MỞ ĐẦU
Công nghiệp năng lượng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và cơ bản của một
quốc gia. Nền sản xuất hiện đại chỉ phát triển được với sự tồn tại của cơ sở năng lượng
nhất định. Năng lượng là tiền đề của tiến bộ khoa học – kỹ thuật.
Năng lượng là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người và là một yếu tố đầu vào
không thể thiếu được của hoạt động kinh tế. Khi mức sống của người dân càng cao, trình
độ sản xuất của nền kinh tế ngày càng hiện đại thì nhu cầu về năng lượng cũng ngày càng
lớn, và việc thỏa mãn nhu cầu này thực sự là một thách thức đối với hầu hết mọi quốc
gia.
Công nghiệp năng lượng bao gồm hàng loạt ngành công nghiệp khác nhau, từ việc khai
thác các dạng năng lượng như than, dầu mỏ… cho đến việc sản xuất điện năng, nhằm tạo
ra cơ sở động lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế và xã hội
đất nước. Nó có thể chia làm 2 nhóm ngành: nhóm ngành khai thác các mỏ nhiên liệu và
nhóm ngành khai thác ra điện. Trong đó ngành công nghiệp điện lực là một trong những
nghành quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia, là thước đo của sự văn
minh và tiến bộ của loài người…
NỘI DUNG
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN LỰC
1.1. Vai trò
Công nghiệp điện có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia:
Là mạch máu của nền kinh tế quốc gia.
Là cơ sở động lực cho các ngành kinh tế, công nghiệp điện lực được coi như mảng cơ sở
hạ tầng quan trọng nhất trong toàn bộ cơ cấu hạ tầng sản xuất. Việc phát triển ngành công
nghiệp này theo hàng loạt các ngành công nghiệp khác như: công nghiệp cơ khí, công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và xây dựng cơ bản khác. Đồng thời, nó cũng thu hút
các ngành công nghiệp sử dụng nhiều điện năng như luyện kim màu, chế biến kim loại,
chế biến thực phẩm, hóa chất, dệt…
Thông qua chỉ số tiêu dùng năng lượng bình quân theo đầu người, có thể phán đoán trình
độ phát triển kinh tế, kỹ thuật và văn hóa của một quốc gia.
Nguồn năng lượng mới góp phần giảm ô nhiễm môi trường đồng thời tiết kiệm các nguồn
tài nguyên khác. ví dụ như nguồn năng lượng mặt trời góp phần hạn chế sử dụng điện tiết
điện từ tua bin khí, dầu mỏ , song chủ yếu vẫn từ nhiệt điện, mặc dù cơ cấu này có sự
thay đổi ít nhiều theo thời gian và không gian.
Thông thường, các nước có nhiều than thì xây dựng các nhà máy nhiệt điện (Hoa Kỳ,
Trung Quốc, Nhật Bản, LB Nga, ấn Độ, CHLB Đức, Anh, Italia, Nam Phi, Hàn Quốc ),
các nước giàu thuỷ năng thì phát triển thuỷ điện (Canađa, Braxin, Trung Quốc, Hoa Kỳ,
LB Nga, Nauy, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Pháp, ấn Độ ), còn các quốc gia có nền kinh tế
phát triển và công nghệ tiên tiến thì chú trọng đến điện nguyên tử (Hoa Kỳ, Pháp, Nhật
Bản, CHLB Đức, LB Nga, Hàn Quốc, Anh, Canada, Ucraina, Thuỵ Điển ).
Tuy nhiên, do tính an toàn chưa thật cao và cả những sự cố đã xảy ra nên nhiều nước còn
dè dặt trong việc phát triển điện nguyên tử. Các nguồn điện khác như điện mặt trời, thuỷ
triều, sức gió, địa nhiệt chiếm tỷ trọng không đáng kể và phần lớn thuộc về các nước
phát triển.
- Sản lượng điện của thế giới tăng lên rất nhanh trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế
và mức sống ngày càng cao của dân cư. Trong vòng 50 năm qua, sản lượng điện toàn cầu
tăng trên 15 lần, trung bình mỗi năm tăng hơn 30%.
Mười nước nói trên cùng với chín nước tiếp theo (Italia, Tây Ban Nha, Oxtrâylia,
Ucraina, Thuỵ Điển, Ba Lan, Nauy, Mêhicô, Hàn Quốc) đã chiếm đại bộ phận sản lượng
điện của thế giới.
- Sản lượng điện bình quân theo đầu người cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng
dùng để đo trình độ phát triển và văn minh của các quốc gia.Nhìn chung, sản lượng điện
bình quân theo đầu người trên toàn thế giới đã được cải thiện rõ rệt, song có sự khác biệt
rất lớn giữa các khu vực và các nước.
Các quốc gia có sản lượng điện bình quân theo đầu người cao nhất thế giới là Aixơlen
(24.779 kwh/ người), Nauy (24.422 kwh/ người), Canađa (15.620 kwh/ người), Cata
(14.994 kwh/ người), Phần Lan (14.558 kwh/ người), Côoét (13.995 kwh/ người),
Lucxămbua (13.050 kwh/ người)…
Còn mức bình quân thấp nhất thuộc về các quốc gia kém phát triển ở châu Phi và Nam á
như Êtiôpi (22 kwh/ người), Haiti (37 kwh/ người), CHDC Cônggô (40 kwh/ người),
Môdămbích (53 kwh/ người)…
- Ở Việt Nam, công nghiệp điện lực giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
- Trên thực tế, việc sử dụng nước
tích trữ thỉnh thoảng khá phức tạp
bởi vì yêu cầu tưới tiêu có thể xảy ra
không trùng với thời điểm yêu cầu
điện lên mức cao nhất. Những thời
điểm hạn hán có thể gây ra các vấn
đề rắc rối, bởi vì mức bổ sung nước
không thể tăng kịp với mức yêu cầu
sử dụng.
- Những nhà môi trường đã bày tỏ lo
ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ
điện lớn có thể phá vỡ sự cân bằng
của hệ sinh thái xung quanh.
- Sự phát điện của nhà máy điện
cũng có thể ảnh hưởng đến môi
trường của dòng sông bên dưới.
- Việc tái định cư gặp nhiều khó
khăn…
- Những người tới giải trí tại các hồ
chứa nước hay vùng xả nước của
nhà máy thuỷ điện có nguy cơ gặp
nguy hiểm do sự thay đổi mực nước,
và cần thận trọng với hoạt động
nhận nước và điều khiển đập
tràn của nhà máy.
- Việc xây đập tại vị trí địa lý không
hợp lý có thể gây ra những thảm hoạ
như vụ Đập Vajont tại Ý, gây ra cái
chết của 2001 người năm 1963.
Nhiệt
hỗ trợ hiệu quả hoạt động của lưới
điện.
Điện hạt
nhân
- Điện hạt nhân thải ra một lượng
tương đối thấp khí CO2. Phát thải khí
nhà kính thấp do đó các nhà máy điện
hạt nhân chỉ góp phần tương đối bé
vào sự nóng lên toàn cầu
- Đây là công nghệ có sẵn, không đòi
hỏi phải nghiên cứu, phát triển nhiều.
- Có thể phát được một sản lượng
điện cao chỉ với một nhà máy duy
nhất.
- Chất thải phóng xạ vẫn còn là một
vấn đề chưa được giải quyết. Chất
thải từ năng lượng hạt nhân cực kì
nguy hiểm và phải được bảo quản
cẩn thận trong hàng năm.
- Rủi ro cao: mặc dù có một tiêu
chuẩn an toàn cao nhưng nhìn chung
các tai nạn vẫn có thể xảy ra, hậu
quả của một tai nạn là có sức tàn phà
tuyệt đối tới cả con người lẫn tụ
nhiên.
- Nguồn nguyên liệu cho điện hạt
nhân là Uranium. Uranium là một
nguồi tài nguyên khan hiếm.
- Việc xây dựng một nhà máy điện
hạt nhân phải trải qua thời gian dài.
- Ít tốn diện tích xây dựng
- Tiết kiệm chi phí truyền tải
- Tua – bine gió có vai trò trong cả
các nước thứ ba và các nước phát
triển.
- Phải có trình độ kỹ thật cao khi thi
công vận hành
- Phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện
thời tiết
- Tua – bine gió gây nhiều tiếng ồn.
2. TỔNG QUAN NGÀNH ĐIỆN THẾ GIỚI.
2.1. Tình hình chung
Trong tổng sản lượng điện năng sản xuất ra trên thế giới, phần tỷ lệ điện năng do các
nguồn nhiên liệu hữu cơ chiếm tỷ trọng chủ yếu, tỷ lệ thủy điện ngày càng giảm. Tỷ lệ hạt
nhân tăng rất nhanh trong các thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước, nhưng mấy năm gần đây
có xu hướng chững lại, ở một số nước bắt đầu giảm.
Sản lượng điện của 7 nước G7 chiếm một nửa tổng sản lượng điện của thế giới. Trừ
Canada là nước có tỷ lệ hữu thủy điện chiếm khoảng 2/3 tổng sản lượng điện và Pháp là
nước có tỷ lệ điện hạt nhân tăng rất nhanh (từ 23,8% năm 1980 tăng lên 77,1% năm
1995), năm nước còn lại có tỷ lệ nhiệt điện dùng nhiên liệu cơ từ 2/3 tổng sản lượng điện
trở lên, trong đó Mỹ và Đức có tỷ lệ nhiệt điện đốt than chiếm trên 50% trong suốt một
thời gian dài mấy chục năm. Hiện nay, ở hai nước này, tỷ lệ nhiệt điện đốt than vẫn chiếm trên
50% và có xu hướng tăng dần.
2.1.1. Tình hình phân bố
2.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ
Tên 10 cơ sở sản xuất điện lớn nhất
Hạng Tên nhà máy Quốc gia
Công
suất
( MW)
8 Longtan Dam Trung Quốc 6426 Thuỷ điện
9
Nhà máy điện hạt nhân
Uljin
Hàn Quốc
6157 44,81 Hạt nhân
10
Yeonggwang nhà máy
điện hạt nhân
Hàn Quốc
6139 48,16 Hạt nhân
Qua bảng số liệu ta có thể thấy được vai trò của các nhà máy thủy điện trong việc sản
xuất điện trên thế giới. Phần lớn các nhà máy sản xuất điện chủ yếu là các nhà máy thủy
điện 6/10 là nhà máy thủy điện.
2.2. Các nguồn điện
2.2.1. Thủy điện
a. Phân bố
Bản đồ phân bố thủy điện trên thế giới năm 2007
Qua bản đồ phân bố thủy điện năm 2006 của thế giới ta có thể thấy rằng:
Hầu hết các nhà máy thủy điện lớn tập trung chủ yếu ở các con sông lớn như:
+ Ở Bắc Mĩ: sông Mixixipi ( Hoa Kì ), sông Yucon – một con sông ngắn nhưng dốc và
có nước đầy quanh năm…, Mackendi ( Canada)…
+ Ở Nam Mĩ: lưu vực sông Amazon, sông Panama…
+ Ở Châu Á : sông Dương Tử, sông Hoàng Hà ( Trung Quốc ), các con sông lớn ở Nga
Tên 10 nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới:
Tên nhà máy
thủy điện
Công
suất
Đặc điểm Quốc gia
quan trọng của thủy điện này được
thực tế chứng minh vào năm 1995,
khi mà chỉ riêng Itaipu cung cấp 25%
năng lượng cho Brazil và 78% cho
Paraguay.
