Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
1
Lời nói đầu
Quản lý kinh tế nói chung và quản lý kinh tế doanh nghiệp nói riêng trong
nền kinh tế thị trờng với sự tồn tại và điều tiết của những quy luật kinh tế khách
quan nh: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, giá cả đòi hỏi phải cung cấp
những thông tin một cách kịp thời, chính xác và toàn diện về tình hình thực hiện
các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, tình hình quản lý và sử dụng lao động, vật t,
tiền vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh, làm cơ sở đề ra các chủ trơng,
chính sách và biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Để đạt đợc mục đích trên, đòi hỏi chủ doanh nghiệp và các cán bộ quản
lý doanh nghiệp cần phải nhận thức và áp dụng các phơng pháp quản lý hữu
hiệu trong đó có phân tích hoạt động kinh tế. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động
kinh tế rất phức tạp và mang tính đặc thù. Nó liên quan và tác động đến rất nhiều
ngành kinh tế kỹ thuật. Đồng thời nó cũng chịu sự tác động và ảnh hởng của
nhiều ngành, nhiều yếu tố thuộc môi trờng kinh doanh. Phạm vi hoạt động của
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu rất rộng rãi. Do vậy nó chịu sự cạnh tranh gay
gắt của thị trờng quốc tế trong quan hệ buôn bán. Để có thể tồn tại và phát
triển, kinh doanh có lãi trong cơ chế thị trờng, đòi hỏi các nhà kinh doanh phải
nhận thức tầm quan trọng và thực hiện thờng xuyên phân tích các hoạt động
kinh tế. chính vì vai trò quan trọng của hoạt động phân tích mà em đã chọn đề
tài: Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu để
làm luận văn tốt nghiệp.
Qua một thời gian thực tập tại công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội,
em đã đợc tìm hiểu về chức năng, đặc điểm, nhiệm vụ của công ty, tình hình
thực hiện công tác phân tích hoạt động kinh tế tại công ty, em đã sử dụng những
lý thuyết đã đợc học ở trờng kết hợp với thực tế để viết bản luận văn này. Luận
văn gồm 3 chơng:
Chơng I: Những vần đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu và phân
tích hoạt động xuất khẩu.
+ Hàng hoá do các chuyên gia, ngời lao động, học sinh, ngời du lịch
mang ra khỏi nớc ta.
+ Những hàng hoá là quà biếu, đồ dùng khác của dân c thờng trú nớc
ta gửi cho thân nhân, các tổ chức, huặc ngời nớc ngoài khác.
+ Những hàng hoá là viện trợ, giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức và dân
c thờng trú nớc ta gửi cho chính phủ, các tổ chức, dân c nớc ngoài.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
3
1.2 / Hiệu quả xuất khẩu
Trong điều kiện nớc ta hiện nay, kinh tế đối ngoại có vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy Đảng và nhà nớc luôn coi trọng
lĩnh vực này và nhấn mạnh nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế cũng nh sự
phát triển của khoa học kỹ thuật và công ngiệp hoá của nớc ta tiến hành nhanh
hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại. Đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xuất khẩu
là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nền kinh tế nói chung và cuả mỗi doanh
nghiệp nói riêng.
Hiệu quả hoạt động xuất khẩu chủ yếu đợc thẩm định bởi thị trờng, là
phơng hớng cơ bản để xác định phơng hớng hoạt động xuất khẩu. Tuy vậy
hiệu quả đó là gì? nh thế nào là có hiệu quả? Không phải là vấn đề đã đợc
thống nhất. Không thể đánh giá đợc mức độ đạt đợc hiệu quả kinh tế của hoạt
động xuất khẩu khi mà bản thân phạm trù này cha đợc định rõ bản chất và
những biểu hiện của nó. Vì vậy, hiểu đúng bản chất của hiệu quả kinh tế xuất
khẩu cũng nh mục tiêu đảm bảo hiệu quả kinh tế xuất khẩu của mỗi thời kỳ là
vấn đề có ý nghĩa thiết thực không những về lý luận thống nhất quan niệm về
bản chất của hiệu quả kinh tế xuất khẩu mà còn là cơ sở để xác định các tiêu
chuẩn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xuất khẩu, xác định yêu cầu đối với
việc đề ra mục tiêu và biện pháp nâng cao hiệu của kinh tế ngoại thơng.
tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu chỉ là những chỉ tiêu thể hiện kết quả của hoạt
động xuất khẩu chứ không thể coi là hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu
đợc, nó cha thể hiện kết quả đó đợc tạo ra với chi phí nào
Nếu chỉ dừng lại ở đó thì còn rất trìu tợng và cha chính xác. Điều cốt lõi
là chi phí cái gì, bao nhiêu và kết quả đợc thể hiện nh thế nào. Trong hoạt
động xuất khẩu, kết quả đầu ra thể hiện bằng số ngoại tệ thu đợc do xuất khẩu
đem lại và chi phí đầu vào là toàn bộ chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra nhng có
liên quan đến hoạt động xuất khẩu bao gồm chi phí mua huặc chi phí sản xuất
gia công hàng xuất khẩu, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, chi phí sơ chế,
tái chế hàng xuất khẩu và những chi phí trực tiếp huặc gián tiếp khác gắn với hợp
Hiệu quả kinh tế
=
Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
5
đồng xuất khẩu. Từ những nhận xét trên ta có công thức tính hiệu quả xuất khẩu
nh sau:
2/ Các phơng thức kinh doanh xuất khẩu
* Phơng thức kinh doanh xuất khẩu trực tiếp:
Xuất khẩu trực tiếp là phơng thức kinh doanh mà trong đó, đơn vị tham
gia hoạt động xuất khẩu có thể trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng với nớc
ngoài; trực tiếp giao nhận hàng và thanh toán tiền hàng. Các doanh nghiệp tiến
hành xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở tự cân đối về tài chính, có quyền tìm kiếm
luật kinh doanh trong nớc, luật kinh doanh của bên đối tác và luật buôn bán
quốc tế.
Theo phơng thức kinh doanh xuất khẩu uỷ thác, doanh nghiệp giao uỷ
thác giữ vai trò là ngời sử dụng dịch vụ, còn doanh nghiệp nhận uỷ thác lại giữ
vai trò là ngời cung cấp dịch vụ, hởng hoa hồng theo sự thoả thuận giữa hai
bên ký trong hợp đồng uỷ thác.
* Xuất khẩu theo hiệp định:
Bộ phận hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu theo hiệp định của nhà nớc ký
kết với nớc ngoài. Các doanh nghiệp thay mặt nhà nớc ký các hợp đồng cụ thể
và thực hiện các hợp đồng đó với nớc bạn.
*Xuất khẩu ngoài hiệp định:
Bộ phận hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu không nằm trong hiệp định của
nhà nớc phân bổ cho doanh nghiệp.
3/ Đặc điểm hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có các đặc điểm sau:
Thời gian lu chuyển hàng hoá xuất khẩu:
Thời gian lu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao
giờ cũng dài hơn so với thời gian lu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh
doanh nội địa do khoảng cách địa lý cũng nh các thủ tục phức tạp để xuất khẩu
hàng hoá. Do đó, để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu, ngời ta
chỉ xác định khi hàng hoá đã luân chuyển đợc một vòng hay khi đã thực hiện
xong một thơng vụ ngoại thơng.
Hàng hoá kinh doanh xuất khẩu:
Hàng hoá kinh doanh xuất khẩu bao gồm nhiều loại, trong đó xuất khẩu
chủ yếu những mặt hàng thuộc thế mạnh trong nớc nh: rau quả tơi, hàng mây
tre đan, hàng thủ công mỹ nghệ
Thời điểm giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán:
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
chỉ có xuất khẩu hàng hoá là nguồn thu ngoại tệ lớn của đất nớc, nguồn thu này
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
8
dùng để nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại phục vụ công nghiệp hóa và trang
trải những chi phí cần thiết khác cho quá trình này, xuất khẩu không những nâng
cao đợc uy tín xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nớc mà còn phản ánh
năng lực sản xuất hiện đại của chính nớc đó.
Trong tơng lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhng mọi cơ hội đầu
t, vay nợ của nớc ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu t
và ngời cho vay thấy đợc khả năng xuất khẩu nguồn vốn duy nhất để trả nợ
trở thành hiện thực. Điều này càng nói lên vai trò vô cùng quan trọng của
xuất khẩu.
2/ Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản
xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng
mạnh mẽ. Đó chính là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình Công Nghiệp Hoá phù hợp với
xu hớng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nớc ta. Có hai cách
nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.
Một là: Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ sản phẩm thừa do sản xuất vợt quá
tiêu dùng nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế nớc ta còn quá lạc hậu và chậm
phát triển nh nớc ta, sản xuất về cơ bản cha đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động
chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trởng
chậm chạp, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm.
Hai là: Coi thị trờng đặc biệt là thị trờng thế giới là hớng quan trọng để
tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều này muốn nói đến xuất khẩu
là điều kiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ bên ngoài vào Việt
Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nớc, tạo ra năng lực sản xuất mới.
Xuất khẩu chính là việc hàng hoá đợc tiêu dùng ở nớc ngoài, chịu sự
cạnh tranh về giá cả, chất lợng.
Doanh nghiệp muốn có một chỗ đứng trên thị trờng thì phải có kế hoạch
sản xuất kinh doanh sao cho có thể tận dụng hết mọi năng lực sản xuất hiện có
để tạo ra những sản phẩm có chất lợng tốt đáp ứng đợc đòi hỏi của ngời tiêu
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
10
dùng về tính năng công dụng của sản phẩm càng nhiều càng tốt nhng lại phải
có mức giá cả hợp lý để vừa có thể cạnh tranh về giá với các doanh nghiệp khác
vừa mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp
luôn cố gắng để sản xuất có hiệu quả tăng cờng đổi mới và hoàn thiện công
việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trờng.
Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả cũng có nghĩa là nền kinh tế cũng ngày
một đi lên, nh vậy xuất khẩu không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà
còn làm cho nền kinh tế ngày một phát triển và ổn định.
3/ Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của ngời dân.
Hiện nay việc hàng trăm triệu ngời lao động đang đổ xô về thành phố
kiếm việc làm đã gây ra nhiều vấn đề xã hội và làm cho sự quản lý của nhà nớc
thêm khó khăn. Nó cũng chứng tỏ ngời dân đặc biệt là những ngời dân ở các
vùng nông thôn đang thiếu việc làm một cách trầm trọng. Xuất khẩu đã giải
quyết đợc vấn đề công ăn việc làm cho ngời lao động, tạo thu nhập và cải
thiện đời sống của dân c. Đồng thời xuất khẩu cũng đóng góp vào ngân sách
quốc gia một nguồn vốn ngoại tệ đáng kể. Đây là nguồn vốn dùng để nhập khẩu
hoá thì sự cạnh tranh còn gay gắt hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong nớc
bởi vì doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng nớc ngoài
không những phải chịu sự cạnh tranh của các doanh nghiệp từ nhiều nơi khác mà
còn phải chịu áp lực từ chính nớc mình xuất khẩu hàng hoá sang lý do là nhiều
khi các nớc đó áp dụng các chính sách quy chế gây cản trở cho các doanh ngiệp
xuất khẩu mục đích là để bảo hộ cho ngành sản xuất trong nớc của họ. Để giúp
cho các chủ doanh nghiệp xuất khẩu luôn nắm bắt đợc tình hình kinh doanh
thực tế cũng nh biết đợc doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả không thì công tác
phân tích tình hình xuất khẩu và hiệu quả xuất khẩu là một việc làm hết sức cần
thiết không chỉ đối với các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực xuất khẩu mà tất
cả các doanh nghiệp đều phải chú trọng tới công tác phân tích. Phân tích tình
hình và hiệu quả xuất khẩu đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp:
+ Việc phân tích tình hình xuất khẩu đợc thực hiện sau mỗi một kỳ
kinh doanh giúp doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch xuất khẩu mà doanh nghiệp đã đề ra ở kỳ kế hoạch.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
12
Để thực hiện các nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi
chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý phải xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch sản
xuất kinh doanh cũng nh các kế hoạch tài chính, kế hoạch lao động, tiền
lơng đó là những mục tiêu cần đạt đợc trong kỳ kế hoạch. Nhng đồng thời
nó cũng là cơ sở để chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Do vậy, để nhận thức và đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ doanh nghiệp cần thiết phải phân tích để thấy
đợc mức độ hoàn thành của các chỉ tiêu kế hoạch về phần trăm và số chênh lệch
tăng giảm.
