Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu - Pdf 58

Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
1
Lời nói đầu
Quản lý kinh tế nói chung và quản lý kinh tế doanh nghiệp nói riêng trong
nền kinh tế thị trường với sự tồn tại và điều tiết của những quy luật kinh tế khách
quan như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, giá cả đòi hỏi phải cung cấp
những thông tin một cách kịp thời, chính xác và toàn diện về tình hình thực hiện
các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, tình hình quản lý và sử dụng lao động, vật tư,
tiền vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh, làm cơ sở đề ra các chủ trương,
chính sách và biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Để đạt được mục đích trên, đòi hỏi chủ doanh nghiệp và các cán bộ quản
lý doanh nghiệp cần phải nhận thức và áp dụng các phương pháp quản lý hữu
hiệu trong đó có phân tích hoạt động kinh tế. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động
kinh tế rất phức tạp và mang tính đặc thù. Nó liên quan và tác động đến rất nhiều
ngành kinh tế kỹ thuật. Đồng thời nó cũng chịu sự tác động và ảnh hưởng của
nhiều ngành, nhiều yếu tố thuộc môi trường kinh doanh. Phạm vi hoạt động của
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu rất rộng rãi. Do vậy nó chịu sự cạnh tranh gay
gắt của thị trường quốc tế trong quan hệ buôn bán. Để có thể tồn tại và phát
triển, kinh doanh có lãi trong cơ chế thị trường, đòi hỏi các nhà kinh doanh phải
nhận thức tầm quan trọng và thực hiện thường xuyên phân tích các hoạt động
kinh tế. chính vì vai trò quan trọng của hoạt động phân tích mà em đã chọn đề
tài: Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu để làm
luận văn tốt nghiệp.
Qua một thời gian thực tập tại công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội,
em đã được tìm hiểu về chức năng, đặc điểm, nhiệm vụ của công ty, tình hình
thực hiện công tác phân tích hoạt động kinh tế tại công ty, em đã sử dụng những
lý thuyết đã được học ở trường kết hợp với thực tế để viết bản luận văn này. Luận
văn gồm 3 chương:
Chương I: Những vần đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu và phân
tích hoạt động xuất khẩu.

+ Những hàng hoá là quà biếu, đồ dùng khác của dân cư thường trú nước
ta gửi cho thân nhân, các tổ chức, huặc người nước ngoài khác.
+ Những hàng hoá là viện trợ, giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức và dân
cư thường trú nước ta gửi cho chính phủ, các tổ chức, dân cư nước ngoài.
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
3
1.2 / Hiệu quả xuất khẩu
Trong điều kiện nước ta hiện nay, kinh tế đối ngoại có vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy Đảng và nhà nước luôn coi trọng
lĩnh vực này và nhấn mạnh nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế cũng như sự
phát triển của khoa học kỹ thuật và công ngiệp hoá của nước ta tiến hành nhanh
hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại. Đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xuất khẩu
là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nền kinh tế nói chung và cuả mỗi doanh
nghiệp nói riêng.
Hiệu quả hoạt động xuất khẩu chủ yếu được thẩm định bởi thị trường, là
phương hướng cơ bản để xác định phương hướng hoạt động xuất khẩu. Tuy vậy
hiệu quả đó là gì? như thế nào là có hiệu quả? Không phải là vấn đề đã được
thống nhất. Không thể đánh giá được mức độ đạt được hiệu quả kinh tế của hoạt
động xuất khẩu khi mà bản thân phạm trù này chưa được định rõ bản chất và
những biểu hiện của nó. Vì vậy, hiểu đúng bản chất của hiệu quả kinh tế xuất
khẩu cũng như mục tiêu đảm bảo hiệu quả kinh tế xuất khẩu của mỗi thời kỳ là
vấn đề có ý nghĩa thiết thực không những về lý luận thống nhất quan niệm về
bản chất của hiệu quả kinh tế xuất khẩu mà còn là cơ sở để xác định các tiêu
chuẩn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xuất khẩu, xác định yêu cầu đối với
việc đề ra mục tiêu và biện pháp nâng cao hiệu của kinh tế ngoại thương.
Cho đến nay còn có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả kinh
doanh nói chung và hiệu quả xuất khẩu nói riêng. Quan niệm phổ biến là hiệu
quả kinh tế xuất khẩu là kết quả của quá trình sản xuất trong nước, nó được biểu

là chi phí cái gì, bao nhiêu và kết quả được thể hiện như thế nào. Trong hoạt
động xuất khẩu, kết quả đầu ra thể hiện bằng số ngoại tệ thu được do xuất khẩu
đem lại và chi phí đầu vào là toàn bộ chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra nhưng có
liên quan đến hoạt động xuất khẩu bao gồm chi phí mua huặc chi phí sản xuất
gia công hàng xuất khẩu, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, chi phí sơ chế,
tái chế hàng xuất khẩu và những chi phí trực tiếp huặc gián tiếp khác gắn với hợp
Hiệu quả kinh tế
=
Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
5
đồng xuất khẩu. Từ những nhận xét trên ta có công thức tính hiệu quả xuất khẩu
như sau:
2/ Các phương thức kinh doanh xuất khẩu
* Phương thức kinh doanh xuất khẩu trực tiếp:
Xuất khẩu trực tiếp là phương thức kinh doanh mà trong đó, đơn vị tham
gia hoạt động xuất khẩu có thể trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng với nước
ngoài; trực tiếp giao nhận hàng và thanh toán tiền hàng. Các doanh nghiệp tiến
hành xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở tự cân đối về tài chính, có quyền tìm kiếm
bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn phương thức thanh toán và thị trường, xác
định phạm vi kinh doanh nhưng trong khuôn khổ chính sách quản lý xuất khẩu
của nhà nước.
* Phương thức kinh doanh xuất khẩu uỷ thác
Xuất khẩu uỷ thác là phương thức kinh doanh mà trong đó, đơn vị tham
gia hoạt động kinh doanh xuất khẩu không đứng ra trực tiếp đàm phán với nước
ngoài mà phải nhờ qua một đơn vị xuất khẩu có uy tín thực hiện hoạt động xuất
khẩu cho mình.
Đặc điểm hoạt động xuất khẩu uỷ thác là có hai bên tham gia trong hoạt

nhà nước phân bổ cho doanh nghiệp.
3/ Đặc điểm hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có các đặc điểm sau:
Thời gian lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu:
Thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao
giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh
doanh nội địa do khoảng cách địa lý cũng như các thủ tục phức tạp để xuất khẩu
hàng hoá. Do đó, để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu, người ta
chỉ xác định khi hàng hoá đã luân chuyển được một vòng hay khi đã thực hiện
xong một thương vụ ngoại thương.
Hàng hoá kinh doanh xuất khẩu:
Hàng hoá kinh doanh xuất khẩu bao gồm nhiều loại, trong đó xuất khẩu
chủ yếu những mặt hàng thuộc thế mạnh trong nước như: rau quả tươi, hàng mây
tre đan, hàng thủ công mỹ nghệ
Thời điểm giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán:
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
7
Thời điểm xuất khẩu hàng hoá và thời điểm thanh toán tiền hàng không
trùng nhau mà có khoảng cách dài.
Phương thức thanh toán:
Trong xuất khẩu hàng hoá, có nhiều phương thức thanh toán có thể áp
dụng được tuy nhiên phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng là phương
thức thanh toán bằng thư tín dụng. Đây là phương thức thanh toán đảm bảo được
quyền lợi của nhà xuất khẩu.
Tập quán, pháp luật:
Hai bên mua, bán có quốc tịch khác nhau, pháp luật khác nhau, tập quán
kinh doanh khác nhau, do vậy phải tuân thủ luật kinh doanh cũng như tập quán
kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế.
II. Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế

2/ Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản
xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng
mạnh mẽ. Đó chính là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình Công Nghiệp Hoá phù hợp với
xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta. Có hai cách
nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.
Một là: Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá
tiêu dùng nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế nước ta còn quá lạc hậu và chậm
phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động
chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng
chậm chạp, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm.
Hai là: Coi thị trường đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để
tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
Xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác có cơ hội phát
triển. Khi chúng ta xuất khẩu một mặt hàng nào đó kéo theo đó là sự phát triển
các ngành khác phục vụ cho việc xuất khẩu mặt hàng này. Chẳng hạn khi xuất
khẩu các sản phẩm dệt may thì ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốc
nhuộm cũng sẽ phát triển theo quy mô xuất khẩu sản phẩm may. Chính điều này
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
9
làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi một cách đồng bộ không có sự mất cân đối giữa
các ngành với nhau. Như vậy xuất khẩu đã góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế
phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản
xuất phát triển và ổn định.
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng thị trường, nâng cao khả

luôn cố gắng để sản xuất có hiệu quả tăng cường đổi mới và hoàn thiện công
việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường.
Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả cũng có nghĩa là nền kinh tế cũng ngày
một đi lên, như vậy xuất khẩu không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà
còn làm cho nền kinh tế ngày một phát triển và ổn định.
3/ Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của người dân.
Hiện nay việc hàng trăm triệu người lao động đang đổ xô về thành phố
kiếm việc làm đã gây ra nhiều vấn đề xã hội và làm cho sự quản lý của nhà nước
thêm khó khăn. Nó cũng chứng tỏ người dân đặc biệt là những người dân ở các
vùng nông thôn đang thiếu việc làm một cách trầm trọng. Xuất khẩu đã giải
quyết được vấn đề công ăn việc làm cho người lao động, tạo thu nhập và cải
thiện đời sống của dân cư. Đồng thời xuất khẩu cũng đóng góp vào ngân sách
quốc gia một nguồn vốn ngoại tệ đáng kể. Đây là nguồn vốn dùng để nhập khẩu
các vật phẩm tiêu dùng thiết yếu mà trong nước chưa sản xuất được nhằm phục
vụ nhu cầu ngày càng cao của người dân.
4/ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nước ta.
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động
qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể thấy hoạt động xuất khẩu có sớm hơn hoạt
động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ này phát triển.
Chẳng hạn, xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc
tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng
xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để
phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước.
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
11
III. Sự cần thiết phải phân tích tình hình và hiệu quả kinh doanh xuất

12
Để thực hiện các nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi
chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý phải xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch sản
xuất kinh doanh cũng như các kế hoạch tài chính, kế hoạch lao động, tiền
lương đó là những mục tiêu cần đạt được trong kỳ kế hoạch. Nhưng đồng thời
nó cũng là cơ sở để chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Do vậy, để nhận thức và đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ doanh nghiệp cần thiết phải phân tích để thấy
được mức độ hoàn thành của các chỉ tiêu kế hoạch về phần trăm và số chênh lệch
tăng giảm.
Việc phân tích này là cần thiết bởi vì thông qua phân tích các nhà quản lý
sẽ thấy được doanh nghiệp đã thực hiện kế hoạch đề ra ở mức độ nào, có hoàn
thành kế hoạch đề ra hay không từ đó tìm ra nguyên nhân của việc không hoàn
thành kế hoạch cũng như nhân tố góp phần vào việc hoàn thành vượt mức kế
hoạch đặt ra và đưa ra các giải pháp để kỳ kinh doanh tiếp theo sẽ hoàn thành và
hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra. Việc phân tích này sẽ giúp doanh nghiệp
nhìn ra đâu là mặt mạnh cũng như những điểm còn yếu kém trong từng khâu của
quá trình sản xuất kinh doanh để có thể tận dụng hết thế mạnh của mình, khắc
phục dần những điểm còn tồn tại từ đó nâng cao lợi nhuận, mở rộng sản xuất
kinh doanh, mở rộng thị trường nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên
thương trường.
Doanh nghiệp nào cũng có thị trường, khách hàng, mặt hàng riêng của
mình, tuy nhiên doanh nghiệp cũng chia ra thành thị trường chính, mặt hàng chủ
lực, khách hàng truyền thống để từ đó có kế hoạch cung ứng hàng hoá cho phù
hợp. Nếu đối với các thị trường chính có sức tiêu thụ lớn mà ta lại không chú ý
tới, không có kế hoạch cung ứng hàng hoá đầy đủ kịp thời đáp ứng tốt nhất nhu
cầu của khách hàng thì doanh nghiệp sẽ dần mất đi thị phần trên thị trường đó và
các doanh nghiệp khác sẽ có cơ hội để chiếm lĩnh thị trường đó có nghĩa là
doanh nghiệp đang đánh mất cơ hội làm tăng lợi nhuận của chính mình.
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu theo thị trường sẽ cho ta

được những chính sách biện pháp và chỉ đạo quản lý một cách hiệu quả thì việc
phân tích rất cần thiết phải được tiến hành ngay từ giai đoạn lập kế hoạch đến
khi thực hiện kế hoạch và sau khi kế hoạch đã được thực hiện.
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
14
+ Phân tích hiệu quả xuất khẩu sẽ cung cấp những thông tin chính xác
về kết quả kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng và nguyên nhân ảnh hưởng
đến kết qủa kinh doanh, từ đó tìm ra những chính sách biện pháp thích hợp
để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, các doanh nghiệp hoạt động dưới sự
chỉ đạo của nhà nước bằng các hệ thống chỉ tiêu pháp lệch. Mọi khâu của quá
trình sản xuất kinh doanh như: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Sản xuất như thế
nào đều do nhà nước trực tiếp chỉ đạo, doanh nghiệp chỉ như một cỗ máy hoạt
động theo kế hoạch đã định sẵn. Bởi vậy mà việc doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả hay không không phải là vấn đề cần quan tâm trong thời kỳ đó, nếu
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã có nhà nước bù lỗ vì vậy doanh nghiệp chỉ quan
tâm xem mình có đạt được các chỉ tiêu kế hoạch do bên trên giao hay không.
Nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế nhà nước đã trao quyền tự chủ kinh doanh cho doanh nghiệp
có nghĩa là chủ doanh nghiệp sẽ phải quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mình và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của
doanh nghiệp, nhà nước chỉ kiểm soát doanh nghiệp ở tầm vĩ mô:định hướng cho
doanh nghiệp hoạt động, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và doanh nghiệp
chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ mà nhà nước cho phép. Và khi mà sự
suy vong hay phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào nỗ lực của chính bản
thân doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh lại là một vấn đề sống còn đối với
doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp luôn cố gắng để tìm ra các biện pháp nâng cao hiệu
quả kinh doanh, tìm cho mình một chỗ đứng trên thị trường. Muốn nâng cao hiệu

nghiệp tận dụng được những khả năng tiềm tàng mà doanh nghiệp chưa sử dụng
hết để thúc đẩy quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận cao
cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động có hiệu quả không
những đem lại nguồn ngoại tệ cho doanh nghiệp mình mà còn góp phần tăng thu
ngoại tệ cho đất nước, cải thiện cán cân thương mại, bình ổn tỷ giá hối đoái, góp
phần nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của các doanh nghiệp xuất
khẩu trong nước. Việc phân tích hiệu quả kinh doanh xuất khẩu cần phải được
tiến hành trên nhiều mặt, tiến hành một cách toàn diện từ đó mới có được những
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
16
phương hướng hoạt động thích hợp cho kỳ kinh doanh sau để làm sao sử dụng
hết nguồn lực vật chất hiện có nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh.
+ Phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu là cơ sở khoa học cho việc
đề ra các kế hoạch sản xuất kinh doanh ở kỳ tiếp theo.
Doanh nghiệp là một hệ thống bao gồm nhiều phần tử: phòng, ban, chi
nhánhmỗi một bộ phận đều có chức năng nhiệm vụ riêng, những chức năng đó
dù là nhỏ nhất cũng đều có quan hệ với nhau tạo nên hiệu quả kinh doanh chung
của toàn doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Phân tích tình hình và hiệu quả kinh
doanh xuất khẩu là cơ sở khoa học cho việc đề ra các kế hoạch sản xuất kinh
doanh tiếp theo đó cũng chính là việc phối hợp hoạt động giữa các phòng ban
trong doanh nghiệp sao cho ăn khớp, hoạt động nhịp nhàng, hợp lý, tất cả các
phòng ban đều hướng tới một mục tiêu chung là lợi nhuận của doanh nghiệp thì
doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cao. Trên cơ sở nhận xét đánh giá
về kết quả doanh nghiệp đạt được ở kỳ này, phân tích hiệu quả kinh doanh cao
hay thấp, chủ doanh nghiệp sẽ đưa ra một kế hoạch kinh doanh cũng như đưa ra
các chỉ tiêu cần đạt được trong kỳ tiếp theo sao cho phù hợp với khả năng của
doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra.
Một kế hoạch kinh doanh đưa ra mà không dựa trên các kết quả đã đạt
được trước đó rất có thể sẽ là một kế hoạch nằm ngoài khả năng thực hiện của

Để có thể tiến hành phân tích đòi hỏi phải thu thập một lượng thông tin
cần thiết đầy đủ kịp thời phù hợp với mục đích yêu cầu về nội dung và phạm vi
của đối tượng phân tích. Thông tin dùng trong phân tích hoạt động kinh tế là
những số liệu tài liệu cần thiết làm cơ sở để tính toán và phân tích tình hình và
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó cũng là cơ sở cho
việc đề ra các quyết định tối ưu trong kinh doanh và quản lý. Các quyết định của
nhà quản lý nếu thiếu sự nghiên cứu, phân tích một cách đầy đủ toàn diện các số
liệu thông tin thì sẽ dẫn tới những quyết định thoát ly thực tế không phù hợp với
yêu cầu khách quan từ đó sẽ dẫn đến khả năng rủi ro thua lỗ trong sản xuất kinh
doanh.
Nguồn tài liệu ta có thể sử dụng để phân tích hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp gồm: nguồn tài liệu bên ngoài và nguồn tài liệu bên trong doanh nghiệp
cung cấp.
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
18
* Nguồn tài liệu bên ngoài là các nguồn tài liệu phản ánh chủ trương
chính sách của Đảng nhà nước và các ngành về việc chỉ đạo, phát triển sản xuất
và lưu thông trong và ngoài nước.
+ Chính sách kinh tế tài chính do nhà nước quy định trong từng thời
kỳ như: chính sách cấp vốn huặc cho vay vốn, các chính sách thuế của nhà nước,
chính sách về kinh tế đối ngoại, chính sách về ngoại giao.
+ Tình hình thay đổi về thu nhập thị hiếu trong và ngoài nước.
+ Biến động về cung cầu giá cả trên thị trường trong và ngoài nước.
* Nguồn tài liệu bên trong là các tài liệu liên quan đến việc phản ánh quá
trình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp
+ Tài liệu thông tin từ các kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đặt ra bao
gồm: kế hoạch tài chính, kế hoạch xuất khẩu hàng hoá, kế hoạch về sử dụng
vốn
+ Số liệu trên các báo cáo tài chính do phòng kế toán lập hàng kỳ: báo cáo

tiêu:
+ Thống nhất về nội dung, phương pháp xác định, thời gian và đơn vị tính
của chỉ tiêu so sánh.
+ Tuỳ theo mục đích phân tích để xác định gốc so sánh. Gốc so sánh có thể
chọn gốc thời gian (kỳ kế hoạch, kỳ trước, cùng kỳ năm trước) huặc gốc không
gian (so với tổng thể, so với đơn vị khác có điều kiện tương đương, so với các bộ
phận trong cùng tổng thể) kỳ được chọn làm gốc so sánh gọi là kỳ gốc, còn kỳ
được chọn để phân tích là kỳ phân tích. Các trị số của chỉ tiêu tính ra ở từng thời
kỳ tương ứng là trị số chỉ tiêu kỳ gốc, kỳ phân tích.
Có nhiều dạng so sánh, phải căn cứ vào mục đích và yêu cầu của việc
phân tích để lựa chọn dạng so sánh. Mỗi dạng so sánh đều có ý nghĩa kinh tế
riêng của nó, giúp cho doanh nghiệp biết được sự vận động của các hoạt động
kinh tế trên mọi góc độ khác, từ đó có những phương pháp khai thác tiềm năng
của bản thân doanh nghiệp và tiềm năng của xã hội mà doanh nghiệp có thể khai
thác được. Qua so sánh ta biết được kết quả của việc thực hiện các nhiệm vụ đã
đặt ra, biết được tốc độ phát triển của các hiện tượng kinh tế đồng thời biết được
mức độ cụ thể của từng bộ phận cấu thành hệ thống chỉ tiêu cần phân tích.
Phương pháp so sánh được sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế bao
gồm nhiều nội dung khác nhau:
Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
20
So sánh giữa số thực hiện của kỳ báo cáo với số kế hoạch huặc số định
mức để thấy được mức độ hoàn thành bằng tỷ lệ phần trăm (%) hay số chênh
lệch tăng giảm.
So sánh giữa số liệu thực hiện kỳ báo cáo với số liệu cùng kỳ năm trước
huặc các năm trước. Mục đích của việc so sánh này là để thấy được sự biến động
tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế qua những thời kỳ khác nhau và xu thế phát
triển của chúng trong tương lai.
So sánh giữa số liệu thực hiện của một đơn vị này với một đơn vị khác

Tốc độ phát triển liên hoàn:
100
1
ì=
i
i
i
M
M
T
Tốc độ phát triển định gốc:
100
0
ì=
M
M
T
i
oi
Tốc độ phát triển bình quân:
1
=
n
i
tichcacTT
Trong đó:
i
T
: tỷ lệ phát triển liên hoàn
T

Luận văn tốt nghiệp
SV: Trần Việt Linh - K36 D5
22
phương pháp cũng được sử dụng trong phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu,
sau đây là các phương pháp đó.
2.2/ Phương pháp biểu mẫu sơ đồ
Trong phân tích kinh tế người ta phải dùng biểu mẫu, sơ đồ phân tích để
phản ánh một cách trực quan qua các số liệu phân tích. Biểu phân tích nhìn
chung được thiết lập theo các dòng cột để ghi chép các chỉ tiêu và số liệu phân
tích. Các dạng biểu phân tích thường phản ánh mối quan hệ so sánh giữa các chỉ
tiêu kinh tế có liên hệ với nhau: so sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch, so với
số cùng kỳ năm trước huặc so sánh giữa chỉ tiêu cá biệt với chỉ tiêu tổng thể. Số
lượng các dòng cột tuỳ thuộc vào mục đích yêu cầu và nội dung phân tích. Tuỳ
theo nội dung phân tích mà biểu phân tích có tên gọi khác nhau, đơn vị tính khác
nhau.
Còn sơ đồ, biểu đồ đồ thị được sử dụng trong phân tích để phản ánh sự
biến động tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế trong những khoảng thời gian khác
nhau huặc các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau mang tính chất hàm số giữa các
chỉ tiêu kinh tế. Khi tiến hành phân tích tình hình hay hiệu quả xuất khẩu thì ta
đều phải lập bảng biểu để ghi các số liệu vào các dòng cột đã chọn thực chất
chính là ta đang áp dụng phương pháp biểu mẫu sơ đồ, tuy nhiên phương pháp
này không được sử dụng một mình nó nó còn kết hợp với các phương pháp khác
như phương pháp so sánh, phương pháp số chênh lệch, tỷ trọng, tỷ suất. Ngoài
ra, trong phân tích hoạt động kinh tế người ta còn sử dụng các phương trình quy
hoạch tuyến tính huặc phương trình phi tuyến trong trường hợp các chỉ tiêu phân
tích kinh tế có liên hệ với các chỉ tiêu khác bằng các phương trình trên. Các kết
quả thu được khi sử dụng các hàm hồi quy thông qua ngoại suy chủ yếu phục vụ
cho phân tích dự đoán để lập các chỉ tiêu cho các kế hoạch ngắn và dài hạn.
Nhưng khi sử dụng các kết quả đó cần phải lưu ý rằng chúng được tính toán dựa
trên các hiện tượng và kết quả kinh tế đã xảy ra trong quá khứ và lại được sử

Hao
hụt
+
Hàng tồn
cuối kỳ
Cân đối cá biệt là quan hệ cân đối của các chỉ tiêu kinh tế cá biệt
v.v
Từ những mối liên hệ mang tính cân đối nếu có sự thay đổi một chỉ tiêu
nào đó sẽ dẫn sự thay đổi một chỉ tiêu khác từ đó xác định được ảnh hưởng của
từng nhân tố đến đối tượng phân tích.
Do vậy khi phân tích một chỉ tiêu kinh tế có liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế
khác bằng mối liên hệ cân đối ta phải lập công thức cân đối, thu thập số liệu, áp
dụng phương pháp số chênh lệch để xác định mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu
đến chỉ tiêu phân tích.
Nợ phải thu
khách hàng
đầu kỳ
+
Nợ phải thu
khách hàng
trongkỳ
=
Nợ phải thu
khách hàng đã
thu trong kỳ
+
Nợ phải thu
khách hàng
cuối kỳ
Luận văn tốt nghiệp

Nợ phải thu
khách hàng
đầu kỳ
+
Nợ phải thu
khách hàng
trong kỳ
-
Nợ phải thu
khách hàng đã
thu trong kỳ
2.4/ Phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch
Quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp luôn chịu sự tác
động ảnh hưởng của các nhân tố trong đó có những nhân tố mang tính chất
khách quan và có những nhân tố mang tính chất chủ quan. Về mức độ ảnh hưởng
có nhân tố ảnh hưởng tăng, nhưng có những nhân tố ảnh hưởng giảm kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, để phân tích các nhân
tố ảnh hưởng qua đó thấy được mức độ và tính chất ảnh hưởng của các nhân tố
đến đối tượng nghiên cứu ta phải áp dụng những phương pháp tính toán khác
nhau trong đó có phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch.
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng trong trường hợp giữa đối
tượng phân tích với các nhân tố ảnh hưởng có mối liên hệ phụ thuộc chặt chẽ
được thể hiện bằng những công thức toán học mang tính chất hàm số trong đó có
sự thay đổi của các nhân tố thì kéo theo sự biến đổi của chỉ tiêu phân tích. Ví dụ:
khi phân tích doanh thu bán hàng ta thấy có hai nhân tố ảnh hưởng cơ bản là số
lượng hàng bán và đơn giá bán. Hai nhân tố đó có liên hệ với doanh thu bán
hàng bằng công thức sau:
Doanh thu bán hàng = Số lượng hàng bán ì Đơn giá bán
Phương pháp thay thế liên hoàn cho phép thu nhận một dãy số những giá
trị điều chỉnh bằng cách thay thế liên hoàn các giá trị ở kỳ gốc của các nhân tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status