân (có 11,7%, bỏ nghiên cứu) và sau 24
tháng còn 751 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (có 22,2% bỏ nghiên
cứu).
4.2.2. Hiệu quả của mô hình điều trị thay thế nghiện các CDTP
19
bằng Methadone

Methadone cũng đã hạn chế rất nhiều các bệnh lây truyền qua đường
máu khác như Viêm gan B, Viêm gan C… tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh
20
Viêm gan B có tăng từ 16,1% trước điều trị Methadone lên 17,3%
sau 24 tháng điều trị Methadone, nhưng sự khác biệt của các tỷ lệ
trên không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
4.2.2.3 Hiệu quả mô hình điều trị Methadone đối với sức khỏe và
việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ y tế và dịch vụ hỗ trợ xã hội
Những lợi ích của điều trị Methadone ngoài việc giảm sử
dụng ma túy, giảm tiêm chích… còn giúp người nghiện cải thiện sức
khỏe, tình trạng dinh dưỡng, cải thiện và ổn định quan hệ với gia
đình.
4.2.2.4. Bàn luận về hiệu quả mô hình điều trị Methadone làm
giảm phạm tội trong đối tượng tham gia điều trị
Điều trị Methadone góp phần điều chỉnh hành vi tâm lý giúp
người bệnh hiền lành hơn, sống hướng thiện hơn, có cơ hội để cải
thiện cuộc sống, dễ tái hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động
bình thường của xã hội, giảm kỳ thị, phân biệt đối xử ở nơi làm việc
theo khuyến cáo của UNAIDS.
4.2.2.5. Điều trị thay thế bằng thuốc Methadone tăng cơ hội có việc
làm của bệnh nhân
Người tham gia điều trị Methadone có nhiều cơ hội tìm kiếm
việc làm cũng như có việc làm trở lại. Kết quả nghiên cứu của đề tài
cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có việc làm sau điều trị đã tăng lên.
Phù hợp với nghiên cứu của Simpson DD, Sells SB, tỷ lệ người có
việc làm sau điều trị đã tăng lên từ 33% trước điều trị một năm, sau
điều trị 03 năm tỉ lệ này đã tăng lên gần 60%.
4.2.2.6. Hiệu quả kinh tế của mô hình điều trị Methadone
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài,với cơ cấu tổ chức như
hiện nay, khi cơ sở điều trị Methadone đạt công suất 250 bệnh nhân

cao: HIV (28,4%), viêm gan B (16,4%), viêm gan C (56,9%).
Các đối tượng tham gia điều trị có các hành vi phạm tội và
bạo lực gia đình cao: hành vi vi phạm pháp luật (40,8%); có tiền sự
(13%), tiền án (20,6%); hành vi bạo lực gia đình chiếm tỷ lệ rất cao
(90,4%); tỷ lệ không có việc làm là 36%.
Phần lớn các đối tượng có vấn đề sức khoẻ tâm thần
(73,5%), nhưng hầu hết chưa được tiếp cận và sử dụng dịch vụ điều
trị tâm thần. tỷ lệ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ hỗ trợ xã hội cũng
rất thấp.
2- Hiệu quả mô hình “Điều trị thay thế nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc Methadone” tại thành phố Hồ Chí Minh
và Hải Phòng, giai đoạn 2009-2011.
Có hiệu quả rõ rệt về giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp ở
những người tham gia điều trị Methadone: tỷ lệ sử dụng ma túy giảm
từ 100% trước khi điều trị xuống còn 17,2% sau 12 tháng và còn
12,4% sau 24 tháng điều trị (CSHQ: 84,2% và 87,4%; p<0,001).
Hiệu quả về thay đổi hành vi có lợi để dự phòng lây nhiễm
HIV được cải thiện tốt hơn: Tỷ lệ bệnh nhân TCMT giảm từ 83,2%
ban đầu xuống còn 8,2% sau 12 tháng điều trị và 6,7% sau 24 tháng;
tỷ lệ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với gái bán dâm tăng từ
86,2% lên 100% sau 12 tháng và duy trì đến 24 tháng.
23
Có hiệu quả rõ rệt của điều trị Methadone trong phòng lây
nhiễm 3 căn bệnh truyền nhiễm là HIV, viêm gan B và viêm gan C:
không có sự khác biệt (p>0,05) về tỷ lệ nhiễm HIV trước điều trị so
với sau điều trị 12 tháng và sau 24 tháng; tỷ lệ mắc bệnh viêm gan B
và viêm gan C mặc dù có tăng nhẹ với tỷ lệ tăng tương ứng sau 12
tháng (0,4% và 0,5%) và sau 24 tháng (0,8% và 2,4%) nhưng cũng
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Điều trị Methadone làm giảm các phạm pháp trong gia đình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status