Itaipu có một con đập tràn nằm ở bên
bờ phải, với 14 đoạn cửa cống, tổng
tiềm năng lưu lượng là 62.200 m3/s
(đứng thứ 2 trong kỷ lục về lưu
lượng). Lượng sắt, thép được dùng để
tạo kết cấu cho con đập này có thể đủ
cho xây dựng 380 tháp Eiffel và
lượng xi măng sử dụng cho Itaipu gấp
15 lần lượng dùng để xây dựng đường
hầm nối giữa Pháp và Anh.
Xây dựng từ năm
1975 đến năm
1991 trên con
sông Parana.
Thuộc Brazil và
Paraguay.
3. Nhà máy
thuỷ điện Guri
10,30GW Được bắt đầu xây dựng vào năm
1963. Đến năm 200, nhà máy được
kết cấu lại. Điểm đặc biệt của nhà
máy thuỷ điện này là những bức
tường của phòng cơ khí của nhà máy
do nhà hoạ sỹ nổi tiếng người
Venezuela Karlos Kruz-Diez sơn.
thuỷ điện
Sayano-
Shushenskaya
6,4GW Nhà máy thuỷ điện này được xây
dựng trong vòng 18 năm (từ năm
1970 đến năm 1988). 75% năng lượng
sản xuất ra cung cấp cho nhà máy
nhôm Sayanogorki.
Xây dựng tại sông
Enisei, làng
Cheryomushki
(Khakassia), gần
Sayanogorsk, Nga
7. Nhà máy
thuỷ điện
Krasnoyarsk
6,00GW Nằm trên sông
Enisei cách
Krasnoyarsk 40
km, Nga
8. Nhà máy
thủy điện
Bratsk
Nó là một trong những nhà máy thuỷ
điện nổi tiếng và lớn nhất của Nga.
Nhà máy thuỷ điện này chính thức
được bắt đầu xây dựng năm 1954 và
kết thúc xây dựng vào năm 1967.
Được xây dựng
trên sông Angara
b. Tình hình sản xuất và tiêu thụ
b.1. Tình hình sản xuất
Đơn vị: TWh
Biểu đồ thể hiện tình hình sản xuất thủy điện các vùng trên thế giới
giai đoạn 1971 – 2010
Qua bản đồ phân bố thủy điện ta thấy:
Các nước có các nhà máy thủy điện lớn là các nước có sản lượng điện thủy điện cao như:
Trung Quốc, Hoa Kì, Canada, Brazin…các nước này có sản lượng điện cao > 200 tỉ
KWh/ năm vì ở đây tập trung nhiều điều kiện thuận lợ cho xây dựng nhà máy thủy điện
như có các con sông lớn, nền kinh tế phát triển…
Các nước có sản lượng điện thấp dưới 1 tỉ KWh/ năm chủ yếu là các nước thuộc châu
Biểu đồ thể hiện tình hình sản xuất thủy điện của 10 quốc gia
lớn nhất thế giới năm 2009
Đơn vị: tỉ KWh
b.2. Tình hình tiêu thụ
Đơn vị: tỉ KWh
Biểu đồ thể hiện tình hình tiêu thụ thủy điện thế giới giai đoạn 1980 – 2007
Ta có thể thấy rằng tình hình sản xuất và tình hình tiêu thụ điện của thế giới giai đoạn
1980 – 2006 có nhiều nét tương đồng, cung đáp ứng đủ cho cầu…
Đơn vị: tỉ KWh
Biểu đồ thể hiện mối tương quan giữa tình hình sản xuất và tiêu thụ thủy điện trên thế
giới giai đoạn 1980 – 2007
2.2.2. Nhiệt điện
a. Phân bố
Nhiệt Điện phát triển cách đây hàng trăm triệu năm, nguyên liệu sản xuất chủ yếu từ than
đá và dầu khí, khí tự nhiên Nhiệt điện phân bố chủ yếu ở các nước có nguồn nguyên
liệu than, dầu khí lớn hay những nước có nền kinh tế phát triển có đủ vốn và chi phí vận
hành như như Nga, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đức
Sử dụng nhiệt năng thoát ra khi đốt các nhiên liệu hữu cơ (than, dầu khí,…) thành điện năng.
Hiện nay trên thế giới khoảng 70% điện năng được sản xuất ra từ các nhà máy nhiệt điện.
lăn…Đây là loại vật liệu nhẹ, chất lượng đồng đều, giá thành rẻ. Các nhà máy tái chế tro
xỉ không chỉ tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái mà còn tạo ra việc làm cho
nhân công địa phương. Công nghiệp nhiệt điện là ngành công nghiệp đòi hỏi nguồn
nguyên liệu lớn, phải bảo trì cao hơn và chi phí vận hành của nhà máy nhiệt điện là tốn
kém hơn so với thủy điện và nhà máy hạt nhân. Nó gây ô nhiễm không khí do thải ra môi
trường rất nhiều khói và bụi. Yêu cầu rất lớn về nước. Xử lý than và xử lý tro là khá khó
khăn. Hiệu quả của nhà máy nhiệt điện. (30-35%). Vì vậy, việc sản xuất hay mở rộng các
nhà máy nhiệt điện đang giảm xuống, phù hợp với xu thế phát triển bền vững của thế
giới.
Tổng
số Thế giới phát điện bằng nhiên liệu (2009)
Nguồn: IEA 2011
b. Tình hình sản xuất và tiêu thụ
b.1. Tình hình sản xuất
Sản lượng điện của 7 nước G7 chiếm một nửa tổng sản lượng điện của thế giới. Trừ Canada là nước có tỷ lệ hữu thủy điện chiếm khoảng 2/3 tổng sản lượng điện và Pháp là nước có tỷ lệ điện hạt nhân tăng rất nhanh (từ 23,8% năm 1980 tăng lên 77,1% năm 1995), năm nước còn lại có tỷ lệ nhiệt điện dùng nhiên liệu cơ từ 2/3 tổng sản lượng điện trở lên, trong đó Mỹ và Đức có tỷ lệ nhiệt điện đốt than chiếm trên 50% trong suốt một thời gian dài mấy chục năm. Hiện nay, ở hai nước này, tỷ lệ nhiệt điện đốt than vẫn chiếm trên 50% và có xu hướng tăng dần.
Trong thập kỷ 70 và những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nhiều dự báo lạc quan đã dự kiến tỷ lệ điện hạt nhân có thể tới 50% tổng sản lượng điện của thế giới vào nửa đầu thế kỷ này. Tuy nhiên từ sau sự cố Trec-nô-bưn (1986), các dự báo về điện hạt nhân đã chững lại; ở một số nước phát triển đã có xu hướng giảm. Để bù lại, xu hướng phát triển nhiệt điện đốt than lại tăng lên, nhiều nhà máy điện đốt than với công suất tổ máy lớn (khoảng trên dưới 1000 MW) có thông số trên tới hạn (áp suất 250-300 bar, nhiệt độ hơi 580-600oC) đã được xây dựng. Hiện nay, hiệu suất phổ biến của nhà máy nhiệt điện đốt than là 42-43%, cá biệt tới 49-50%.
Ở những nước có nhiều than như Trung Quốc, úc, Nam Phi, ấn Độ… tỷ lệ nhiệt điện đốt than rất cao, tới 70-80%.
Nhìn chung trong vài chục năm tới, tỷ lệ nhiệt điện đốt than vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số sản lượng điện năng của thế giới (khoảng từ 40% trở lên).
Tên nhà máy Quốc gia
R. Gallagher – Indiana,
USA
R. Gallagher – Indiana,
USA
2240 mw
Kraftwerk Niederaussem
– Bergheim, Germany
Kraftwerk Niederaussem
3499
Hazelwood – Hazelwood,
Victoria, Australia
Hazelwood – Hazelwood,
Victoria, Australia
1600
Agios Dimitrios – Agios
Dimitrios, Greece
Agios Dimitrios – Agios
Dimitrios, Greece
1559
Drax – Selby, Yorkshire
and the Humber, UK
Drax – Selby, Yorkshire
and the Humber, UK
b.2. Tình hình tiêu thụ
2.2.3. Điện hạt nhân
a.
Phân bố
Hình 2: Bản đồ phân bố điện hạt nhân thế giới năm 2007
Qua bản đồ phân bố điện hạt nhân thế giới năm 2007 ta thấy:
Các nhà máy điện hạt nhân phân bố chủ yếu ở các nước phát triển như Nhật
Bản, Hoa Kì, Pháp, Nga…đặc biệt là Nhật Bản có 3 nhà máy điện hạt nhân
trong số 10 nhà máy lớn nhất thế giới… điều này chứng tỏ rằng Nhật Bản là
một nước phát triển bởi vì công nghệ hạt nhân đòi hỏi một tiềm lực kinh tế
cũng như sự tiến bộ khoa học kĩ thuật cao.
Tên 10 nhà máy điện hạt nhân lớn nhất thế giới:
Tên nhà máy
điện hạt nhân
Zaporizhzhia
6.000 MWh Là nhà máy điện hạt nhân lớn nhất châu
Âu, nhà máy có 6 lò phản ứng, sản xuất
ra 50% sản lượng điện hạt nhân của nước
này.
Enerhodar,
Ukraine
5. Nhà máy
Gravelines
5.706MWh Nhà máy có 6 lò phản ứng đi vào hoạt
động trong thời gian 1980-1984 và mới
đây, nhà máy đã đạt tới một dấu mốc
quan trọng là phát kilowatt điện thứ
1.000 tỷ đầu tiên của mình.
Gravelines,
Pháp
6. Nhà máy
Paluel
5.528 MWh Nhà máy có 4 lò phản ứng, mỗi lò đạt
công suất trên 1.300 MWh.
Normandy,
Pháp
7. Nhà máy
Cattenom
5.448 MWh Nhà máy Cattenom thuộc sở hữu của
Công ty Electricite de France (EDF) -
công ty điện lực lớn nhất châu Âu và lớn
thứ nhì thế giới.
Cattenom,
Pháp
Đơn vị : tỉ KWh
Biểu đồ thể hiện tốc độ sản xuất điên hạt nhân thế giới giai đoạn 1980 – 2007
Qua hình 2 ta có thể thấy có thể thấy rằng: các nước phát triển có sản lượng điện hạt nhân
cao và chiếm phần lớn sản lượng điện hạt nhân thế giới như Hoa Kì, Nhật Bản… với sản
lượng trên 500 tỉ KWh…
Qua biểu đồ tình hình sản xuất điện hạt nhân thế giới giai đoạn 1980 – 2006 thì ta thấy:
nhìn chung sản lượng điện hạt nhân có xu hướng tăng nhanh tuy nhiên vẫn có nhiều biến
động.
Giai đoạn 1980 – 1986 là giai đoạn phát triển đột biến của điện hạt nhân. Do công nghệ
điện hạt nhân đã được phát triển ở mức cao và quá trình thương mại hóa tiến hành rộng
rãi, đặc biệt, do thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng dầu hỏa toàn cầu. Chính trong
giai đoạn này, tỷ số điện hạt nhân trên thế giới tăng gần hai lần, từ 9% lên đến mức kỷ lục
17%.
Biểu đồ thể hiện 10 nước có sản lượng điện hạt nhân cao nhất thế giới năm 2006
Đơn vị: Tỉ KWh
b.2. Tình hình tiêu thụ
Biểu đồ thể hiện tốc độ tiêu thụ điên hạt nhân thế giới giai đoạn 1980 – 2007
Đơn vị : tỉ KWh
Đơn vị : tỉ KWh
Biểu đồ thể hiện mối tương quan giữa tình hình sản xuất và tiêu thụ điện hạt nhân trên
thế giới giai đoạn 1980 - 2007
2.2.4. Các nguồn khác
a. Phân bố
Bản đồ phân bố các nguồn điện khác trên thế giới năm 2007
Ngành công nghiệp điện trên thế giới hiện nay chủ yếu dựa trên công nghệ
nhiệt điện và thủy điện, đã mang đến cho nhân loại nền văn minh điện, nhưng
cũng đã bộc lộ mặt trái của nó đối với môi trường trái đất. Với việc đốt cháy
nhiên liệu gốc hóa thạch (than đá, dầu khí), đã trở thành nguồn phát thải khí
nhà kính lớn nhất gây ra biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Còn công nghệ điện
hạt nhân lại không an toàn và gây ra những hiểm họa phóng xạ như Checnobưn
5 Trung Quốc 6.050
6 Đan Mạch 3.125
7 Ý 2.726
8 Pháp 2.454
9 Anh 2.389
10 Bồ Đào Nha 2.150
11 Canada 1.846
12 Hà Lan 1.746
13 Nhật 1.538
14 Áo 982
15 Hi Lạp 871
16 Úc 824
17 Ai Len 805
18 Thụy Điển 788
19 Na Uy 333
20 Niu Di Lân 322
Những nước khác 2,953
Thế Giới 24,112
b.2. Năng lượng mặt trời
Năm 2007, tổng sản lượng năng lượng mặt trời trên toàn thế giới đạt 3733 MW
(tăng 51%), nâng tổng số lượng sản xuất năng lượng mặt trời, hay còn gọi là năng
lượng quang điện, từ năm 1996 đến nay là hơn 9740 MW. Sản lượng đó đủ đáp
ứng nhu cầu điện năng cho hơn 3000 hộ gia đình tại châu Âu trong 1 năm. Chỉ
tính riêng trong vòng 5 năm gần đây, sản lượng quang điện đã tăng gấp 7 lần và
tổng số lượng hệ thống được lắp đặt tăng gấp 5 lần.
Bảng 10 quốc gia có công suất điện mặt trời lớn nhất thế giới năm 2007
STT Quốc gia Công suất ( MW )
1 Đức 1063
2 Nhật Bản 920
3 Trung Quốc 820
2010 đạt 85,59 tỷ kWh, tăng 12,6% so với năm 2009, trong đó điện cho công nghiệp và
xây dựng tăng 17,31%, nông nghiệp và thuỷ sản tăng 32,87%, thương mại và dịch vụ
tăng 11,36%, quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 7,07%.
Năm 2010 điện sản xuất và nhập khẩu của toàn hệ thống điện quốc gia đạt 100,1 tỷ kWh,
tăng 15,1% so với năm 2009. Công suất cực đại (Pmax) toàn hệ thống năm 2010 là
15.500MW.Mặc dù sản lượng điện có sự tăng trưởng tuy nhiên tình hình cung cấp điện
năm 2010 vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các tháng mùa khô. Vào mùa khô tình
hình hạn hán nghiêm trọng kéo dài làm suy giảm công suất và sản lượng các nhà máy
thủy điện, một số nhà máy nhiệt điện mới (Hải Phòng, Quảng Ninh, Uông Bí 2, Phả Lại
2, Cẩm Phả và Sơn Động) lại vận hành không ổn định thường xảy ra sự cố, trong khi đó
nhu cầu về điện lại tăng cao do nắng nóng dẫn đến việc mất cân đối cung-cầu về điện.
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng thiếu điện là do nhiều dự án nguồn bịchậm tiến độ
nhiều năm qua.
Nhiều dự án nhiệt điện lớn như nhiệt điện Hải Phòng, Quảng Ninh, Mạo Khê, thủy điện
Đồng Nai 3 bị chậm tiến độ so với quy hoạch đến gần hai năm Nguyên nhân của việc
này là do thiếu vốn, thiếu nhân lực và cả thiếu năng lực thực hiện của chủ đầu tư, nhà
thầu và kể cả những bất cập về cơ chế chính sách.
3.2.2. Các nguồn cung điện
Hiện nay ở nước ta có 2 nguồn sản xuất điện năng chủ yếu đó là thủy điện và nhiệt
điện.Nhiệt điện hiện nay chủ yếu là 3 nguồn: nhiệt điện than, nhiệt điện khí và nhiệt điện
dầu. Trong các nguồn cung cấp điện chính thì thủy điện vẫn chiếm tỷ trọng cao, đóng vai
trò quan trọng trong cơ cấu. Năm 2010 tỷ trọng các nguồn điện từ thủy điện vẫn chiếm
mức cao nhất trong các nguồn sản xuất.
Tuy nhiên trong những năm gần đây thì tỷ trọng thủy điện sẽ giảm dần trong cơ cấu tổng
nguồn điện sản xuất. Điều đó được thể hiện khi từ 2006 đến 2010 tỷ trọng các nguồn thủy
điện giảm từ 46.63% xuống còn 38%, thay vào đó là sự gia tăng của các nguồn nhiệt điện
bao gồm nhiệt điện than và nhiệt điện khí.
a. Thủy điện
a.1. Tiềm năng thủy điện Việt Nam
- Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mua nhiều, lượng mưa trung bình
Đồng Nai 17.600 17 3.000 12.000
Thủy điện nhỏ 1.000-3.000 4.000-12.000
Tổng cộng 19.000-21.000 80.000-84.000
a.2. Đặc điểm ngành thủy điện
Ngành thủy điện không có chi phí cho nhiêu liệu, có mức phát thải thấp và có thể thay
đổi công suất nhanh theo yêu cầu phụ tải. Tuy nhiên, ngành có chi phí đầu tư ban đầu
cao, thời gian xây dựng lâu và là nguồn bị động nhất, phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời
tiết. Trong trường hợp hạn hán kéo dài, lượng mưa giảm, làm lượng tích nước tích trong
hồ thấp hơn so với năng lực thiết kế, ảnh hưởng lớn tới sản lượng điện sản xuất của nhà
máy.
Ngoài ra, các thiên tai như lũ quét và mưa lớn có thể gây thiệt hại về đường xá và các
công trình đê đập của nhà máy, gây ra sự cố trong việc phát điện và tăng chi phí sửa
chữa. Các nhà máy thuỷ điện lớn ở Việt Nam hiện nay có Thủy điện Hòa Bình (1.920
MW), Thủy điện Yali (720 MW), Thủy điện Trị An (400 MW) v.v…
Ngành thủy điện đang chiếm 35-40% trong tổng công suất phát của hệ thống điện Việt
Nam. Tuy nhiên trong năm 2010, mức đóng góp vào sản lượng điện chỉ đạt mức khiêm
tốn là 19% do tình trạng hạn hán kéo dài khiến các mực nước tại các hồ thủy điện xuống
thấp kỷ lục, sát với mực nước chết (Thác Bà còn 0,5 m, Thác Mơ còn 0,75 m, Trị An còn
1,48 m, hồ Hòa Bình còn 1,48 m ).
Bảng : Công suất các nhà máy thủy điện lớn
Tên nhà máy
Công suất hoạt động
Nhà máy thủy điện Hòa Bình 1.920 MW
Nhà máy Thủy điện Yali 720 MW
Nhà máy Thủy điện Trị An 400 MW
Nhà máy Thủy điện Đại Ninh
( Lâm Đồng )
300 MW
Nhà máy Thủy điện Sê San 4 120 MW