Bài tiểu luận cuối kì môn NHO GIÁO và văn học dân tộc - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: NHO GIÁO VÀ VĂN HỌC DÂN TỘC
Đề: Từ quan niệm về đạo làm người trong Nho giáo đến quan
niệm về con người trong văn học trung đại Việt Nam
Giảng viên: GS.TS Trần Ngọc Vương
Hà Nội – 2014
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Maxim Gorky đã từng nói: “Văn học là nhân học”, không một tác phẩm
nghệ thuật chân chính nào lại không hướng tới con người. Như vậy, quan
niệm nghệ thuật về con người trong văn học là một phạm trù vô cùng quan
trọng. Quan niệm về con người trong văn học chịu sự ảnh hưởng, chi phối
bởi quan điểm thẩm mỹ của từng thời đoạn, trong những giai đoạn khác
nhau thì quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cũng thay đổi.
Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học giúp định
hướng chung cho các sáng tác của từng giai đoạn văn học nhất định.
Một trong những điều có thể dễ dàng nhận thấy khi nghiên cứu văn học
trung đại Việt Nam là quan niệm nghệ thuật về con người hết sức đặc biệt
trong văn học giai đoạn này, nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của tư tưởng
triết học Nho giáo Trung Quốc. Từ xưa đến nay, trong lịch sử nghiên cứu
văn học trung đại Việt Nam, đã có không ít các học giả danh tiếng bàn tới
vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt
Nam tiêu biểu như Giáo sư Trần Đình Sử trong sách Về con người cá nhân
trong văn học cổ Việt Nam. PGS.TS Trần Nho Thìn trong cuốn: Văn học
Việt Nam thế kỉ X – XIX, và đặc biệt là GS Trần Ngọc Vương trong cuốn:
Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam… và rất nhiều các công trình nghiên
cứu có giá trị khác. Tuy nhiên, trong các bài nghiên cứu của mình các nhà
nghiên cứu mới chỉ đi tổng kết và đánh giá chung về quan niệm con người
trong văn học mà chưa đi sâu vào việc giải thích rõ sự ảnh hưởng của tư

quan niệm của nhà văn muốn thể hiện trong tác phẩm.
Con người trong văn học là sự ý thức về con người, là cách hiểu về con
người và cuộc đời làm cơ sở cho việc sáng tạo ra các hình tượng nghệ
thuật, hòa tan trong sự miêu tả các hình tượng sống động. Nhiệm vụ của
người nghiên cứu là vạch ra quan niệm ấy như cái lý bên trong của hình
tượng. Quan niệm con người trong văn học phong phú và sinh động hơn
nhiều so với quan niệm con người trong triết học.
Nho giáo và văn học dân tộc 3
2. Quan niệm về con người trong Nho giáo
Trong tư tưởng triết học Nho giáo quan niệm, trong xã hội có hai loại
người là tiểu nhân và quân tử. Những con người sống thuần bằng bản năng
như loài cầm thú, phàm phu, tục tử là những người hạ cấp xét về phương
diện đạo đức phẩm cách. Những kẻ này theo Nho giáo đều gọi là tiểu nhân,
dù những kẻ đó có giữ địa vị cao và giàu có trong xã hội đi chăng nữa. Còn
quân tử là người tiến hóa, biết khắc phục bản thân, hiểu mệnh trời, hiểu đạo
lý và biết mệnh trời là gì. Những đặc tính của kẻ tiểu nhân thì tương phản
rõ rệt với đặc tính của người quân tử, nhưng tiểu nhân và quân tử không
phải là hai mặt đối lập nhau, không phải là cực đoan, mà quân tử là giai
đoạn tiến hóa của tiểu nhân. Người quân tử thì chú trọng vào lễ nghĩa, luôn
khuôn mình vào trong lễ nghĩa, luôn cư xử đúng mực, hiệp nghĩa. Người
quan tử biết mục đích cao cả của kiếp người, biết cái thiên mệnh mà trời
trao cho con người, nghĩa là biết cái viễn đích tối hậu của nhân sinh.
Khi đề cập đến mẫu người quân tử, Khổng Tử thường đưa ra những tiêu
chuẩn khác nhau, song chung quy lại, người quân tử phải đạt được chín
điều sau: (1) Nhìn thì phải để ý nhìn sao cho sáng; (2) Nghe thì phải lắng
tai nghe cho rõ ràng; (3) Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa; (4) Tướng mạo thì
phải giữ cho khiêm cung; (5) Nói năng phải giữ bề trung thực; (6) Làm
việc phải trọng sự kính cẩn; (7) Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han; (8) Khi
giận thì nghĩ đến sự hoạn nạn có thể xảy ra; (9) Thấy lợi thì phải nghĩ tới
điều nghĩa” (Luận ngữ, Quý thị). Theo Khổng Tử, chín điều này phải có sự

thứ đạo đức giả.
Đã là quân tử, trước hết phải có chữ Hiếu, hiếu với phụ mẫu, Đễ với anh
chị em. Kính trọng, yêu mến tôn thờ cha mẹ lúc chết cũng như còn sống.
Cái Đạo đối với anh chị em là mỗi người phải ăn ở đúng phận mình. Trong
Nho giáo, hiếu đễ là đầu mối của lòng nhân, nếu ta chẳng yêu cha mẹ ta,
chẳng tôn kính anh em ta mà bảo rằng yêu mến, tôn kính người khác thì đó
là điều không thể có.
Nho giáo và văn học dân tộc 5
Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên mối quan hệ giữa con người với
con người, giữa “kỷ” (mình) và “nhân” (người). Với ông, nguyên tắc đối
xử giữa người với người là xem người cũng như mình, cái gì mình không
muốn thì đừng làm cho người (thi chư kỷ nhi bất nguyên, diệc vật thì ư
nhân), mình muốn làm nên thì giúp người làm nên, mình muốn thành đạt
thì giúp người thành đạt (kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân).
Với quan niệm về “kỷ” và “nhân” này, Khổng Tử đã khẳng định tư tưởng
đạo đức coi trọng con người của Nho giáo. Nguyên tắc thứ hai mà Khổng
Tử đề cao là “Trung dung”, “Trung hòa”. “Trung hòa là cái tính tự nhiên
của trời đất, trung dung là cái đức hạnh của người ta. Trung là giữa, là
không thiên lệch về bên nào. Dung là thường. Trung dung nghĩa là dùng
đạo Trung làm lẽ sống thường ngày vậy”. Nghĩa là đạo Trung dung đòi hỏi
con người đừng thái quá về mình, cũng đừng thái quá về người. Nó giống
như mối tương quan giữa “văn” và “chất”: “Chất mà trội hơn văn thì thô
kệch, văn mà trội hơn chất thì phù phiếm, văn và chất đều hài hòa thì mới
là quân tử (Luận ngữ, Ung giã).
Với Nho giáo Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín được đặt trong quan hệ của con
người với chính bản thân mình để tu thân, để trở thành người quân tử, còn
chính danh là yêu cầu đạo đức được đặt ra trong quan hệ với người khác để
mỗi người thực hiện đúng việc, đúng phận sự của mình cho xã hội ổn định,
phát triển. Những quan niệm này của Nho giáo đến nay vẫn còn nguyên giá
trị và có ý nghĩa thời sự của nó. Mối quan hệ đạo đức và những quan niệm

“Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
(Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Các nhân vật như Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga trong truyện thơ
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được coi như một trong những mẫu
hình lý tưởng của trai anh hùng, gái thuyền quyên. Nguyễn Đình Chiểu
Nho giáo và văn học dân tộc 7
như đưa ra lời tuyên ngôn cho chuẩn mực đạo đức của con người của thời
đại bấy giờ.
Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác trên của Nguyễn
Đình Chiểu đã thể hiện sự ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo. Trung
hiếu là hai phạm trù vô cùng quan trọng của triết học Nho giáo. Người
quân tử phải biết trung với vua, với nước và phải hiếu với cha mẹ. Để thể
hiện chữ chọn vẹn chữ Hiếu, Nguyễn Đình Chiểu đã để cho Lục Vân Tiên
khóc mẹ trên đường trở về chịu tang đến mù cả hai mắt. Chữ hiếu dạy con
người trong cách ứng xử với cha mẹ, luôn tôn kính lúc sống cũng như khi
đã chết. Kiều Nguyệt Nga thì vì chữ tiết hạnh mà thà nhảy xuống sông tự
vẫn để giữ trọn lời thề với Lục Vân Tiên chứ nhất quyết không chịu lấy
người khác. Nguyễn Đình Chiểu đã để cho các nhân vật chính của mình
sống với đúng nề nếp và chuẩn mực đạo đức của Nho giáo. Ngoài ra thì
ông cũng lấy những chuẩn mực đạo đức đó để đánh giá, phân biệt kẻ tốt,
người xấu: Các nhân vật phản diện là những kẻ tiểu nhân, bỉ ổi như Bùi
Kiệm, Trịnh Hâm… là những kẻ nhỏ mọn, đố kị, độc ác và không hiểu lễ
nghĩa là những kẻ đối nghịch lại hoàn toàn với những nhân vật được coi là
chính nghĩa. Như vậy, tiêu chuẩn để nói để phân biệt tiểu nhân hay quân tử
trước hết chính là dựa vào đạo đức.
Hay trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, dù cho nhiều nhà nghiên cứu
có đánh giá Nguyễn Du có tư tưởng tiến bộ khi nhìn nhận về con người đến
đâu đi chăng nữa thì Truyện Kiều vẫn được sáng tác theo quan niệm tư
tưởng của Nho giáo. Vì chữ hiếu, Kiều nhất định phải bán mình chuộc cha,

Tuyết sương thấy đã tặng nhiều ngày
Tuyết sương thấy đã tặng nhiều ngày
Có thuốc trường sinh càng khỏe thay
Hổ phách phục linh nhìn mới biết
Dành còn để trợ dâu này”
(Tùng, Nguyễn Trãi)
Nho giáo và văn học dân tộc 9
Do vậy, nếu ẩn cư hoàn toàn thì ông đã đánh mất lẽ sống, là con người
trong thơ, Nguyễn Trãi hiện diện như một day dứt, một con người thao
thức khôn nguôi của thời đại.
Lê Thánh Tông là người hùng theo mẫu hình nho quân, trong thơ ông
cũng thể hiện điều đó:
“Lòng vì thiên hạ những sơ âu
Thay việc trời dám trễ đâu
Trống dời canh còn đọc sách,
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu”
(Tự thuật – Lê Thánh Tông)
Ông tận tâm, trau đức, sửa mình, giữ lễ phát triển đất nước toàn diện và
cũng rất mực phong lưu vận sự, noi gương các thánh nhân quân tử trong
triết học Nho giáo của các thế hệ trước.
Còn trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Nguyến, khi nói đến con
người trong mối quan hệ bằng hữu, tình bạn cũng được coi là một yếu tố để
đánh giá chuẩn mực đạo đức của con người. Trong Khóc Dương Khuê,
Nguyễn Khuyến đã thể hiện cảm xúc xót xa, đau đớn của mình khi nghe tin
bạn mất, kể đến những kỉ niệm mà khiến cho người đọc phải nghĩ đến
những tình bạn thường được ngợi ca trong lịch sử Trung Quốc như Dương
Tử Kỳ và Bá Nha.
“Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua, không phải không tiền, không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết,

mình, hòa mình vào với thiên nhiên tạo nên cái hài hòa của vũ trụ. Khi vui,
khi buồn con người đều muốn tìm về với thiên nhiên, yêu thiên nhiên và
coi thiên nhiên như những người bạn tri âm, tri kỉ.
Nguyễn Trãi, khi bất bình với việc triều chính ông cũng tìm về với cuộc
sống ẩn dật, làm bầu bạn với thiên nhiên:
“Côn Sơn hữu kì, kì thanh linh linh nhiên, ngô dĩ vi cầm huyền,
Côn Sơn hữu thạch, vũ tẩy đài phô bích, ngô dĩ vi đạm tịch
Nho giáo và văn học dân tộc 11
Nham trung hữu tùng, vạn lí thúy đồng đồng, ngô ư thị hồ yển tức kì
trung
Lâm trung hữu trúc, thiên mẫu ấn hàn lục, ngô ư ngâm tiếu kì trắc”
(Côn Sơn Ca – Nguyễn Trãi)
Một bức tranh thiên nhiên hiện lên với cảnh rừng núi thơ mộng, có suối
có đá, có thông, có trúc… tất cả đều một màu tươi đẹp, trong mỗi khoảng
không gian của rừng núi ấy con người hiện lên với đầy đủ tư thế, hành
động và đều hòa vào với thiên nhiên, góp phần tạo cho bức tranh thêm
phần sống động. Con người là một phần của vũ trụ bởi vậy dù là tranh tả
thiên nhiên thì cũng vẫn không thể thiếu được hình ảnh con người. Con
người ẩn giữa thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên nên dù có một mình
nhưng cũng không cảm thấy cô đơn.
Trong bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, nhân vật trữ tình muốn giải
bày tâm sự, muốn tỏ lòng, muốn than thì cũng đứng trước thiên nhiên vũ
trụ mà than với trời đất. Con người coi vũ trụ như ngôi nhà chung, thiên
nhiên vạn vật là tri kỉ nên thường giãi bày tâm sự với thiên nhiên. Hơn nữa,
thiên nhiên trong văn học trung đại Việt Nam thường là những khoảng
không gian vũ trụ bao la, rộng lớn, con người đứng giữa vũ trụ mà đối diện
với trời đất:
“Hoành sóc giang san kháp kỷ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”
(Múa giáo non sông trải mấy thu

Truyện Kiều, khi Thúy Kiều bán mình chuộc cha:
“Ngại ngùng dịn gió e sương
Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày
Mối càng vén tóc bắt tay
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai”
Sự miêu tả con người gián tiếp trong thơ trung đại chính là bị sự chi
phối của quan niệm vũ trụ. Con người không được miêu tả như một hiện
tượng xã hội mà được như là một bộ phận của thiên nhiên, của vũ trụ. Bởi
Nho giáo và văn học dân tộc 13
vậy, khi miêu con người thì cũng là “con người vũ trụ” sống trong quy tắc
“hô, ứng”. Vui buồn của mỗi con người cũng buộc cả vũ trụ chuyền động:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Như vậy, hình tượng con người vũ trụ trong dòng chảy văn học trung
đại Việt Nam đã cho chúng ta thấy được quan niệm về con người của các
tác giả trung đại. Con người đó là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn vũ trụ,
thiên nhiên qua đất trời, mây nước, cỏ cây, muông… với cái đạo vững bền,
sâu thẳm của nó. Đây là nét khu biệt không thể lẫn so với các kiểu con
người trong các thời kì sau của văn học.
2.3 Con người tài tử
Theo quan niệm của Khổng Tử, cũng như quan niệm của các nhà nho
cho rằng chỉ có những con người tài tử, những con người đấng bậc, cao
quý mới xứng đáng xuất hiện trong văn học và trở thành những mẫu hình
lý tưởng của con người thời đại. Những con người làm nên những tầm vóc
lớn cho đời, đó là những con người phải có những điểm nổi bật, tài tử vượt
trội hơn những con người tầm thường khác trong xã hội.
Nguyễn Công Trứ khi quan niệm về con người, về chí nam nhi thì cũng
phải là những con người lẫy lừng, làm nên những việc lớn ở đời, thỏa chí
vùng vẫy bốn phương:

“Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương”
Quan niệm về con người tài tử trong văn học trung đại Việt Nam không
chỉ là sự tài giỏi trong tinh thông học vấn, mà hơn thế nó còn phải là những
con người có đạo đức. Theo quan niệm của nho giáo thì chỉ có những
người có đủ đức mới có thể học sách thánh hiền, chính vì vậy người tài tử
trước hết cũng phải là những con người có đạo đức, hiểu được hiếu lễ.
Những con người tài giỏi như Thúy Kiều, thì cũng là con người sống trọn
đạo với chữ hiếu, hi sinh thân mình để cứu gia đình. Tài giỏi như Lục Vân
Nho giáo và văn học dân tộc 15
Tiên trong truyện Lục Vân Tiên thì cũng là con người của chữ hiếu, hơn
nữa còn tận trung với nước, sống trước sau với bằng hữu và hành hiệp
trượng nghĩa vì chữ chữ dũng.
Hơn nữa, trong văn học trung đại Việt Nam, những con người tài tử
thường là những con người có tâm thế sống ung dung tự tại như theo quan
niệm về người quân tử trong triết học Nho giáo. Nguyễn Bỉnh Khiêm khi
nói về cuộc sống của mình tuy thiếu thốn nhưng rất ung dung, tự tại, thư
thái:
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người vui người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”
(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Tư tưởng của những nhà nho tài tử là những con người có đời sống nội
tâm tự tại, an nhàn. Con người tách ra khỏi chốn “lao xao”, xô bồ để trở về
với cuộc sống an nhàn, gần gũi với thiên nhiên. Những điều kiện hạn chế

con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam trải qua hai giai đoạn
với những hình thái khác nhau. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII về cơ bản con
người cá nhân được “khẳng định trên bình diện tinh thần, như một thực thể
tinh thần, siêu nghiệm dưới các hình thức tu dưỡng, lựa chọn xuất xử, hoàn
thiện nhân cách, tự hạn chế nhu cầu vật chất, tự đối lập với thói tục. Con
người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn mình với đạo, với tự
nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của của cộng đồng. Yếu tố
quyền lợi cá nhân chưa được chú ý [9; 194]. Còn từ thế kỉ XVIII đến hết
thế kỉ XIX, “Con người trong văn học đã kêu to lên nhu cầu về quyền sống
cá nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhân như một quyền tự nhiên” [9;194].
Nho giáo và văn học dân tộc 17
Ví như, con người cá nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài năng
(thơ Hồ Xuân Hương); con người với nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm
sự u uẩn (thơ Nôm Nguyễn Trãi, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ); con người
thể hiện cảm hứng sống ẩn dật, hành lạc (thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Hàng); con người với tình yêu lứa đôi, hạnh phúc, khát vọng nhu cầu trần
thế (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và Truyền kỳ mạn lục); Con
người cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn (Chinh phụ ngâm), Con
người cá nhân công danh hưởng lạc ngoài khuôn khổ (thơ văn Nguyễn
Công Trứ, Cao Bá Quát); Con người cá nhân giải thoát bằng hưởng
lạc (thơ ca trù cuối thế kỉ XIX), Con người cá nhân trống rỗng, mất hết ý
nghĩa (thơ Nguyễn Khuyến,…
Như vậy, con người trong văn học trung đại Việt Nam tuy chịu ảnh
hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo, song vẫn không bị mất đi cá tính
sáng tạo của mỗi nhà văn, mà cá tính sáng tạo ấy càng ngày càng được bộc
lộ rõ nét, nó thoát đi ra khỏi dần sự chi phối của lễ giáo.
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam
dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo thể hiện trong quan niệm về đạo
đức con người theo những chuẩn mực của đạo đức Nho giáo, con người là
một trong những bộ phận cấu thành nên vũ trụ, con người tài tử và con

Cả khúc ngâm của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm tràn
đầy khát vọng về cuộc sống hiện tại: “Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau”.
Cả khúc ngâm của Nguyễn Gia Thiều cũng đầy ắp khát vọng về cuộc sống
vật chất, nhục cảm. Đặc biệt là trong thơ của Hồ Xuân Hương với những
hình ảnh cơ thể người phụ nữ và cuộc sống buồng khuê cũng được ẩn hiện
qua cách dùng từ táo bạo, mới lạ:
“Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, vỏ nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc
Chớ đừng mân mó, nhựa rat tay”
(Quả mít – Hồ Xuân Hương)
Nho giáo và văn học dân tộc 19
Hay:
“Chém cha cái số lấy chồng chung
Người đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Cố bám ăn xôi, xôi lại hỏng
Cầm bằng làm mướn, mướn không công”
(Lấy chồng chung – Hồ Xuân Hương)
Ngoài ra, chưa bao giờ trong văn học có nhiều bài, nhiều câu nói về
việc thương thân, xót thân, tiếc xuân, tiếc tài như bây giờ. Con người đã
nói rất đúng, con người thị dân đã xuất hiện trong văn học, người quân tử
với những ý niệm bỏ tục lấy thanh, bỏ phú quý lấy nhàn, an bần lạc đạo…
đã nhường chỗ cho con người ca ngượi chữ tình, chữ hành lạc, chữ tài:
“Cuộc hành lạc chơi bao là lãi bấy
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù”
(Nguyễn Công Trứ)
Hay:
“Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi”

phá quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam
là bước đi ngắn nhất để chúng ta đến gần với cái bản chất nội tại của tác
phẩm, nắm được sự thay đổi, cách tân và vận động của cả một giai đoạn,
một thời kì văn học trung đại, đồng thời nêu bật được sức hấp dẫn của thời
kì văn học này cũng như khẳng định những giá trị không lỗi thời của nó về
sau.
Nho giáo và văn học dân tộc 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Sách tham khảo
1. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Hồng Hà, Nho giáo đạo học trên
đất kinh kỳ, NXB Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa, năm 2007.
2. Trần Đình Hượu, Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại. NXB
Văn hoá Thông tin, năm 1995.
3. Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX,
NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009.
4. Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn và giới thiệu), Nguyễn Trãi về tác gia và
tác phẩm, NXB Giáo dục, năm 2000.
5. Nguyễn Kim Sơn, Kinh điển Nho gia tại Việt Nam, NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, năm 2012.
6. Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn
học, NXB 1999.
7. Trần Đình Sử, Thi pháp Truyện Kiều, NXB Giáo dục, năm 1995.
8. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB
Giáo Dục, năm 1999.
9. Trần Đình Sử, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, NXB
Giáo dục, 2010.
10. Lê Sỹ Thắng, Nho giáo tại Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 1999.
11. Trần Nho Thìn, Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, NXB
Giáo dục Việt Nam, năm 2010.
12. Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo Nho (với sự chú giải của Trần Văn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status