MỞ ĐẦU
Cây lương thực là nguồn cung cấp tinh bột chủ yếu cho con người và gia
súc. Cây lương thực còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế
biến lương thực thực phẩm, thực phẩm (rượu, bia, bánh, kẹo ) và là mặt hàng
xuất khẩu có giá trị.
Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO):
lúa gạo (Rice), lúa mì (Wheat), ngô (Maize), kê (Sorghum), lúa mạch (Barli).
Năm loại lương thực có hạt này gọi là ngũ cốc.
NỘI DUNG
1. ĐỊA LÝ CÂY LÚA MẠCH
1.1 Khái quát chung
Lúa mạch
là tên gọi chung
cho một số cây
lương thực ôn
đới gồm: đại
mạch, kiều
mạch, mạch
đen.
Lúa mạch
được trồng
nhiều ở các nước công nghiệp phát triển thuộc xứ lạnh.
LÚA MẠCH
KIỀU MẠCHĐẠI MẠCH
Hình 1: Một số hình ảnh về lúa mạch
- Đặc điểm sinh thái
Lúa mạch là cây lương thực ngắn ngày thời gian sinh trưởng trung bình
85-100 ngày, chịu lạnh giỏi không kén đất như lúa mì.
- Giá trị:
Lúa mạch được sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu cho công nghiệp thực
Triệu tấn
năm
Năm 1961 1995 2000 2005 2010
Châu Phi 2.6 2.2 1.6 3.3 5.4
Châu Mĩ 17.3 16.0 16.8 13.6 13.0
Châu Á 22.4 17.3 13.2 16.1 16.0
Châu Âu 56.3 60.2 63.1 59.9 59.5
Châu Đại Dương 1.4 4.3 5.3 7.1 6.2
Thế giới 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
- Tổng sản lượng lúa mạch toàn cầu thể hiện rõ xu hướng giảm đi. Năm
2010, tổng sản lượng lúa mạch đạt 123.54 triệu tấn, giảm so với năm 1995 là
140.95 triệu tấn, 133.11 triệu tấn(năm 2000) và 138.66 triệu tấn vào năm
2005.
- Theo khu vực địa lí, Châu Âu có sản lượng lúa mạch đứng đầu thế
giới, đạt 73.49 triệu tấn, chiếm 59.5%( năm 2010).
Từ năm 1961-2010, sản lượng lúa mạch của châu lục có sự thay đổi rõ
rệt: Năm 1961, sản lượng lúa mạch của châu Âu là 40.74 triệu tấn.
Sau đó, đến năm 1995 tăng lên 84.86 triệu tấn, tăng gấp đôi so với năm
1961 trong vòng 34 năm. Nhưng sau đó, sản lượng lúa mạch bắt đầu giảm nhẹ
từ năm 2000-2010, giảm từ 84.02 triệu tấn(năm 2000), xuống 73.49 triệu
tấn(năm 2010).
- Châu Á có sản lượng lúa mạch đứng thứ 2 trên thế giới với 19.74 triệu
tấn(năm 2010), chiếm 16%. Nhìn chung, sản lượng lúa mạch của châu Á cũng
có xu hướng giảm đi. Cụ thể:
Từ năm 1961-1995, sản lượng lúa mạch tăng từ 16.24 triệu tấn lên 24.39
triệu tấn. Sau đó lại giảm xuống còn 17.55 triệu tấn vào năm 2000.
Đến năm 2005, tăng lên 22.32 triệu tấn, rồi sau đó lại giảm xuống còn
19.74 triệu tấn vào năm 2010.
- Châu Mĩ có sản lượng lúa mạch đáng kể, đạt 16.02 triệu tấn vào năm
2010, chiếm 13%.
- Giá trị:
Đại mạch là một loại cây lương thực được trồng để sản xuất mạch nha
và nuôi gia cầm, gia súc.
- Tình hình sản xuất:
Sản lượng đại mạch toàn cầu năm 2006 đạt 138.70 triệu tấn, con số này
năm 2005 là 141.33 tấn và năm 1961 là 72.41triệu tấn. Trong những năm gần
đây, nếu tính sản lượng đại mạch toàn thế giới là 100% thì Liên Xô đạt tỷ lệ
29%, Canada 7%, Pháp 7%, các nước khác còn lại chiếm 50%.
1.2.2. Kiều mạch
- Nguồn gốc:
Quê hương của kiều mạch ở Trung Á. Ở Liên Xô, kiều mạch được trồng
từ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Bielorutxia cho đến Viễn Đông,
KIỀU MẠCH
diện tích gieo năm 1962 đã lên 2460 nghìn ha, gần bằng 2-3 diện tích gieo
trồng toàn thế giới trước Đại chiến lần thứ 2. Kiều mạch được đưa vào trồng ở
các vùng núi Ấn Độ, Đông Trung Quốc từ thế kỉ V; còn Tây Âu nhập nội vào
thế kỉ IX với nhiều dạng khác nhau.
- Đặc điểm:
Cây thảo, thân mọc đứng, cao 30-80cm, phân cành nhiều. Lá dài từ 1,7
đến 6,5 cm,dạng ba cạnh, hình trái tim. Hằng năm hoa nở vào tháng 7. Quả có
ba mặt ,chứa một hạt hình trứng dài 5-7 mm. Lúc chín quả ngả màu nâu xẩm
nên cây còn có tên gọi phổ biến là “ lúa mì đen”.
- Điều kiện sinh thái:
Mọc được trên đất nghèo chịu được độ chua lớn, hầu như có thể mọc
được trên mọi loại đất trừ đất quá ẩm, đất bí và đất đá vôi.Cây thích nghi với
khí hậu ẩm và mát, chịu lạnh yếu, sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 15-22
0
C trong
thời gian 70-90 ngày, ra hoa kết quả dài ngày. Thu hái cây vào lúc mới có
hoa.
- Phân bố:
Lúa mạch đen trở thành cây trồng chính trên đất cát băng hà, sét đá lẫn
lộn ở phía Bắc Đông Đức. Cây cũng được trồng trên đất cát pha và cát pha
LÚA MẠCH ĐEN
pootzon ở Ba Lan; ngoài ra còn gieo trồng khắp các nước ôn đới. Ở châu Á,
thấy trồng ở Apganixtan, Iran, Tiểu Á, bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản. Ở châu
Phi, thấy ở Angieri, Nam Phi. Châu Mĩ: Canada, Hoa Kỳ, Achentina, Braxin,
Uruguay, Chile, Ôxtraylia
- Phân loại:
Gồm mạch đen mùa đông và mạch đen mùa xuân. Ở Liên Xô lúa
mạch đen mùa đông chủ yếu trồng ở đới rừng và vùng núi Trung Á, mạch đen
mùa xuân chỉ trồng trong vùng Đông Xibia và Đông Âu trở về bắc.
- Giá trị:
Lúa mạch đen chắc hạt, nấu dẻo, bảo quản được lâu. Bột phớt nâu
thường được trỗn lẫn với bột mì để làm bánh mà người châu Âu rất quen biết.
Trong công nghệ làm bánh mì, lúa mạch đen đứng thứ 5 thế giới và đứng thứ
2 ở Liên Xô. Cũng từ hạt lấy ra được bột tinh và cất thành rượu cồn. Lúa
mạch đen còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc. Thân cây dùng để phủ
đất làm phân xanh, làm thức ăn tươi hoặc khô. Rơm dài và chắc hơn rơm lúa
mì dùng để lợp nhà, làm giấy; loại rơm tốt thường dùng để nhồi vào đẹm ghế
hoặc làm đồ đan lát như bện thành giây, làm mũ, đan thảm lót
- Tình hình sản xuất:
Hiện nay, nếu tính tỉ lệ phần trăm so với sản lượng lúa mạch đen của
toàn thế giới thì Liên Xô sản xuất được 42%, BaLan 27%, các nước
khác:31%.
2. ĐỊA LÝ CÂY CAO LƯƠNG
Đối với hàng triệu người ở vùng nhiệt đới bán khô cằn của châu Á và
châu Phi, cao lương và kê là loại lương thực quan trọng nhất. Những cây
trồng này duy trì cuộc sống của những người nông dân nghèo và sẽ tiếp tục
vai trò to lớn này trong tương lai gần. Khác với lúa mạch, Cao lương và kê lại
Cadacxtan, nam Vônga
Cao lương đường được trồng ở Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, ở nhiều
nước thuộc châu Phi và ở Liên Xô ( vùng Trung Á và Ucraina), Hoa Kỳ.
Cao lương đường Cao lương trung hoa
- Giá trị:
Hạt cao lương được dùng làm thức ăn cho gia súc và gia cầm. Chỉ ở
những nước nghèo ở Châu Á và Châu Phi hạt cao lương mới được dùng làm
lương thực.
2.2 Tình hình sản xuất:
Cao lương là một trong những cây ngũ cốc quan trọng đối với hơn
500 triệu người tại 30 quốc gia. Nó được trồng trên 40 triệu ha trong 105 quốc
gia. Mỹ, Ấn Độ, Mexico, Nigeria, Sudan và Ethiopia là những nhà sản xuất
lớn. Các nước sản xuất cao lương khác bao gồm Australia, Brazil, Argentina,
Trung Quốc, Burkina Faso, Mali, Ai Cập, Niger, Tanzania, Chad và Camerun.
Sản lượng cao lương trên thế giới đạt trung bình khoảng 60 triệu
tấn/năm. Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Châu Phi trồng nhiều cao lương.
Mỹ có sản lượng cao lương cao nhất thế giới, chủ yếu ở các bang Texas,
Kansas, Nebraska, Missouri, Oklahoma chiếm khoảng 80% sản lượng cả
nước Mỹ.
Tại châu Phi, cao lương được trồng trong một vành đai lớn lây lan từ bờ
biển Đại Tây Dương đến Ethiopi và Somali, giáp với sa mạc Sahara ở phía
bắc và rừng xích đạo ở phía nam. Khu vực này mở rộng thông qua các bộ
phận của miền đông và miền nam châu Phi, nơi có lượng mưa quá thấp.
Ở Trung và Nam Mỹ, cao lương được trồng ở các bộ phận khô của
Mexico, Nicaragua, vùng đất thấp của Argentina, các khu vực khô của miền
bắc Colombia, Venezuela, Brazil và Uruguay. Tại Bắc Mỹ, cao lương được
trồng ở các bộ phận của vùng đồng bằng miền Trung và miền Nam của Hoa
Kỳ nơi có lượng mưa thấp.
Còn ở châu Á, cao lương được trồng rộng rãi ở Ấn Độ, Trung Quốc,
Hình 8: Sản lượng cao lương của các châu lục năm 2010(triệu tấn)
- Sản lượng cao lương trên thế giới có xu hướng giảm.
Năm 1961-1995 sản lượng cao lương tăng mạnh từ 40.93 triệu tấn tăng
lên 54.57 triệu tấn . Sau đó, sản lượng cao lương có nhích lên, tăng từ 54.57
triệu tấn lên 55.85 triệu tấn vào năm 2000 và 60.6 triệu tấn vào năm 2005.
Nhưng dến năm 2010 giảm xuống còn 55.72 triệu tấn.
- Theo khu vực địa lí, sản lượng cao lương tập trung chủ yếu ở châu Mĩ và
châu Phi, chiếm tỉ lệ tương ứng là 40.39% và gần 40%. Vì thế, mọi biến động
lớn trong sản xuất cao lương ở hai châu lục này có ảnh hưởng lớn đến thị
trường cao lương toàn cầu.
Châu Á chiếm tỉ lệ tương đối đáng kể là 17.6%. Sau cùng, châu Âu và
châu Đại Dương có sản lượng cao lương không đáng kể, với tỉ trọng 1.3% và
2,9 % tổng sản lượng cao lương toàn cầu.
_ Nhìn chung, sản lượng cao lương của châu Á và châu Phi đang có xu
hướng giảm, còn châu Mĩ đang có xu hướng tăng lên.
Nước
Diện tích Sản lượng
Triệu ha
% so với thế
giới
Triệu tấn
% so với thế
giới
Ấn Độ 7.8 19 6.7 12.0
Sudan 5.6 13.7 2.6 4.7
Nigieria 4.7 11.6 4.8 8.6
Hoa Kỳ 2.0 4.8 8.8 15.8
Bukinafaso 2.0 4.8 2.0 3.6
Mexico 1.8 4.3 7.0 12.5
Ethiopia 1.6 4.0 3.0 5.3
Độ, Nigieria,Nigie, Xudang, Uganda…
- Giá trị:
Kê được trồng rộng rãi trên thế giới làm lương thực hoặc trồng lấy thân
xanh. Đây là một trong những loại thực phẩm lâu đời nhất trên thế giới và có
thể là loại hạt ngũ cốc đầu tiên sử dụng trong gia đình, là một phần rất có ý
nghĩa trong bữa ăn ở miền bắc Trung Quốc, Nhật Bản và một vài vùng ở Liên
Xô, Châu Mỹ.
3.2 Tình hình sản xuất:
Kê là loại cây trồng chính ở Trung Quốc, một phần ở Châu Phi và Ấn Độ,
những nơi che phủ gần 41 triệu hecta và phát triển mạnh ở những nơi có khí
hậu khô không thuận lợi cho những cây trồng khác phát triển như lúa mỳ và
gạo (Karen Railey). Sản lượng kê của thế giới dao động khoảng 26-29 triệu
tấn/năm. Nhìn chung, sản lượng kê trên toàn thế giới đang có xu hướng tăng.
Sản lượng kê toàn cầu năm 2010 đạt 31.58 triệu tấn, so với năm 2005 đạt
30.96 triệu tấn và năm 1961 đạt 25.71 triệu tấn.
Năm 1961 1995 2000 2005 2010
Châu Phi 6.58 12.11 12.72 16.68 15.26
Châu Mĩ 0.37 0.25 0.21 0.32 0.27
Châu Á 15.99 12.48 13.09 13.26 15.67
Châu Âu 2.73 0.77 1.57 0.66 0.33
Châu Đại Dương 0.022 0.04 0.05 0.02 0.04
Thế giới 25.71 25.67 27.66 30.96 31.58
Bảng 3: Sản lượng kê của các châu lục trên thế giới từ giai đoạn 1961-2010
( Đơn vị: triệu tấn)
BẢNG XỬ LÝ SỐ LIỆU: (Đơn vị: %)
Năm 1961 1995 2000 2005 2010
Châu Phi 25.62 47.17 46.01 53.88 48.34
Châu Mĩ 1.45 1.00 0.77 1.05 0.86
Châu Á 62.21 48.63 47.34 42.84 49.63
Châu Âu 10.64 3.03 5.68 2.15 1.05
Nigieria, Sudan, Mali, Bukinafaso, Senegal, Chad, Trung Quốc, Pakixtan.
Năm 2010 diện tích trồng kê trên toàn thế giới là 34.79 triệu ha, thì mười
nước này đã có tới 30.2 triệu ha và chiếm tới 87.1%. Ấn Độ là nước có diện
tích kê lớn nhất thế giới với 11.15 triệu ha, chiếm tới 32%. Sau đó là Nigie và
Nigieria, tỉ lệ tương ứng là 20.8% và 10.8%.( Bảng 4)
Hình 10: Sản lượng kê của các châu lục năm 2010
Đơn vị: triệu tấn
Nước Diện tích ( triệu ha) % so với tổng diện tích thế giới
Ấn Độ 11.15 32.0
Nigie 7.25 20.8
Nigieria 3.74 10.8
Sudan 2.01 5.8
Mali 1.46 4.2
Bukinafaso 1.36 3.9
Senegal 1.03 3.0
Chad 0.98 2.8
Trung Quốc 0.75 2.2
Pakixtan 0.47 1.6
(FAO: 2010)
Bảng 4: Mười nước có diện tích trồng kê đứng đầu thế giới năm 2010
Nước Sản lượng (triệu tấn) % so với tổng sản lượng thế giới
Ấn Độ 13.29 42.1
Nigieria 4.12 13.1
Nigie 3.84 12.2
Mali 1.37 4.3
Trung Quốc 1.26 4.0
Bukinafaso 1.14 3.6
Uganđa 0.85 2.7
Senegal 0.81 2.6
Chad 0.60 1.9
nhưng về mặt phân bố hiện nay lại chịu tác động mạnh mẽ của yếu tố kinh tế
-kỹ thuật. Nghiên cứu điều kiện sinh thái, giá trị sử dụng và lợi nhuận kinh tế
của các cây trồng nói chung và cây lúa mạch, cao lương và kê nói riêng là
việc làm cần thiết và quan trọng nhằm khai thác tối đa giá trị của các loại cây
đó, góp phần vào sự phát triển của bất kì một quốc gia nào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông. Địa lí kinh tế -
xã hội đại cương. NXB Đại học Sư phạm, 2005.
2. Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Ngọc Lân. Địa lí cây trồng. NXB Giáo dục. Hà Nội,
1980.
3. Website FAO: http://www.fao.org
4. http://faostat.fao.org
5. Thư Viện Điện Tử: www.kilobooks.com