Việc phân tích này là cần thiết bởi vì thông qua phân tích các nhà quản lý
sẽ thấy đợc doanh nghiệp đã thực hiện kế hoạch đề ra ở mức độ nào, có hoàn
cản trở tiến trình thực hiện xuất khẩu.
Sau mỗi một kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đều đa ra những kế hoạch kinh
doanh cho kỳ tiếp sau, mặc dù đã có sự chuẩn bị trớc nhng trong thực tế không
phải lúc nào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều diễn ra theo kế hoạch đã
định. Thị trờng luôn chứa đựng trong nó những biến động bất thờng, những
biến động này có thể là theo chiều hớng xấu đối với doanh nghiệp cũng có thể
theo chiều hớng thuận lợi cho doanh nghiệp nhng bất kể là xấu hay tốt thì
nhiệm vụ của nhà quản lý doanh nghiệp là phải luôn đa ra các quyết định chỉ
đạo kinh doanh linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế đa doanh nghiệp thoát
khỏi tình trạng khó khăn do thị trờng gây ra cũng nh tận dụng cơ hội kinh
doanh do thị trờng đem lại. Để làm đợc điều này các nhà quản lý phải luôn
nắm chắc tình hình kinh doanh xuất khẩu bằng cách tiến hành phân tích thờng
xuyên, cẩn thận, kỹ lỡng tình hình xuất khẩu từ đó có sự điều chỉnh kế hoạch
xuất khẩu cho phù hợp.
Thị trờng quốc tế luôn biến động hàng ngày hàng giờ nếu không phân tích
một cách toàn diện, thờng xuyên thì không thể đa ra một quyết định tối u
nhất, sáng suốt nhất. Một quyết định sai lầm, xa rời thực tế không giải quyết
đợc yêu cầu đang đặt ra sẽ khiến cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
không đợc liên tục thông suốt, gây tổn thất cho doanh nghiệp. Để có thể đa ra
đợc những chính sách biện pháp và chỉ đạo quản lý một cách hiệu quả thì việc
phân tích rất cần thiết phải đợc tiến hành ngay từ giai đoạn lập kế hoạch đến
khi thực hiện kế hoạch và sau khi kế hoạch đã đợc thực hiện.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
14
+ Phân tích hiệu quả xuất khẩu sẽ cung cấp những thông tin chính xác
về kết quả kinh doanh, các nhân tố ảnh hởng và nguyên nhân ảnh hởng
đến kết qủa kinh doanh, từ đó tìm ra những chính sách biện pháp thích hợp
để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
kinh doanh của doanh nghiệp, tìm ra các nhân tố và nguyên nhân ảnh hởng đến
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó có kế hoạch chỉ đạo cho kỳ kinh
doanh sau để làm sao doanh nghiệp đạt đợc hiệu quả kinh doanh cao hơn nữa.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc nâng cao lợi nhuận,
phát triển mở rộng công việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền đề của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là tối u hoá trong
việc sử dụng các loại nguồn lực. Nguồn lực ở đây đợc hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm các nguồn lực tồn tại dới dạng vật chất cụ thể và không tồn tại dới dạng
vật chất cụ thể. Tối u hoá trong việc sử dụng các loại nguồn lực phải đợc xem
xét trong một tổng thể chung. Để đạt đợc điều này đòi hỏi phải tiến hành phân
tích một cách toàn diện, đầy đủ tổng hợp toàn bộ các mặt có liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp để kịp thời phát hiện các nhân tố tích cực cũng nh tiêu
cực trong kinh doanh làm cơ sở đề ra các quyết định đúng đắn và kịp thời nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Hiểu quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau, nhng cũng cần phải thấy rằng: hoạt động kinh doanh cũng nh các
hoạt động khác nhiều khi cũng gặp những rủi ro làm giảm hiệu qủa kinh doanh
và có khi còn làm cho doanh nghiệp phá sản. Phân tích giúp chủ động đối phó
với các bất trắc có thể xảy ra và tránh các rủi ro.
Không phải ngẫu nhiên mà các doanh nghiệp đều luôn quan tâm đến việc
phân tích hiệu quả kinh doanh và họ cho là phân tích là điều cần thiết. Công việc
này không những đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích mà còn giúp doanh
nghiệp tận dụng đợc những khả năng tiềm tàng mà doanh nghiệp cha sử dụng
hết để thúc đẩy quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận cao
cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động có hiệu quả không
những đem lại nguồn ngoại tệ cho doanh nghiệp mình mà còn góp phần tăng thu
ngoại tệ cho đất nớc, cải thiện cán cân thơng mại, bình ổn tỷ giá hối đoái, góp
phần nâng cao khả năng cạnh tranh cũng nh uy tín của các doanh nghiệp xuất
khẩu trong nớc. Việc phân tích hiệu quả kinh doanh xuất khẩu cần phải đợc
tiến hành trên nhiều mặt, tiến hành một cách toàn diện từ đó mới có đợc những
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Nói tóm lại, phân tích tình hình và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu là một
việc làm hết sức cần thiết trong mỗi doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp nhận
thức và đánh giá đúng đắn tình hình và hiệu quả hoạt động kinh doanh, thấy
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
17
đợc những thành tích, kết quả đã đạt đợc, những mâu thuẫn tồn tại và những
nguyên nhân ảnh hởng để trong kỳ kinh doanh tới phát huy hơn nữa những
thành tích đã đạt đợc, tránh lặp lại những sai lầm và giải quyết mâu thuẫn còn
vớng mắc. Đúc kết đợc những bài học kinh nghiệm, những sáng kiến cải tiến
rút ra từ thực tiễn, kể cả những bài học kinh nghiệm thành công huặc thất bại
làm cơ sở cho việc đề ra những phơng án, kế hoạch kinh doanh trong kỳ tới.
IV. Nguồn tài liệu và phơng pháp phân tích
1.Nguồn tài liệu
Phân tích kinh tế nói chung cũng nh phân tích hoạt động kinh tế nói
riêng có một vai trò rất quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô cũng nh vi mô.
Để quản lý tốt nền kinh tế quốc dân, quản lý một ngành hay quản lý một doanh
nghiệp đòi hỏi các nhà quản lý phải đa ra những chủ trơng chính sách biện
pháp quản lý đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn và quy luật phát triển
khách quan. Muốn vậy đòi hỏi các nhà quản lý các cấp phải thờng xuyên tiến
hành phân tích các hiện tợng kinh tế cũng nh quá trình và kết quả sản xuất
kinh doanh.
Để có thể tiến hành phân tích đòi hỏi phải thu thập một lợng thông tin
cần thiết đầy đủ kịp thời phù hợp với mục đích yêu cầu về nội dung và phạm vi
của đối tợng phân tích. Thông tin dùng trong phân tích hoạt động kinh tế là
những số liệu tài liệu cần thiết làm cơ sở để tính toán và phân tích tình hình và
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó cũng là cơ sở cho
việc đề ra các quyết định tối u trong kinh doanh và quản lý. Các quyết định của
nhà quản lý nếu thiếu sự nghiên cứu, phân tích một cách đầy đủ toàn diện các số
Thông tin trong phân tích hoạt động kinh tế rất phong phú và đa dạng,
trớc khi tiến hành phân tích cần phải kiểm tra lại thông tin, số liệu tài liệu đã
thu thập để đảm bảo tính đúng đắn về mặt nội dung kinh tế, thời điểm địa điểm
phát sinh, phơng pháp ghi chép, tính toán để tránh những sai sót vì sự sai sót về
số liệu dùng trong phân tích sẽ ảnh hởng đến kết quả phân tích. Tuỳ thuộc vào
nội dung và yêu cầu phân tích mà nhà phân tích sẽ lựa chọn thông tin cho thích
hợp.
2. Phơng pháp phân tích
Xuất phát từ nội dung, đối tợng và nhiệm vụ phân tích của doanh nghiệp,
phân tích kinh tế vừa phải sử dụng các phơng pháp nghiên cứu của các môn
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
19
khoa học khác nh thống kê, kế toán, tài chính, quản lý kinh tế vừa có những
phơng pháp nghiên cứu riêng của mình, mỗi phơng pháp đều có những u
nhợc điểm và điều kiện vận dụng nhất định, mang tính nghiệp vụ kỹ thuật cụ
thể, phải tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, bản chất của các hiện tợng kinh
tế, kết quả kinh tế, đối tợng cụ thể, các nguồn tài liệu, số liệu và vào mục đích
phân tích để lựa chọn phơng pháp thích hợp. Sau đây là một số phơng pháp
thờng đợc sử dụng:
2.1/ Phơng pháp so sánh
So sánh là phơng pháp đợc sử dụng phổ biến để đánh giá kết quả, xác
định vị trí và xu hớng biến động của các chỉ tiêu phân tích. Để áp dụng phơng
pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh đợc của các chỉ
tiêu:
+ Thống nhất về nội dung, phơng pháp xác định, thời gian và đơn vị tính
của chỉ tiêu so sánh.
+ Tuỳ theo mục đích phân tích để xác định gốc so sánh. Gốc so sánh có thể
chọn gốc thời gian (kỳ kế hoạch, kỳ trớc, cùng kỳ năm trớc) huặc gốc không
tiêu cá biệt với các chỉ tiêu chung để xác định tỷ trọng của nó trong chỉ tiêu
chung
Để phục vụ cho mục đích cụ thể của phân tích ngời ta thờng tiến hành
so sánh bằng các phơng pháp sau:
* So sánh giản đơn
So sánh giản đơn là phơng pháp so sánh trực tiếp trị số của chỉ tiêu phân
tích giữa hai kỳ (kỳ phân tích và kỳ gốc)
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch (%) =
Mức chênh lệch = Chỉ tiêu thực hiện Chỉ tiêu kế hoạch.
Việc so sánh nh trên sẽ cho biết khối lợng, quy mô mà doanh nghiệp
đạt ở mức độ nào, với tỷ lệ đạt bao nhiêu.
* So sánh có liên hệ:
So sánh có liên hệ là phơng pháp so sánh để xem xét sự biến động của
chỉ tiêu phân tích nhng có liên hệ với tình hình thực hiện của một chỉ tiêu khác
có liên quan.
Chỉ tiêu thực hiện
Chỉ tiêu kế hoạch
ì
100
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
21
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch =
(liên hệ với )
Phơng pháp so sánh còn đợc dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay
Trong đó:
i
T
: tỷ lệ phát triển liên hoàn
T
: tỷ lệ phát triển bình quân
i
T
0
: tỷ lệ phát triển định gốc
i
M
: doanh thu bán hàng kỳ i
1i
M
: doanh thu bán hàng kỳ i -1
0
M
: doanh thu bán hàng kỳ gốc
Phơng pháp so sánh giản đơn đợc sử dụng để phân tích tình hình xuất
khẩu theo thị trờng, theo các đơn vị trực thuộc, theo các phòng kinh doanh và
theo tháng. Thông qua việc so sánh này ta biết đợc các phòng kinh doanh xuất
nhập khẩu có hoàn thành nhiệm vụ xuất khẩu của mình hay không cả về số
tơng đối và số tuyệt đối, phơng pháp so sánh còn đợc sử dụng để theo dõi
tình hình xuất khẩu qua các năm (thờng là 5 năm trở lên) để thấy đợc xu
hớng của xuất khẩu qua các năm là tăng hay giảm.
Nh vậy phơng phơng pháp so sánh đợc sử dụng hầu hết trong các nội
dung phân tích tình hình xuất khẩu. Ngoài phơng pháp so sánh còn có một số
Chỉ tiêu thực hiện
này không đợc sử dụng một mình nó nó còn kết hợp với các phơng pháp khác
nh phơng pháp so sánh, phơng pháp số chênh lệch, tỷ trọng, tỷ suất. Ngoài
ra, trong phân tích hoạt động kinh tế ngời ta còn sử dụng các phơng trình quy
hoạch tuyến tính huặc phơng trình phi tuyến trong trờng hợp các chỉ tiêu phân
tích kinh tế có liên hệ với các chỉ tiêu khác bằng các phơng trình trên. Các kết
quả thu đợc khi sử dụng các hàm hồi quy thông qua ngoại suy chủ yếu phục vụ
cho phân tích dự đoán để lập các chỉ tiêu cho các kế hoạch ngắn và dài hạn.
Nhng khi sử dụng các kết quả đó cần phải lu ý rằng chúng đợc tính toán dựa
trên các hiện tợng và kết quả kinh tế đã xảy ra trong quá khứ và lại đợc sử
dụng cho hiện tại và tơng lai gần, trong đó chúng còn chịu sự tác động của
nhiều yếu tố khác. Do đó, cần phải tính đến sự tác động của các nhân tố đó để
tiến hành điều chỉnh các chỉ tiêu đã đợc lập ra sao cho phù hợp với tình hình
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
23
biến động của thực tế, đảm bảo tính hiện thực, tính khoa học của các chỉ tiêu,
giúp cho công tác quản lý đạt đợc hiệu quả cao nhất. trọng, tỷ suất.
Phơng pháp này đợc dùng để phân tích tình hình xuất khẩu theo các nội
dung nh đã nêu ở phơng pháp so sánh. Đây cũng là một phơng pháp đợc sử
dụng phổ biến giống nh phơng pháp so sánh.
2.3/ Phơng pháp cân đối
Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế tài chính của doanh nghiệp có
nhiều chỉ tiêu có liên hệ với nhau bằng những mối liên hệ mang tính chất cân
đối. Các quan hệ cân đối trong doanh nghiệp có hai loại: cân đối tổng thể và cân
đối cá biệt
Cân đối tổng thể là mối quan hệ cân đối của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Ví dụ: giữa tài sản và nguồn vốn kinh doanh liên hệ với nhau bằng công thức:
Tài sản = Nguồn vốn
Huặc giữa các chỉ tiêu của lu chuyển hàng hoá có mối quan hệ cân đối đợc
khách hàng
trongkỳ
=
Nợ phải thu
khách hàng đã
thu trong kỳ
+
Nợ phải thu
khách hàng
cuối kỳ
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
24
Ví dụ: Khi tính toán phân tích trị giá vốn của hàng xuất bán trong kỳ ta có công
thức sau:
Trị giá
vốn hàng
xuất bán
=
Trị giá hàng
tồn kho đầu
kỳ
+
Trị giá hàng
mua vào
trong kỳ
-
Hao hụt
trong kỳ
có nhân tố ảnh hởng tăng, nhng có những nhân tố ảnh hởng giảm kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, để phân tích các nhân
tố ảnh hởng qua đó thấy đợc mức độ và tính chất ảnh hởng của các nhân tố
đến đối tợng nghiên cứu ta phải áp dụng những phơng pháp tính toán khác
nhau trong đó có phơng pháp thay thế liên hoàn và phơng pháp số chênh lệch.
Phơng pháp thay thế liên hoàn đợc sử dụng trong trờng hợp giữa đối
tợng phân tích với các nhân tố ảnh hởng có mối liên hệ phụ thuộc chặt chẽ
đợc thể hiện bằng những công thức toán học mang tính chất hàm số trong đó có
sự thay đổi của các nhân tố thì kéo theo sự biến đổi của chỉ tiêu phân tích. Ví dụ:
khi phân tích doanh thu bán hàng ta thấy có hai nhân tố ảnh hởng cơ bản là số
lợng hàng bán và đơn giá bán. Hai nhân tố đó có liên hệ với doanh thu bán
hàng bằng công thức sau:
Doanh thu bán hàng = Số lợng hàng bán ì Đơn giá bán
Phơng pháp thay thế liên hoàn cho phép thu nhận một dãy số những giá
trị điều chỉnh bằng cách thay thế liên hoàn các giá trị ở kỳ gốc của các nhân tố
bằng giá trị của các kỳ báo cáo. Số lợng nhân tố càng nhiều thì số điều chỉnh
càng nhiều. Mỗi lần thay thế là một lần tính toán riêng biệt. Kết quả tính toán
đợc khi thay thế trừ đi giá trị của kỳ gốc huặc giá trị thay thế lần trớc thể hiện
mức độ ảnh hởng nhân tố đó đến đối tợng phân tích.
Nếu số chênh lệch mang dấu (+) thì ảnh hởng tăng và ngợc lại. Khi
thay thế một nhân tố thì phải giả định nhân tố khác không thay đổi. Các nhân tố
thay đổi phải đợc sắp xếp trong công thức tính toán theo một trình tự hợp lý.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN