BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH LÁNG HẠ
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN MỸ MAI
MÃ SINH VIÊN : A16408
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
được trích dẫn từ nguồn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam –
Chi nhánh Láng Hạ.
Sinh viên Trần Mỹ MaiLỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô Trường Đại học
Thăng Long, đặc biệt là các thầy cô Khoa Kinh tế Quản lý đã dìu dắt và truyền đạt
những kiến thức bổ ích cho em trong suốt những năm học vừa qua. Với những kiến
thức mà thầy cô đã truyền đạt cùng với sự chỉ bảo tận tình đã giúp em rất nhiều trong
quá trình học tập cũng như trong công việc sau này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Ths.Phạm Thị Bảo Oanh. Với những
lời khuyên, sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của cô đã giúp em rất nhiều trong quá trình
thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo cùng tập thể các anh chị cán bộ
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ đã
giúp đỡ tận tình cho em trong suốt quá trình thực tập, tạo điều kiện cho em tiếp cận
được những công việc thực tế và hoàn thành tốt bài khóa luận.
Do còn nhiều hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên bài khóa
luận còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của các
Quý Thầy Cô để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Sau cùng em xin kính chúc Quý Thầy Cô trường Đại học Thăng Long và các anh
chị, cán bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh
Láng Hạ luôn dồi dào sức khỏe và công tác tốt.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
thôn Việt Nam nói chung là những đơn vị tiên phong trong CVTD tại Việt Nam và qua
đó đã đạt được những thành công nhất định. Tuy vậy, với số lượng dày đặc các ngân
hàng cạnh tranh như hiện nay đã khiến CVTD gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, ngân hàng
cần phải có những giải pháp đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả CVTD, nỗ lực hơn để trở
thành kênh kết nối hiệu quả giữa nguồn vốn huy động được với nhu cầu bị giới hạn
bởi khả năng thanh toán, từ đó tạo ra lợi nhuận cho chính ngân hàng, đồng thời cũng
giúp cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Sau một thời gian thực tập tại NNVPTNTVN - CNLH, tìm hiểu về thực trạng
hoạt động CVTD của chi nhánh, em đã chọn: “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay
tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi
nhánh Láng Hạ” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Khóa luận tập trung nghiên cứu làm rõ ba mục tiêu sau:
Hệ thống hóa lại cơ sở lý luận về CVTD và hiệu quả CVTD của NHTM.
Phân tích đánh giá thực trạng CVTD và hiệu quả CVTD của Ngân hàng
NNVPTNTVN – CNLH. Từ đó, tìm ra được những hạn chế còn tồn tại và nguyên
nhân của hạn chế.
Từ cơ sở trên đề tài tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CVTD tại
Ngân hàng NNVPTNTVN – CNLH.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: CVTD đối với khách hàng cá nhân và hộ gia đình của
ngân hàng thương mại.
Phạm vi nghiên cứu: CVTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn – Chi nhánh Láng Hạ giai đoạn năm 2011- 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, khóa luận sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu, trong đó tập trung vào các phương pháp nghiên cứu như sau:
1.1.8. Phân loại cho vay tiêu dùng 16
1.2. Hiệu quả cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 19
1.2.1. Khái niệm hiệu quả cho vay tiêu dùng 19
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng 20
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng 22
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay tiêu dùng 28
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI
NHÁNH LÁNG HẠ 36
2.1. Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam –
Chi nhánh Láng Hạ 36
2.2. Thực trạng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ giai đoạn 2011 - 2013 37
2.2.1. Cơ sở pháp lý và điều kiện cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ 37
2.2.2. Quy trình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ 39
2.2.3. Sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ 41
2.2.3. Tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ giai đoạn 2011 – 2013 46
3.2.7. Nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng 79
3.2.8. Hoàn thiện công tác thẩm định trước khi cho vay 80
3.2.9. Nâng cao quản lý chi phí trong hoạt động cho vay tiêu dùng 82
3.2.10. Hiện đại hóa các trang thiết bị, công nghệ trong ngân hàng 83
3.3. Một số kiến nghị 83
3.3.1. Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước 83
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 85
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
CBTD
Cán bộ tín dụng
CP
Cổ phần
CVTD
Cho vay tiêu dùng
DSCV
Doanh số cho vay
DSTN
Doanh số thu nợ
GTCG
Việt Nam Đồng DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Tình hình doanh số cho vay tiêu dùng của NHNN&PTNT VN – CNLH qua
các năm 2011 – 2013 47
Bảng 2.2. Tình hình doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng của NHNN&PTNT VN –
CNLH qua các năm 2011 – 2013 48
Bảng 2.3. Dư nợ cho vay tiêu dùng theo thời hạn các năm 2011 – 2013 50
Bảng 2.4. Dư nợ CVTD theo sản phẩm CVTD qua các năm 2011 – 2013 52
Bảng 2.5. Số lượng khách hàng vay tiêu dùng tại NHNN&PTNT VN - CNLH trong
các năm 2011 – 2013 56
Bảng 2.6. Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu trong tổng dư nợ CVTD trong các năm
2011 – 2013 60
Bảng 2.7. Vòng quay vốn tín dụng CVTD trong các năm 2011 – 2013 61
Sơ đồ 1.1. Quy trình cho vay tiêu dùng gián tiếp 18
Sơ đồ 1.2. Quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp 19
Sơ đồ 2.1. Quy trình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam - Chi nhánh Láng Hạ 40
Biểu đồ 2.1. Dư nợ cho vay tiêu dùng của NHNN&PTNT VN – CNLH qua các năm
2011 – 2013 49
Biểu đồ 2.2. Dư nợ CVTD theo mức độ tín nhiệm qua các năm 2011 - 2013 54
Biểu đồ 2.3. Hệ số thu nợ cho vay tiêu dùng của NHNN&PTNT VN – CNLH qua các
năm 2011 – 2013 58
Biểu đồ 2.4. Thu nhập từ hoạt động CVTD qua các năm 2011 - 2013 63
2
Trong thời buổi hội nhập toàn cầu, con người có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền
công nghệ hiện đại, văn minh tiên tiến trên thế giới. Mọi người hướng tới cuộc sống có
chất lượng cao với những nhu cầu như mua nhà, tiện nghi sinh hoạt, phương tiện vận
chuyển, y tế, du học,… Nắm bắt được xu hướng này của thị trường, các NHTM đưa ra
dịch vụ CVTD. CVTD là một sản phẩm của cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu của khách
hàng là cá nhân và hộ gia đình. Chủ yếu, CVTD được coi là khoản tiền vay cấp cho
3
các hộ gia đình để cho dùng cho các mục đích không kinh doanh. CVTD có đối tượng
khách hàng vay vốn cũng như mục đích sử dụng vốn rất đa dạng. Vì vậy, đây là hình
thức cho vay với các sản phẩm dịch vụ phong phú từ quy mô đến thời hạn cho vay.
Từ đó, CVTD là một hoạt động của cho vay. Trong đó, ngân hàng tài trợ cho nhu
cầu vay vốn tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình. Vậy, cho vay tiêu dùng là việc
ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền theo thỏa thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian nhất định để sử
dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống của khách
hàng. Những khoản chi giá trị lớn, cần tích góp lâu dài vượt quá điều kiện tài chính
của khách hàng. CVTD cho phép khách hàng được sử dụng trước khả năng mua hàng
hóa của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trước
khi họ có khả năng chi trả. Do đó, ngoài việc nâng cao mức sống về mặt vật chất,
CVTD còn gián tiếp kích thích sản xuất và phát triển kinh tế.
1.1.2. Đặc điểm và vai trò cho vay tiêu dùng
1.1.2.1. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Quy mô của từng các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn
Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng của CVTD là các cá nhân và hộ gia đình.
Họ tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng có nhu cầu vốn không lớn, thường
vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mua sắm khi đã có một khoản tích lũy từ trước
(ngân hàng không cho vay 100% nhu cầu vốn). Vì vậy, các khoản CVTD thường có
quy mô nhỏ so với tài sản của ngân hàng, nhưng số lượng khoản vay rất lớn do nhu
dạng về mẫu mã, chủng loại cũng như nâng cao được chất lượng sản phẩm, từ đó
khuyến khích được nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Nếu thu nhập của người dân không
đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, họ sẽ phát sinh nhu cầu xin vay của các ngân hàng vì
tin tưởng vào dấu hiệu lạc quan của nền kinh tế, chắc chắn sẽ hoàn trả được khoản vay
trong tương lai. Các ngân hàng cũng sẽ mở rộng quy mô cho vay nên CVTD sẽ phát
triển khi nền kinh tế tăng trưởng.
Nhu cầu đối với các khoản vay tiêu dùng của khách hàng ít co giãn với lãi suất
Khách hàng vay tiêu dùng thường quan tâm đến những tiện ích và giá trị mà vay
tiêu dùng đem lại nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hơn là chi phí phải trả để có khoản
vay đó. Mặc khác, số lượng khoản vay nhỏ, số tiền gốc và lãi khách hàng thanh toán
theo định kỳ, vì vậy số tiền trả định kì không quá lớn, không gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến thu nhập của khách hàng.
Nguồn trả nợ từ thu nhập của người vay
Nguồn trả nợ của khách hàng thường được trích từ thu nhập. Vì vậy, việc kiểm
soát các nguồn trả nợ này gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, nguồn trả nợ của người vay
có thể biến động, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, tài năng, và sức khỏe của từng
người. Nếu người vay bị chết, ốm, mất việc,… ngân hàng rất khó thu lại nợ. Để hạn
chế rủi ro, hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng đều phải có tài sản đảm bảo.
Thường phải có tài sản đảm bảo
Nghiệp vụ tín dụng nói chung và CVTD nói riêng là một trong những hoạt động
chủ yếu đem lại nguồn lợi nhuận cho các NHTM. Việc CVTD được dựa trên cơ sở
lòng tin, sự uy tín của khách hàng. Thế nhưng chất lượng các thông tin tài chính của
khách hàng thường không cao đã gây không ít trở ngại cho ngân hàng khi thực hiện
quy trình CVTD. Hiện tượng thông tin bất cân xứng là một tất yếu, khó tránh khỏi
trong các giao dịch kinh tế và hiển nhiên có ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động cho
5
vay tại các NHTM. Do đó, để hạn chế một phần ảnh hưởng của hiện tượng thông tin
bất cân xứng, một phương pháp cổ điển đang được áp dụng là: Tài sản đảm bảo.
còn mang lại cho người tiêu dùng cách tiếp cận với cuộc sống mới đầy tiện nghi hơn.
6
(2) Đối với bản thân người tiêu dùng
Giúp người đân được hưởng chất lượng cuộc sống cao hơn trước khi khả
năng có thể tự đáp ứng
Người tiêu dùng có thể hưởng lợi ích trực tiếp của dịch vụ ngân hàng, được
hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn là điều đó rất
cần thiết cho những trường hợp chi tiêu bức thiết (thường là y tế và giáo dục). Hiện
nay, CVTD không chỉ đáp ứng nhu cầu bức thiết mà nó còn là một cách thức hỗ trợ để
người tiêu dùng có thể nâng cao mức sống. Đối với thế hệ trẻ và người thu nhập thấp,
CVTD giúp họ có được cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, giúp họ có thể mua một
căn nhà khang trang, phương tiện đi lại, những đồ dùng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu
trong cuộc sống như: Tivi, tủ lạnh, điều hòa, máy giặt…, tạo cho họ động lực để làm
việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái. Hay đối với những hộ dân có mức sống cao hơn,
CVTD giúp họ có một căn hộ đẹp, đầy đủ tiện nghi, nội thất sang trọng, trang thiết bị
hiện đại, bắt mắt…Tuy nhiên, nếu lạm dụng CVTD rất tai hại vì có thể làm cho người
đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc khó khăn chi
tiêu trong tương lai.
Kích thích người lao động đạt hiệu quả công việc cao hơn
Cuộc sống của con người không ngừng được nâng cao làm cho nhu cầu của con
người về tiêu dùng hàng hóa không dừng lại ở những mặt hàng đơn giản, mà họ còn
muốn những thứ giá trị hơn thế nữa. Như ở trên đã nói, khi CVTD đã đáp ứng được
những nhu cầu về nguồn tài chính của họ. thì lúc này sẽ kích thích người lao động đạt
hiệu quả công việc cao hơn để cho, tạo động lực để họ làm việc,
(3) Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp quay vòng vốn nhanh chóng
trọng, đây là một trong những hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của
quốc gia. Do đó, thông qua hoạt động CVTD, sản xuất và lưu thông hàng hoá sẽ tốt
hơn. Từ đó, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động, phát triển chuyên môn hoá,
tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất, tạo điều kiện
cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ sản suất, mở rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển. Nhờ đó, số lượng lao động có việc làm tăng lên, giảm tỷ lệ
thất nghiệp, tăng mức thu nhập cho người lao động. Thu nhập cao hơn thì đời sống của
người dân ngày càng được cải thiện giúp nhà nước đạt được các mục tiêu ổn định xã
hội, giảm thất nghiệp, cải thiện đời sống cho người dân. Ngoài ra, còn làm cho quá
trình giao lưu kinh tế văn hoá giữa các địa phương, các vùng, các nước ngày càng phát
triển, đời sống tinh thần được nâng cao, phong phú và đa dạng, tạo điều kiện cho sự
phát triển tự do độc lập của cá nhân.
1.1.3. Đối tượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Phân theo thu nhập
Nhóm người thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này thường hạn
chế do nguồn thu nhập không đủ để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của họ. Tuy nhiên, họ
cũng có nhu cầu chi tiêu không khác mấy so với nhóm có thu nhập cao hơn. Do đó,
nếu có phương pháp phù hợp thì cũng có thể hình thành các khoản vay hợp lý tới
nhóm đối tượng này.
8
Nhóm người có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này có
xu hướng tăng trưởng ngày càng mạnh bởi khoản tích lũy của nhóm này tuy ít song
thu nhập trong tương lai của họ ổn định và có thể chi trả cho những nhu cầu hiện tại.
Nhóm người có thu nhập cao: Nhóm người này thường cần tới những khoản
vay với tư cách là các khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm các khoản thanh toán đặc
biệt khi tiền của họ đã đầu tư vào các khoản đầu tư dài hạn. Mặc dù việc vay mượn
nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ thể hiện một tỷ trọng nhỏ nhưng lại là một món
tiền lớn so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng rất quan tâm tới nhóm
gửi.
Bên cạnh đó, tiền lãi là thu nhập của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng trang trải
các chi phí trong hoạt động kinh doanh của mình và đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận cho chủ
ngân hàng. Vì vậy, yêu cầu khách hàng phải hoàn trả lãi để ngân hàng tồn tại và phát
triển.
1.1.4.2. Điều kiện cho vay tiêu dùng
Điều kiện CVTD là những yêu cầu của ngân hàng đối với bên đi vay để làm căn
cứ xem xét, quyết định thiết lập quan hệ tín dụng. Nội dung của điều kiện cho vay
cũng làm cơ sở cho việc xử lý các tính huống phát sinh trong quá trình sử dụng tiền
vay. Các khách hàng muốn được vay vốn ngân hàng phải có các điều kiện cơ bản sau:
Một là điều kiện về tư cách pháp lý
Do quan hệ vay mượn giữa khách hàng với ngân hàng là quan hệ được pháp luật
bảo hộ nên mối quan hệ này phải được xây dựng trên cơ sở luật pháp. Đây là lý do nhà
nước luôn luôn yêu cầu trong CVTD, khách hàng phải có đầy đủ năng lực pháp lý theo
quy định của pháp luật. Do đó, mỗi cá nhân, đại diện hộ gia đình phải có năng lực
pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Tư cách pháp lý cũng chính là địa vị pháp lý thể
hiện vị trí, vai trò của mỗi cái nhân, đại diện hộ gia đình đó trong quan hệ pháp luật và
đi liền với nó là quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh. Tư cách
pháp lý là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người và cũng là điểm
xuất phát để gỡ rối tranh chấp trong tố tụng. Do đó, khách hàng vay vốn tiêu dùng của
ngân hàng phải có đầy đủ pháp lý theo quy định của pháp luật.
Hai là mục đích sử dụng vốn hợp pháp
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, có thể nói hoạt động cho vay là hoạt
động kinh doanh chính. Ngân hàng căn cứ các quy định về cho vay của Ngân hàng
Nhà nước và các quy định pháp luật khác có liên quan để thực hiện CVTD. Khách
hàng đến vay tại ngân hàng phải đáp ứng đủ các điều kiện cho vay, ký hợp đồng tín
dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay (nếu có) thì ngân hàng mới giải ngân đồng thời ngân
hàng thực hiện giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay theo quy định. Tuy nhiên,
không phải khách hàng nào cũng thực hiện đúng cam kết với ngân hàng, sử dụng vốn
vay đúng mục đích. Nhiều khách hàng, khi được ngân hàng giải ngân đã dùng số tiền
khách hàng thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng trong quan
hệ vay vốn. Khách hàng phải thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo qui
định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam. Trong trường hợp khách
hàng không hoàn trả được khoản vay, đảm bảo tiền vay cung cấp nguồn thanh toán
cho ngân hàng. Đây là công cụ đảm bảo trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ
của khách hàng trong quan hệ vay vốn, góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động
CVTD của ngân hàng. Tùy từng trường hợp cụ thể mà ngân hàng và khách hàng có thể
thỏa thuận áp dụng một số biện pháp bảo đảm như: Biện pháp cầm cố, thế chấp bằng
tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, bảo đảm bằng tài sản
của hình thành từ vốn vay và tín chấp. Vì vậy, ngân hàng nhiều cơ hội hơn để cho vay
có bảo đảm bằng tài sản và khách hàng cũng thuận lợi hơn trong quá trình vay vốn
ngân hàng trên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản.
1.1.5. Phương thức cho vay tiêu dùng
Rất nhiều phương thức cho vay được NHTM đưa ra nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho khách hàng. Dựa vào như cầu vay của khách hàng, mức độ tín nhiệm của ngân
11
hàng đối với khách hàng, hai bên thỏa thuận để để lựa chọn một phương thức cho vay
trong số các phương thức cho vay sau:
(1) CVTD trực tiếp
CVTD trực tiếp là các khoản CVTD trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc, cho
vay và thu nợ từ chính khách hàng đó.
Các phương thức CVTD trực tiếp gồm:
Cho vay trả theo định kỳ: là phương thức trong đó khách hàng vay vốn và trả trực
tiếp cho ngân hàng với mức trả và thời gian trả mỗi lần được quy định khi cho vay.
Thấu chi: là nghiệp vụ cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng lai của
mình vượt quá số dư Có tới một hạn mức được thỏa thuận.
Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho những người có
tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ, ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà
29/12/1999, do Thủ tướng Phan Văn Khải ban hành về việc bảo đảm tiền vay của các
tổ chức tín dụng thì: “Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ
chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm
thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng
vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba”. Trong đó, “thế chấp vay vốn ngân
hàng là việc bên vay vốn (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản bất động sản thuộc sở hữu
của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm nợ gốc, lãi và tiền phạt nếu
có) đối với bên cho vay (gọi là bên thế chấp)” và “cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng
là việc bên vay vốn (bên cầm cố) giao tài sản là động sản thuộc sở hữu hợp pháp của
mình (tài sản cầm cố) cho ngân hàng (bên nhận cầm cố) để đảm bảo cho khoản nợ vay
(bao gồm: gốc, lãi và tiền phạt nếu có”.
Bên cạnh biện pháp cầm cố và thế chấp tài sản, cho vay có đảm bảo bằng tài sản
còn có hình thức đảm bảo tiền vay là bảo lãnh. Trong đó, theo điều khoản 2 trên 6 nghị
định 178/1999/NĐ – CP ban hành ngày 29/12/1999 “Bảo lãnh bằng tài sản của bên
thứ ba là việc bên thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) cam kết với tổ chức tín dụng cho vay về
việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho
khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ”.
(2) Biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm
bằng tài sản.
Cho vay không có tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ hay còn gọi là tín chấp.
Trong đó, ngân hàng cho khách hàng vay chỉ dựa trên cơ sở uy tín của khách hàng.
Ngân hàng áp dụng hình thức tín chấp vào những khách hàng có uy tín cao, khả năng
trả nợ tốt cho ngân hàng.
1.1.7. Qui trình cho vay tiêu dùng
Qui trình cho vay là tổng hợp các công việc cụ thể mà cán bộ tín dụng và các
phòng ban có liên quan trong ngân hàng phải thực hiện khi cấp vốn cho khách hàng.
Để chuẩn hóa quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu hồi nợ, mỗi NHTM thường
xây dựng cho mình một qui trình cho vay. Giữa các ngân hàng, quy trình ấy có thể có
sự khác biệt, tùy thuộc vào đặc điểm và khả năng tổ chức quản lý của ngân hàng, tuy
tờ cần thiết để cho vay. Các loại giấy tờ theo quy định là bản chính thì phải lấy bản
chính. Các loại giấy tờ theo quy định là bản sao công chứng thì phải lấy bản sao công
chứng. Các loại giấy tờ theo quy định chỉ cần bản sao thì phải đối chiếu với bản gốc và
CBTD xác nhận là đã đối chiếu. Sau khi kiểm tra, nếu hồ sơ của khách hàng chưa đầy
đủ, CBTD yêu cầu khách hàng hoàn thiện tiếp nhận hồ sơ.
Bước 2: Thu thập thông tin tín dụng
Tùy theo mục đích vay tiêu dùng của khách hàng, CBTD phải thu thập, phân tích
và chọn lọc thông tin của khách hàng càng nhiều, càng chi tiết càng tốt để làm cơ sở
đánh giá chấm điểm xếp hạng khách hàng và thẩm định cho vay.
14
Nguồn thu thập thông tin thường sử dụng nguồn cơ bản sau:
Từ khách hàng vay.
Từ những người khác có liên quan tới khách hàng: từ cha, mẹ, vợ, chồng, hàng
xóm,…
Từ cấp chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức đoàn thể, các ngân hàng
đã có quan hệ tín dụng với khách hàng, từ trung tâm phòng ngừa rủi ro tín dụng,…
Từ các phương tiện thông tin đại chúng.
Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp khách hàng, những người có quan hệ với
khách hàng (mục đích phỏng vấn là thu thập và kiểm tra thông tin).
Phương pháp gián tiếp là phân tích, so sánh và tổng hợp các thông tin đã có từ
sổ sách kế toán, trao đổi mua thông tin từ các cơ quan chức năng; từ trung tâm
phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Bước 3: Thẩm định tín dụng
Đây là khâu quan trọng trong quá trình CVTD, quyết định đến chất lượng tín
dụng. CBTD thẩm định sai sẽ đưa ra quyết định sai. Quá trình thẩm định bao gồm:
Thẩm định năng lực pháp lý, uy tín của khách hàng
Năng lực pháp lý là cơ sở để khách hàng có khả năng tham gia vào quan hệ tín
Bước 4: Xét duyệt và quyết định cho vay
Sau quá trình thẩm định, CBTD thông báo với cấp trên để xét duyệt, đưa ra
quyết định cho vay. Sau khi đã quyết định, ngân hàng phải lập văn bản thông báo
cho khách hàng biết rõ nội dung (nếu không cho vay thì phải ghi chi tiết lý do).
Bước 5: Hoàn tất thủ tục pháp lý và tiến hành giải ngân
Sau khi xét duyệt và quyết định cho vay, ngân hàng và khách hàng tiến hành
kí kết hợp đồng tín dụng. Các yếu tố chủ yếu của một hợp đồng tín dụng là:
Khách hàng: họ tên, địa chỉ, tư cách pháp nhân (nếu có).
Mục đích sử dụng: khách hàng phải ghi rõ khoản vay được sử dụng để làm gì.
Số tiền hoặc hạn mức tín dụng mà ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng.
Lãi suất áp dụng: mức lãi suất mà khách hàng phải trả, lãi suất cố định hay
thay đổi, các điểu kiện thay đổi lãi suất.
Mức phí để có được cam kết tín dụng từ ngân hàng, tính theo tỷ lệ phần trăm
trên hạn mức cam kết.
Thời hạn cho vay: là thời hạn mà trong đó ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng, tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn
và lãi cuối cùng được ngân hàng thu về.
Các loại đảm bảo: các nội dung như định giá, bảo hiểm, quyền sở hữu, quyền
chuyền nhượng hoặc bán, quyền sử dụng các đảm bảo… đều phải được quy định
rõ trong hợp đồng.
Điều kiện và kỳ hạn giải ngân.
Cách thức, thời điểm thanh toán gốc và lãi.
Các điều kiện khác: kiểm soát vật thế chấp, kiểm soát hoạt động kinh doanh
của người vay, điều kiện phát mại tài sản, phạt vi phạm hợp đồng…
Sau khi kí kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng tiến hành giải ngân cho khách hàng.
16
Bước 6: Kiểm tra trong quá trình cho vay
Sau khi giải ngân cho khách hàng, ngân hàng phải kiểm soát xem khách hàng có
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang
trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí cho học hành, giải trí, du
lịch… Trong đó, bao gồm: