Sự phân bố và phát triển ngành cơ khí Việt Nam và Thế giới Mới nhất 2019 - Pdf 24

MỞ ĐẦU
Những năm đầu của thế kỉ XXI, nhân loại được chứng kiến nhiều biến
đổi lớn của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học hiện đại, mà đặc trưng là các ngành công nghệ cao như công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới – công nghệ nano, công
nghệ năng lượng mới…đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời
sống, kinh tế, chính trị quốc tế, làm thay đổi diện mạo thế giới đương đại.
Trong sự phát triển vĩ đại đó, ngành công nghiệp cơ khí đóng vai trò có tính
nền tảng và có sự hiện diện hầu như trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội
của cộng đồng quốc tế.
Trong những năm gần đây công nghiệp cơ khí tiếp tục có những bước
phát triển mới khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế thế giới bằng việc
sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng một cách có hiệu quả
cho yêu cầu phát triển kinh tế, quốc phòng và phục vụ tiêu dùng cho toàn
nhân loại.
NỘI DUNG
1. Khái niệm
Công nghệ cơ khí hay kĩ thuật cơ khí là ngành ứng dụng các nguyên lí
vật lí để tạo ra các loại máy móc hoặc các vật dụng hữu ích. Cơ khí áp dụng
các nguyên lí nhiệt động lực học, định luật bảo toàn khối lượng và năng lượng
để phân tích các hệ vật lí tĩnh và động, phục vụ cho công tác thiết kế trong các
lĩnh vực như ô tô, máy bay và các phương tiện giao thông khác, các hệ thống
gia nhiệt và làm lạnh, đồ dung gia đình, máy móc, thiết bị sản xuất vũ khí…
Các sản phẩm do ngành cơ khí chế tạo ra đều được gọi là sản phẩm cơ khí.
2. Lịch sử ngành cơ khí
2.1. Thế giới
Lịch sử phát triển xã hội loài người trải qua các thời kì khác nhau từ
thời kì đồ đá sang đồ đồng, đồ sắt với các công cụ lao động ngày càng được
cải tiến và gia công từ kim loại. Từ đó hình thành nên các cơ sở sản xuất nhỏ
và mang tính chất thủ công đặt nền móng đầu tiên cho ngành cơ khí, nhưng
chưa thể tạo ra ngành cơ khí theo đúng nghĩa của nó.

thời kì đồng thau.
Thời Pháp thuộc cũng chưa tạo ra ngành cơ khí đúng nghĩa mà chỉ
đóng khung ở sửa chữa, lắp ráp một số phương tiện nhỏ như nhà máy xe lửa
Gia Lâm ( Hà Nội ), Tràng Thi ( Nghệ An )…lớn nhất là sữa chửa tàu biển ở
Ba Son ( Sài Gòn).
* Sau năm 1954:
+ Ở miền Bắc dựa vào cơ sở cơ khí từ căn cứ kháng chiến chuyển về,
được sự giúp đỡ của Liên Xô cũ năm 1958 xây dựng nhà máy cơ khí Trần
Hưng Đạo ( Hà Nội ) sản xuất động cơ các loại, sau đó là nhà máy cơ khí
công cụ số 1 sản xuất các máy công cụ hạn nhẹ và hạn nặng, được coi là đứa
con đầu lòng của ngành cơ khí ở miền Bắc. Tiếp theo đó một số nhà máy cơ
khí chuyên ngành cũng ra đời: cơ khí chế tạo mỏ, cơ khí lâm nghiệp, cơ khí
nông nghiệp…
+ Ở miền Nam chủ yếu là gia công, sữa chửa, lắp ráp các thiết bị lẻ
phục vụ đời sống như: xe máy, máy khâu, tủ lạnh, máy thu thanh…
* Từ sau 1975 đến nay:
Tuy có những bước thăng trầm nhưng ngành cơ khí đã phát triển tương
đối toàn diện, có sự chuyên môn hóa theo một số ngành cần thiết phục vụ cho
nền kinh tế quốc dân. Từ chỗ nặng về sửa chữa chúng ta đã có ngành cơ khí
chế tạo với trình độ phức tạp như sản xuất máy công cụ chính xác, cơ khí điện
tử…có thể chế tạo được nhiều loại máy công cụ loại vừa và nhỏ cùng các
thiết bị chuyên ngành như: thiết bị điện, máy bơm các loại, máy kéo…
Bên cạnh đó với đội ngũ thợ lắp ráp lành nghề đạt trình độ cao ngành
cơ khí đủ sức lắp ráp các máy móc, thiết bị kĩ thuật hiện đại như: thiết bị
thủy- nhiệt điện, giàn khoan dầu khí, lắp ráp xe hơi, các thiết bị điện tử vi
mạch phức tạp.
3. Vai trò của ngành cơ khí
- Công nghiệp cơ khí đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các ngành
công nghiệp. Nó không chỉ là “quả tim” của công nghiệp nặng, mà còn là
“máy cái” của nền sản xuất xã hội. Công nghiệp cơ khí cung cấp máy công

có khả năng phát triển rộng rãi hình thức chuyên môn hoá và hợp tác hoá với
xu hướng tập trung thành từng cụm và trung tâm công nghiệp gồm nhiều nhà
máy có sự phân công và hợp tác sản xuất các bộ phận, chi tiết, thiết bị.
Ngoài nhiệm vụ chế tạo, ngành công nghiệp cơ khí còn sửa chữa các
máy móc, thiết bị cho tất cả các ngành công nghiệp. Vì thế cùng với xu hướng
phân bố tập trung, nó còn có xu hướng phân bố phân tán khắp các vùng để
đáp ứng nhu cầu sửa chữa.
Các sản phẩm của ngành cơ khí là loại sản phẩm được lắp ráp từ nhiều
bộ phận, chi tiết, được sản xuất theo các công nghệ khác nhau, với đặc điểm
và yêu cầu kĩ thuật khác nhau nên các sản phẩm cơ khí đòi hỏi độ chính xác
cao nhằm tạo ra sự đồng bộ và có thể vận hành một cách an toàn.
5. Phân loại
5.1. Phân ngành cơ khí
* Ngành cơ khí phân ra làm 4 phân ngành:
Phân ngành cơ khí thiết bị toàn bộ: máy có khối lượng và kích thước
lớn (sản xuất ra các máy cái: máy tiện, máy phay, máy bào…; máy phục vụ
cho các ngành giao thông, năng lượng, nông nghiệp…) sử dụng nhiều kim
loại đòi hỏi trình độ kĩ thuật cao, lao động lành nghề, thường tập trung ở các
vùng luyện kim ở các nước công nghiệp phát triển.
Phân ngành cơ khí máy công cụ: máy có khối lượng và kích thước
trung bình (cho giao thông: ô tô, mô tô, ca nô; cho nông nghiệp: máy bơm,
xay xác…; cho công nghiệp: máy dệt, máy may…) có mặt hầu hết ở các nước
phát triển và đang phát triển với mức độ khác nhau.
Phân ngành cơ khí hàng tiêu dùng ( cơ khí dân dụng: máy giặt, tủ
lạnh…, máy phát điện và động cơ điện loại nhỏ…) có hai xu hướng phát triển
và phân bố: các sản phẩm có chất lượng cao được tập trung ở các nước công
nghiệp phát triển, còn sản xuất theo mẫu có sẵn, lắp ráp, sửa chữa tập trung
nhiều tại các nước đang phát triển.
Phân ngành cơ khí chính xác ( thiết bị y tế, quang học, thiết bị nghiên
cứu, kĩ thuật điện, chi tiết máy của ngành hàng không, vũ trụ…) chỉ có ở các

động có trình độ, tay nghề cao… Trên thế giới các vùng và trung tâm công
nghiệp cơ khí thường gắn liền với công nghiệp luyện kim như vùng Đông Bắc
Hoa Kỳ với trung tâm Đitơroi và Chicagô; vùng Rua ở CHLB Đức, vùng
Đoong- kec và Loren ở Pháp; vùng Uran và vùng Trung tâm ở Liên bang
Nga; vùng ven biển phía Đông của Nhật Bản với các trung tâm Tôkiô,
Iôcôhama; vùng Đông Bắc Trung Quốc và duyên hải phía Đông với các trung
tâm Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải; vùng Tây Bắc Ấn Độ với trung tâm
Mumbai.
6.2. Tình hình phát triển
a. Theo quốc gia
Ngành công nghiệp cơ khí trên thế giới chế tạo ra đủ loại sản phẩm
phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Các nước kinh tế phát triển như Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Nga đi đầu trong lĩnh vực này bởi vì nó đã được
phát triển và hoàn thiện qua hai cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và
lần thứ hai.
Các sản phẩm của ngành công nghiệp cơ khí rất phong phú và đa dạng.
Trong số này, quan trọng nhất là các máy công cụ, các máy đo lường chính
xác dùng trong công nghiệp và nghiên cứu khoa học, các máy móc và thiết bị
phục vụ cho nhu cầu đời sống con người.
Trình độ phát triển giữa các nước còn có sự chênh lệch khá lớn. Ở một
số nước phát triển, công nghiệp cơ khí chiếm từ 30 đến 40% giá trị sản xuất
công nghiệp như CHLB Đức (40%), Nhật Bản (40%), Hàn Quốc (30%)…
Thực tế cho thấy ngành cơ khí đóng vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của nền kinh tế thế giới. Việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm cơ khí
tạo nên sự giàu có của các quốc gia phát triển trong thời gian trước đây và
thúc đẩy phát triển kinh tế ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Bảng 1.1. Quy mô của ngành cơ khí chế tạo ở một số nước giai đoạn
1995 – 2006 ( đơn vị: % )
Nước
Tăng trưởng về sản lượng các sản


La
Tinh
Tây
Âu
Các
nươc
EU
Đông
Âu
Trung
Đông &
Châu Phi
Châu
Á
Năm 2006 29.3 5.0 30.2 2.3 2.3 6.4 24.5
Giai đoạn
2002-2005
26.3 5.1 27.9 2.9 2.6 6.8 24.4
Nguồn: UN comtrade statistics
Nhận xét:
Thị phần các sản phẩm cơ khí chế tạo lớn nhất là khu vực Tây Âu, Bắc
Mĩ và Châu Á, nhỏ nhất là khu vực Đông Âu và các nước EU.
Thị phần các sản phẩm cơ khí chế tạo của các khu vực trên thế giới có
sự biến động theo 2 xu hướng:
+ Khu vực Bắc Mĩ, Tây Âu và Châu Á tăng lên: Bắc Mĩ tăng từ 26.3%
(2002 – 2005) lên 29.3% (2006), Tây Âu tăng từ 27,9% (2002 – 2005) lên
30.2%( 2006), Châu Á có tăng nhưng tăng rất chậm từ 24.4% (2002-2005) lên
24.5% (2006).
+ Các khu vực còn lại có xu hướng giảm: giảm mạnh nhất là các nước

Bảng 1.3 Xuất khẩu máy động lực thế giới phân theo thị trường qua các năm
2002 2004 2007
Trị giá
(tỉ USD)
Thị
phần
(%)
Trị giá
(tỉ USD)
Thị
phần
(%)
Trị giá
(tỉ USD)
Thị
phần
(%)
Trung Quốc 3.04 1.72 5.86 2.39 10.70 3.59
Pháp 11.6 6.56 16.22 6.61 18.10 6.07
Đức 25.24 14.26 41.61 16.96 46.67 15.65
Ấn Độ - - 0.82 0.33 1.33 0.45
Italia 8.78 4.96 13.67 5.57 13.42 4.50
Nhật Bản 18.9 10.71 24.43 9.96 29.23 9.79
Malaysia 0.68 0.39 0.86 0.35 1.24 0.42
Hàn Quốc 1.97 1.11 2.64 1.08 4.04 1.35
Thái Lan 0.85 0.48 2.14 0.87 2.58 0.86
Anh 17.69 9.96 21.27 8.67 24.71 8.28
Hoa Kì 37.14 20.98 41.37 16.87 53.85 18.04
Nguồn: UN comtrade statistic
Nhận xét:

Nhật Bản 1.37 2.25 2.65
Hàn Quốc 0.15 0.30 0.44
Malaysia 0.035 0.057 0.092
Thái Lan 0.038 0.059 0.086
Anh 1.83 2.04 2.87
Hoa Kì 5.32 6.85 9.77
Nguồn: UN comtrade statistic
*Nhóm sản phẩm thiết bị kĩ thuật điện
Trong năm 2007, các quốc gia có thị phần xuất khẩu lớn đối với nhóm
sản phẩm này là Trung Quốc (16.13%), Đức (9.96%), Hoa Kì (8.44%). Một
số nước Châu Á cũng giữ thị phần tương đối lớn trên thị trường thế giới như:
Nhật Bản (6,99%), Hàn Quốc (2.88%)
Hiện nay việc sản xuất nhiều loại thiết bị kĩ thuật điện được các nước
phát triển chuyển giao sang sản xuất tại các nước đang phát triển, nơi có chi
phí sản xuất thấp hơn như: Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia…
Giá trị xuất khẩu của nhóm thiết bị kĩ thuật điện có mức độ phân tán
cao hơn so với nhóm máy động lực và nhóm sản phẩm cơ khí phục vụ nông –
lâm – ngư nghiệp.
Tuy nhiên, thiết bị kĩ thuật điện là nhóm có tốc độ tăng trưởng trung
bình tương đối thấp. Trong năm 2003 giá trị xuất khẩu thiết bị kĩ thuật điện
thế giới giảm 13.87%, năm 2007 thị trường bắt đầu phục hồi và tăng trưởng
trở lại đạt mức 7.98%.
Bảng 1.5 Mười nước đứng đầu thế giới trong xuất khẩu máy móc, thiết bị cơ
khí năm 2010
Nguồn: UN comtrade statistics
b. Nhập khẩu
*Nhóm sản phẩm máy động lực
Thị trường nhập khẩu máy động lực là một trong những thị trường có
tốc độ tăng trưởng cao. Năm 2007 kim ngạch nhập khẩu máy động lực thế
giới đạt 280.57 tỉ USD. Các nước phát triển vừa là nước xuất khẩu đồng thời

này đang theo đuổi chiến lược sản xuất trong nước thay thế nhập khẩu nên giá
trị các sản phẩm cơ khí phục vụ nông – lâm – ngư nghiệp nhập khẩu không
lớn.
*Nhóm thiết bị kĩ thuật điện
Thiết bị kĩ thuật điện là các sản phẩm cần thiết đối với mọi nền kinh tế
nên hầu hết các nước đều tiêu dùng loại sản phẩm này. Do tính chất đa dạng
của các sản phẩm nên không có nước nào có thể tự sản xuất được tất cả các
sản phẩm để đáp ứng yêu cầu tiêu thụ nội địa. Vì vậy ngay cả những nước
đứng đầu thế giới về xuất khẩu một số thiết bị kĩ thuật điện cũng phải nhập
khẩu các loại thiết bị điện khác mà họ chưa sản xuất được để phục vụ nhu cầu
trong nước.
Các nước nhập khẩu thiết bị kĩ thuật điện lớn là Hoa Kì (19.57%), Đức
(6.41%), Nhật Bản (4.55%). Ngoài ra một số nước thuộc nhóm công nghiệp
mới như Hàn Quốc và những nước đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ
như Trung Quốc cũng nhập khẩu một khối lượng lớn các thiết bị kĩ thuật điện
từ nước khác.
Bảng 1.6 Mười nước đứng đầu thế giới trong nhập khẩu máy móc, thiết bị cơ
khí năm 2010
Tên nước Giá trị ( tỉ USD )
Hoa Kì 173.18
Trung Quốc 142.60
Đức 97.91
Pháp 55.02
Anh 52.45
Canada 45.93
Hồng Kông 42.52
Hàn Quốc 42.25
Xingapo 39.65
Mêxico 39.56
Nguồn: UN comtrade statistics

+ Từ năm 1995 – 2005 tăng tương đối nhanh, năm 2005 tăng gấp 6.5
lần so với năm 1995; từ 13,839 tỉ đồng (năm 1995) lên 89,780 tỉ đồng (năm
2005) tức tăng 75,941 tỉ đồng.
+ Từ năm 2005 – 2007 tăng nhanh, đặc biệt từ 2006 – 2007, năm 2007
tăng gấp 1.23 lần so với năm 2006 ( từ 91,737 tỉ đồng lên 113,317 tỉ đồng).
Tuy nhiên, ngành cơ khí Việt Nam vẫn còn tụt hậu khá xa so với các
nước trong khu vực. Theo xếp hạn về hiệu suất công nghiệp, Việt Nam hiện
đứng sau Inđônêsia 15 bậc, sau Philippin 25 bậc, sau Thái Lan, Malayxia…
Trong 10 năm tận dụng ưu đãi của Chính phủ theo quyết định 186 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “ Chiến lược phát trển ngành cơ khí Việt
Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020 ”, ngành cơ khí mới chỉ chế tạo được thiết
bị đồng bộ cho các lĩnh vực nhiệt điện, xi măng, hóa chất, đóng tàu biển và
lắp ráp ô tô.
Hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam mới đáp ứng 34% nhu cầu sản phẩm
cơ khí trong nước, 64% thị phần còn lại rơi vào tay các doanh nghiệp cơ khí
nước ngoài. Nhiều dự án tổng thầu xây dựng nhà máy, công trình quốc gia,
doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đều thua các nhà thầu ngoại.
7.3. Tình hình xuất nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Hiện nay, nhiều mặt hàng cơ khí do các doanh nghiệp Việt Nam sản
xuất ra không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu
được sang thị trường của nhiều nước trên thế giới, kể cả thị trường của các
nước phát triển.
Các thị trường xuất khẩu sản phẩm cơ khí chính của Việt Nam là: Nhật
Bản, các nước Trung Đông, Nam Mĩ, các nước Châu Phi, đặc biệt là các nước
trong khu vực ASEAN như: Philippin, Inđônêsia, Thái Lan…
+ Nhóm sản phẩm máy động lực: thị trường xuất khẩu ban đầu chủ yếu
là các nước trong khu vực ASEAN sau đó mở rộng dần sang Trung Quốc,
Hàn Quốc, Đài Loan…Một số sản phẩm đã được xuất khẩu sang các nước
phát triển như Nhật Bản, EU, Hoa Kì, Austraylia…

Năm Giá trị ( triệu USD )
2005 4049.95
2006 5269.77
2007 7963.42
2008 10242.67
2009 9013.21
2010 10448.50
Nguồn: UN comtrade statistics
7.4. Những tồn tại, hạn chế của ngành cơ khí Việt Nam và giải pháp
a. Những tồn tại, hạn chế
Công nghệ chế tạo sản phẩm cơ khí của Việt Nam còn khá đơn giản và
lạc hậu, không có sự chuyển giao công nghệ, trong khi đó đầu tư cho cơ khí
nhỏ bé, phân tán, dàn trãi, ít quan tâm đầu tư theo chiều sâu.
Các sản phẩm cơ khí mẫu mã chưa đa dạng, chất lượng thấp, giá thành
cao nên sức cạnh tranh kém so với các nước trong khu vực.
Sản phẩm cơ khí Việt Nam chưa có thương hiệu riêng, chưa tạo được
uy tín trên thị trường.
Khi Việt Nam gia nhập WTO mọi bảo hộ và thuế bị dỡ bỏ, chỉ còn lại
các rào cản kỹ thuật. Nhưng đến nay chúng ta chưa có các rào cản kỹ thuật
hợp pháp đủ mạnh, đủ hiệu lực để bảo vệ các sản phẩm cơ khí trọng điểm.
Thêm vào đó chúng ta chưa có đầy đủ các phương tiện để kiểm định sự hợp
tiêu chuẩn với các sản phẩm cơ khí.
Sự quản lý thị trường kém hiệu lực, lỏng lẻo đang diễn ra đối với các sản
phẩm cơ khí. Do chưa có đầy đủ các phương tiện, thiết bị kiểm tra cùng trình
độ của cán bộ quản lý thị trường yếu nên nhiều sản phẩm cơ khí không đạt
tiêu chuẩn sẽ vẫn được lưu thông trên thị trường, hàng lậu, hàng giả sẽ hoành
hành.
Ngành cơ khí còn thiếu nhiều hiệp hội chuyên ngành để tập hợp, phối hợp
lực lượng phân công chuyên môn hoá, hợp tác hoá làm tăng sức mạnh cạnh
tranh.

Nâng cao vai trò của các hiệp hội ngành hàng và hiệp hội doanh nghiệp
trong việc thúc đẩy phát triển ngành cơ khí.
KẾT LUẬN
Công nghiệp cơ khí luôn là một trong những ngành then chốt đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội trên toàn thế giới. Ngày nay tất cả các máy móc vận
hành trong các dây chuyền sản suất, hoạt động ở mọi nơi đều là sản phẩm của
ngành cơ khí. Với vai trò to lớn đó, ngành cơ khí ngày càng được mở rộng và
nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tiêu dùng của
con người.
Tuy nhiên ngành cơ khí chưa phát triển đồng bộ mà chỉ tập trung ở các
nước phát triển, vì vậy các nước đang phát triển cần có biện pháp điều chỉnh
phù hợp để phát triển ngành cơ khí đúng hướng, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, rút ngắn khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước
đang phát triển.
Tài Liệu Tham Khảo
1. Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam ( Lê Thông )
2. Giáo trình địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam ( Nguyễn Duy Hòa )
3. Giáo trình địa lí kinh tế - xã hội đại cương ( Nguyễn Thị Mây )
4. www.tailieu.vn
5. www.indexmundi.com
6. www.un.org
7. www.violet.vn
8. www.bachkhoatrithuc.vn
9. www.tailieutonghop.com
10.www.vi.wikipedia.org


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status