Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
i
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM Sinh viên thực hiện
: Lại Thị Hoa
Lớp
: Anh 12
Khóa
: 43
Giáo viên hƣớng dẫn
: ThS. Trần Thị Ngọc Quyên
nhập hiện nay, thì việc tiến hành nghiên cứu và đề ra các chính sách để đẩy mạnh
hơn nữa sự phát triển của ngành CNPT được coi là một nhiệm vụ cần thiết và cấp
bách. Chính vì những lý do đó mà em xin mạnh dạn chọn đề tài “ Thực trạng và xu
hướng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài khoá luận chủ yếu tập trung vào những nội dung sau:
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
3
Phân tích và làm rõ khái niệm CNPT, xác định được phạm vi, vai trò và yêu
cầu phát triển ngành CNPT. Đồng thời, bài viết cũng đúc kết được một số kinh
nghiệm về phát triển ngành CNPT ở một số quốc gia khác.
Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển ngành CNPT hiện nay của Việt
Nam ở một số ngành cụ thể, chỉ ra một số xu hướng phát triển trên thế giới hiện nay
có tác động đến định hướng phát triển CNPT ở Việt Nam.
Cuối cùng, người viết tập trung vào trả lời câu hỏi: Làm thế nào để phát triển
ngành CNPT ở Việt Nam trong giai đoạn tới, bằng cách đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường mối liên kết với DN hoạt động
trong lĩnh vực lắp ráp của các DN hoạt động trong lĩnh vực CNPT.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài viết là ngành CNPT, chủ yếu là vào các ngành
sản xuất ra sản phẩm phụ trợ cho các ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các DN sản xuất trong nước và các DN có
vốn ĐTNN đang hoạt động trong lĩnh vực CNPT tại Việt Nam, tính từ năm 2003
đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu: người viết đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu,
chọn lọc khá nhiều tài liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan.
Phương pháp phân tích dữ liệu: chủ yếu là so sánh số liệu liên quan giữa các
chí trước khi nó được chính thức hoá. Thuật ngữ này đã trở nên thông dụng ở Nhật
Bản từ khoảng giữa thập niên 1980, từ khi nó được Chính phủ Nhật Bản sử dụng
trong các tài liệu văn bản của nước mình. Theo đó, khái niệm CNPT bao quát toàn
bộ những cơ sở công nghiệp làm ra các sản phẩm có vai trò hỗ trợ việc sản xuất các
thành phẩm chính. Cụ thể, đó là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, bao bì, nguyên
liệu để sơn, nhuộm…,cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những
nguyên liệu sơ chế. Sản phẩm CNPT thường được tiến hành sản xuất với quy mô
không lớn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Chính vì vậy, nhiều khi người
ta đồng nhất, một cách vô thức, CNPT với SMEs trong ngành công nghiệp. Từ Nhật
Bản, cùng với dòng vốn FDI, khái niệm CNPT nhanh chóng được lan rộng và sử
dụng tại các nước trong khu vực, tuy rằng cách diễn đạt và phạm vi ít nhiều có sự
khác nhau.
Theo như một số ghi chép thì tài liệu đầu tiên sử dụng thuật ngữ CNPT là
“Sách trắng về Hợp tác kinh tế” (1985) của Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
5
(MITI) Nhật Bản
1
. Trong cuốn sách này, thuật ngữ CNPT dùng để chỉ những
SMEs có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu
Á trung và dài hạn, hay để chỉ các SMEs “sản xuất linh phụ kiện”. Mục đích của
MITI tại thời điểm đó là thúc đẩy quá trình CNH và phát triển các SMEs ở các nước
ASEAN, đặc biệt là ASEAN 4, gồm Inđônêxia, Malayxia, Philipines và Thái Lan.
Từ năm 1987, các nước Châu Á đã bắt đầu biết đến và sử dụng thuật ngữ
CNPT, đó là nhờ “ Kế hoạch phát triển Công nghiệp Châu Á mới” (New AID Plan).
Đây là một chương trình hợp tác kinh tế toàn diện ba phương diện : viện trợ, đầu tư
và thương mại. Cũng trong khuôn khổ của kế hoạch này, chương trình “ Phát triển
CNPT Châu Á” ra đời năm 1993 nhằm giải quyết các vấn đề về thâm hụt thương
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
6
đến sự phân ly các hoạt động lắp ráp và sản xuất linh kiện thành những công đoạn
độc lập. Những công đoạn này phát triển là tiền thân của các công ty con, hiện thân
của CNPT trong quá khứ.
Lý do tại sao thuật ngữ này lại xuất hiện ở Nhật Bản mà không phải ở các
nước khác và lại vào thời điểm thập niên 1980 có thể được giải thích bởi sự tăng giá
của đồng Yên. Từ sau Hiệp định Plaza (09/1985), giá đồng Yên tăng từ
240yên/USD (09/1985) lên tới 160 yên/USD (04/1986), điều này đã ảnh hưởng
nghiêm trọng tới các DN xuất khẩu Nhật Bản. Các DN này cắt giảm xuất khẩu sản
phẩm cuối cùng và chuyển cơ sở sản xuất sang các nước có chi phí nhân công rẻ
hơn. Mặc dù vậy, các DN này vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các nhà thầu
Nhật Bản vì các nước đang phát triển mà họ đặt cơ sở sản xuất không có khả năng
cung cấp những linh phụ kiện quan trọng, bao gồm cả các nước ASEAN4. Thuật
ngữ CNPT được ra đời nhằm chỉ ra sự thiếu vắng các hoạt động công nghiệp nêu
trên ở các nước Đông Nam Á. Thông qua “Kế hoạch phát triển Công nghiệp Châu
Á mới (New AID Plan)” và “ Chương trình Phát triển CNPT Châu Á 1993”, thuật
ngữ này đã được nhân rộng ra các nước Châu Á. Nỗ lực của MITI là điều kiện đủ
cho sự ra đời cuả thuật ngữ này ở Nhật Bản và Châu Á những năm 1980.
Trong số các nền kinh tế Đông Nam Á, Nhật Bản và Đài Loan có ngành
CNPT lớn mạnh nhất . Còn ở hầu hết các nước đang phát triển, CNPT hoặc chưa
tồn tại hoặc rất yếu. So với các nước ASEAN 4, những nước đã có ít nhất vài thập
kỷ để thúc đẩy CNPT, CNPT của Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn sơ khai. Thuật
ngữ CNPT cũng mới chỉ xuất hiện ở Vịêt Nam vào khoảng năm 2003. Trước đó,
Chính phủ Việt Nam cũng không chú ý nhiều đến thuật ngữ này cũng như việc xây
dựng các ngành công nghiệp này. Trước năm 1986, với chính sách tự cung tự cấp
và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung phát triển Công nghiệp nặng, Việt Nam tập
trung phát triển các ngành công nghiệp theo cơ chế tích hợp, tức là sản xuất toàn bộ
các yếu tố đầu vào, linh kịên hay phụ kịên dùng cho các ngành công nghiệp như
1.2. Một số khái niệm liên quan
Ở Việt Nam, khi đề cập về các ngành công nghiệp sản xuất hỗ trợ sự phát
triển của các ngành công nghiệp chính, người ta gọi theo nhiều cái tên khác nhau
như: công nghiệp phụ trợ, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp yểm trợ hay ngành công
nghiệp chế tạo sản xuất phụ linh kiện [2]….do chưa có một văn bản mang tính pháp
lý nào đưa ra một tên gọi và định nghĩa thống nhất. Trên thế giới, cũng tồn tại một
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
8
vài khái niệm liên quan đến ngành công nghiệp cung cấp đầu vào như: công nghiệp
liên quan và hỗ trợ, công nghiệp phụ thuộc, công nghiệp linh phụ kiện….[23]
Thuật ngữ “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” (related and supporting
industries) được nhắc đến trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh của quốc gia” (The
competitive advantage of nations -1990) của giáo sư Michael E.Porter (trường Đại
học Havard), được hiểu là “sự tồn tại của ngành công nghiệp cung cấp và ngành
công nghiệp liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế”. Theo tác giả, tính cạnh
tranh của một ngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp các hàng hoá và
các dịch vụ hỗ trợ
4
. Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra cho DN lợi thế kinh tế
theo quy mô. Sự gần gũi của nhà cung cấp và các hãng hỗ trợ khác có thể giúp cho
việc đổi mới và cắt giảm chi phí giao dịch. Porter chia yếu tố này thành hai phần :
công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp liên quan. Công nghiệp hỗ trợ tạo ra lợi thế cho
các ngành công nghiệp hạ nguồn vì chúng sản xuất ra những đầu vào được sử dụng
rộng rãi và có tầm quan trọng trong cải tiến và quốc tế hoá, còn công nghiệp liên
quan là những ngành trong đó DN có thể phối hợp hoặc chia sẻ các hoạt động trong
cùng một chuỗi giá trị khi họ cạnh tranh nhau hoặc là những ngành sản xuất ra các
sản phẩm có tính chất bổ sung cho nhau. Thuật ngữ của Porter mang tính học thuật
và có phạm vi rộng trong khi thuật ngữ của MITI mang tính thực tế và cụ thể hơn.
Thuật ngữ CNPT được sử dụng khá rộng rãi, đặc biệt là ở Đông Á. Trong
công nghiệp nói chung, cách phân chia các ngành thông thường là công nghiệp ô tô,
công nghiệp điện tử, công nghiệp xe máy, công nghiệp dệt may, công nghiệp chế
tạo tư liệu sản xuất, công nghiệp chế tạo hàng tiêu dùng….Tuy nhiên, ngành CNPT
không phải là một ngành cụ thể như trên, mà nó bao hàm toàn bộ những lĩnh vực
sản xuất sản phẩm trung gian (linh kiện, bộ phận) cung cấp cho ngành công nghiệp
lắp ráp (ô tô, xe máy, điện tử ). Ngoài ra, ngành CNPT còn cung cấp những sản
phẩm đầu vào cho ngành chế biến như giày da, dệt may…Nói cách khác, nó bao
phủ một phạm vi khá rộng nhiều ngành công nghiệp.
Tuy nhiên, định nghĩa của nó thì vẫn chưa rõ ràng trên cả phương diện kinh
doanh và lý thuyết kinh tế học[22].
Theo lý thuyết kinh tế, thì CNPT được định nghĩa là một nhóm các nhà sản
xuất các yếu tố đầu vào (group of producers of manufactured inputs). Để sản xuất ra
thành phẩm cuối cùng thì cần trải qua nhiều công đoạn, bao gồm việc sản xuất và
lắp ráp các yếu tố đầu vào (gồm hàng hóa tư bản và hàng hoá trung gian). Ví dụ,
trong quá trình sản xuất các sản phẩm điện tử dân dụng, các phụ kiện sản xuất làm
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
10
bằng kim loại hoặc nhựa được coi là sản phẩm trung gian, trong khi đó, máy móc và
công cụ để sản xuất ra các sản phẩm trung gian đó thì gọi là các hàng hoá tư bản.
Xét trên góc độ sản xuất kinh doanh, ngành CNPT bao gồm việc sản xuất
ra các linh phụ kiện sản xuất (production parts) và máy móc (machinery), công cụ
(tooling) để sản xuất ra các linh phụ kiện đó. Hệ thống sản xuất hiện đại gồm nhiều
quá trình như lắp ráp thành phẩm, lắp ráp bán thành phẩm, sản xuất linh phụ kiện,
máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và nguyên vật liệu thô (Hình 1). Lấy việc sản
xuất hàng điện tử như tivi làm ví dụ, dầu là nguyên vật liệu thô, còn polypropylene
là nguyên liệu dùng cho các linh kiện nhựa. Để tạo ra các linh kiện nhựa còn cần
đền máy móc và công cụ để phun và đúc nhựa. Một ví dụ của bán thành phẩm là
Vietnam’s Industrialization: : Increasing positive vertical externalities through
collaborative training
Xét về tổ chức kinh doanh, thì ngành CNPT gồm 3 loại hình DN: Một là,
các nhà cung cấp linh kiện, bộ phận, và công cụ máy móc đặt ở nước ngoài. Hai là,
các nhà cung cấp linh kiện, bộ phận và công cụ, máy móc nước ngoài ở thị trường
nội địa. Ba là, các nhà cung cấp linh kiện, bộ phận và công cụ máy móc địa phương,
mà chủ yếu là các DN SMEs. Khách hàng của ngành CNPT bao gồm các DN lắp
ráp địa phương, các DN lắp ráp nước ngoài đặt ở thị trường trong nước, và các nhà
lắp ráp nước ngoài đặt ở nước ngoài (trường hợp xuất khẩu các sản phẩm phụ trợ).
Các nhà lắp ráp nước ngoài thường là các công ty đa quốc gia (MNCs).
Xét trên mức độ phức tạp của các công đoạn sản xuất chính bao gồm :
(i)chế tạo vật liệu, (ii) gia công phụ tùng linh kiện và (iii) lắp ráp hoàn chỉnh thì
CNPT chiếm hàng thứ 2. Về mặt lý luận, có thể hiều CNPT như là khái niệm đối
xứng với ngành CN lắp ráp. Đa phần ngành CNPT nhằm phục vụ cho ngành công
nghiệp lắp ráp, trong khi dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm lại đòi hỏi những
loại nguyên liệu đặc thù hơn cho từng ngành. Khi hoạch định chính sách cần rõ
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
12
ràng, chính sách khuyến khích thúc đẩy nên chủ yếu hướng tới các phụ tùng và
nguyên liệu cho sản xuất theo kiểu lắp ráp.[2]
Nói chung, có khá nhiều định nghĩa về ngành CNPT được sử dụng trên thế
giới
6
. Sau đây, người viết xin phép trích dẫn một số định nghĩa ở các quốc gia khác
nhau:
Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) chính thức định
nghĩa về CNPT trong chương trình hành động phát triển CNPT Châu Á (1993) như
sau: “Là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu
13
công nghiệp-nghĩa là có hàm lượng lao động kết tinh trong đó. Điều này để phân
biệt với các sản phẩm tự nhiên- các nguyên vật liệu thô có sẵn trong tự nhiên và các
sản phẩm khai thác thuần tuý.
Thứ hai, sản phẩm của ngành này bao gồm các sản phẩm sơ chế, trung gian
và các tư liệu sản xuất, có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất ra các sản phẩm cuối
cùng của ngành công nghiệp chính. Đặc điểm của ngành CNPT là thường được sản
xuất với quy mô nhỏ và do các SMEs sản xuất.
Đến nay thì các quốc gia vẫn chưa thống nhất định nghĩa và phạm vi cho
ngành CNPT, tuỳ vào điều kiện kinh tế-xã hội, các mục tiêu phát triển công nghiệp
nói chung mà mỗi quốc gia lựa chọn và sử dụng các khái niệm khác nhau. Chính
sách của mỗi quốc gia sẽ quyết định phạm vi của ngành CNPT gồm những ngành
nào, sản phẩm nào. Thuật ngữ mà càng được định nghĩa cụ thể thì việc hoạch định
chính sách càng trở nên dễ dàng hơn, tính khả thi của các chính sách đó cũng cao
hơn.
2. Đặc điểm của ngành CNPT
2.1. Phạm vi ngành CNPT
Khi mà thuật ngữ CNPT lần đầu tiên được đề cập tới trong “Sách trắng về
Công nghiệp” (1985) của Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế (MITI) Nhật
Bản, ngành này chỉ nhằm nói đến các nhà cung cấp của ngành công nghiệp chế tạo
lắp ráp như ô tô, xe máy, điện, điện tử và máy móc chính xác. Về thuật ngữ, CNPT
là nhóm các nhà sản xuất của một nước (gồm nhà sản xuất nội địa và FDI), cung
cấp các yếu tố đầu vào trung gian cho các nhà lắp ráp tại nước đó. Phạm vi chính
xác của CNPT phụ thuộc vào từng trường hợp cũng như ý định của nhà hoạch định
chính sách, có thể hẹp chỉ trong một ngành công nghiệp cụ thể hoặc rộng hơn, liên
quan đến nhiều ngành sản xuất, chế tạo khác, kể cả ngành dệt may và hóa chất
Xét về cơ cấu ngành, CNPT cần thiết cho cả Công nghiệp lắp ráp (ô tô, xe
máy, điện tử) và công nghiệp chế biến (dệt may, da giày ). Hai ngành công nghiệp
này khác nhau nên yêu cầu CNPT cho mỗi ngành cũng khác nhau. Nếu như ngành
15
Xét theo yếu tố đầu vào, phạm vi CNPT cũng có thể được xác định khác
nhau. Thông thường người ta xác định CNPT bao gồm cả yếu tố đầu vào vật chất
(phụ tùng và linh kiện) với dịch vụ công nghiệp (như dịch vụ hậu cần, kho bãi, phân
phối và bảo hiểm) (phạm vi rộng 1). Một cách xác định khác là chỉ tính đầu vào vật
chất, nhưng gồm cả nguyên vật liệu thô (phạm vi rộng 2). Cả hai cách xác định
phạm vi CNPT này có những bộ phận trùng nhau và có thể xem đó là phần cốt lõi
của CNPT (phạm vi chính), bao gồm linh phụ kiện được chế tạo từ thép, nhựa, cao
su và các quy trình sản xuất như rập, đúc, rèn, hàn, chế tạo khuôn, gia công cơ khí,
mạ, và xử lý nhiệt. Cụ thể hơn, các công nghệ chế tạo linh kiện và sản xuất khuôn
mẫu chiếm vị trí trung tâm trong phần cốt lõi của CNPT.
Hình 3 : Phạm vi của CNPT
Nguồn: Nguyễn Thị Xuân Thuý, 2006, Công nghiệp phụ trợ: Tổng quan về
khái niệm và sự phát triển, VDF
Tuỳ thuộc vào trình độ, và mục tiêu chính sách mà mỗi quốc gia có cách hiểu
riêng về phạm vi ngành CNPT. Chính sách của quốc gia đó sẽ quyết định phạm vi
của ngành CNPT nước mình, bao gồm những ngành nào, sản phẩm nào. Ngày 31
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
16
tháng 7 năm 2007, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã ký Quyết định phê
duyệt Quy hoạch phát triển CNPT đến năm 2010-tầm nhìn 2020. Theo đó, Quy
hoạch phát triển CNPT sẽ tập trung vào 5 nhóm ngành, gồm: Dệt may, da giày, điện
tử-tin học, sản xuất-lắp ráp ôtô và cơ khí chế tạo. Sản phẩm của ngành CNPT không
chỉ là những linh phụ kiện, máy móc, công cụ, mà còn bao gồm cả các nguyên vật
liệu như hoá chất, sản phẩm của quá trình chế biến như dập, ép, đúc, khuôn….Phạm
vi này gần giống với quy mô mở rộng 2 (trên).
2.2. Những điều kiện để phát triển ngành CNPT
công ty lắp ráp sản phẩm cuối cùng không phải đầu tư bất kỳ loại máy móc phức tạp
nào (chỉ cần khai thác lợi thế nguồn lao động phổ thông dồi dào và không nhất thiết
phải có tay nghề trình độ cao), thì các DN hoạt động trong ngành CNPT cần đầu tư
chi phí cố định lớn, thời hạn đầu tư và hoàn vốn đầu tư dài với độ rủi ro trong đầu
tư cao hơn (Hình 4). Lấy ví dụ công ty Daiwa- là công ty cung cấp các linh kiện
bằng nhựa cho các MNCs chuyên sản xuất xe máy và thiết bị điện tử. Bộ phận quản
lý của Daiwa cho biết chi phí lao động thấp chưa hẳn là yếu tố quan trọng nhất tạo
nên lợi thế cạnh tranh ngay cả ở Việt Nam bởi lẽ chi phí lao động chỉ chiếm khỏang
10% tổng chi phí sản xuất. Công ty sử dụng rất nhiều máy móc đắt tiền trong quá
trình sản xuất. Ví dụ trong quá trình sản xuất mặt trong của vỏ nhựa cho các sản
phẩm điện tử, công ty phải sử dụng máy đo 3-D thế hệ mới nhất, giá thành khỏang
100.000 USD/chiếc, để phát hiện những lỗi nhỏ có thể gây trục trặc cho máy trong
quá trình vận hành.
Hình 4: Giảm chi phí đơn vị trong CNPT
Nguồn: Kenichi Ohno, Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà
sản xuất Nhật Bản, VDF, 2007
Những máy móc đầu tư cố định có đặc điểm là không thể chia nhỏ được, tức
là phải mua nguyên chiếc không tách rời từng phần. Khi đã đầu tư lắp đặt hệ thống
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
18
máy móc thì chi phí vốn cho nhà máy sẽ luôn ở một mức cố định cho dù hệ thống
không được vận hành liên tục 24 giờ/ngày và 365 ngày/ năm. Do vậy, chi phí vốn
đơn vị (tổng chi phí /số sản phẩm sản xuất ra ) tỷ lệ nghịch với lượng sản phẩm đầu
ra. Ví dụ, một nhà máy sản xuất 600.000 linh kiện nhựa một năm sẽ đạt được hiệu
quả sản xuất, trong khi đó một nhà máy khác chỉ sản xuất được 2.000 linh kiện
nhựa một năm thì khó mà tồn tại được[5]. Đó cũng chính là lý do giải thích tại sao
các DN muốn hoạt động trong lĩnh vực này cần một lượng đặt hàng lớn từ các nhà
19
nhân có trình độ kỹ thuật cao vận hành máy móc cũ thậm chí hiệu quả hơn công
nhân có trình độ thấp hoặc không có trình độ vận hành máy mới. Nguồn nhân lực
công nghiệp chất lượng cao sẽ là nhân tố cần thiết cho Việt Nam để đưa trình độ sản
xuất vượt lên mức mà Thái Lan và Malaysia đã đạt được, cũng như là cách giải
quyết hiệu quả những thách thức từ Trung Quốc.
II. Vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ
1. Ngành công nghiệp phụ trợ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản
phẩm công nghiệp
CNPT được coi là ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp chính
yếu, thông qua việc cung cấp các phụ tùng, linh kiện và các quy trình xử lý kỹ thuật.
Nếu CNPT trong nước mà không phát triển thì các ngành công nghiệp chế tạo, lắp
ráp sẽ phải phụ thuộc vào nhập khẩu, khi đó ngành chế tạo ở quốc gia này chỉ là
ngành gia công lắp ráp đơn thuần. Ở các nước phát triển, CNPT được ưu tiên phát
triển trước để làm cơ sở cho các ngành công nghiệp chính như : ô tô, xe máy, điện
tử, giày da, dệt may, đóng tàu… phát triển.
Các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của DN trong một ngành bao
gồm: năng suất lao động, trình độ công nghệ, sản phẩm, quy mô tài chính, kinh
nghiệm quản lý, phương thức thanh toán….Việc phát triển CNPT không phải là tiêu
chí tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp chính,
nhưng lại có tác động gián tiếp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, ngành CNPT phát triển sẽ tạo được nguồn cung đầu vào ổn định,
chất lượng, từ đó đảm bảo được khả năng giao hàng cho các DN trong các ngành
công nghiệp chính. Các DN lắp ráp hay các DN sản xuất sản phẩm cuối cùng, dù là
DN trong nước hay các DN MNCs, dù bán sản phẩm tại thị trường nội địa hay xuất
khẩu, đều có nhu cầu rất lớn về mua sắm các sản phẩm phụ trợ như phụ tùng nhựa,
khuôn kim loại, linh kiện, phụ tùng từ các nhà cung cấp trong nước. Nếu CNPT
không phát triển, các công ty này sẽ phải phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu linh
phụ kiện, điều này có thể ảnh hưởng đến tiến độ của hợp đồng. Hơn nữa, khi ngành
CNPT phát triển sẽ kích thích các nhà sản xuất đầu tư nhiều hơn vào máy móc, dây
nghệ cao và sự sáng tạo trong khi các công đoạn khác lại có thể thực hiện ở bất cứ
nước nào. Và giá trị gia tăng của sản phẩm gắn với quy trình sản xuất sử dụng công
nghệ cao, chứ không phải với toàn bộ sản phẩm. Ông đưa ra một dẫn chứng các
công đoạn trong sản xuất máy tính, theo đó : giá trị lớn thường ở giai đoạn bắt đầu
(thiết kế và linh phụ kiện) và giai đoạn cuối (tiếp thị), còn giai đoạn giữa (lắp ráp)
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
21
lại cần công nghệ tương đối thấp 8. Theo tính toán của các chuyên gia, đối với
một số ngành, CNPT cung cấp tới 90-95% giá trị gia tăng trong sản xuất công
nghiệp.
Tóm lại, sự phát triển CNPT trong nước sẽ giúp giảm chi phí sản xuất do
nâng cao được tỷ lệ nội địa hoá và giúp các nhà lắp ráp có vốn FDI mở rộng sản
xuất. Sự tập trung của công nghiệp phụ linh kiện cũng sẽ tạo điều kiện thu hút các
nhà lắp ráp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
2. Ngành CNPT làm tăng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việc
phát triển nền kinh tế
CNPT có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút dòng vốn đầu tư nước
ngoài (FDI), nhất là FDI trong ngành sản xuất các loại máy móc. Như đã đề cập ở
trước, tỷ lệ chi phí về CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động trong giá thành
sản phẩm, nên dù có ưu thế lao động dồi dào và rẻ mà CNPT không phát triển cũng
làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
Một DN FDI đang đầu tư sản xuất, lắp ráp tại một quốc gia có những sự lựa
chọn cho việc tiếp nhận các yếu tố đầu vào như sau : (i) sản xuất nội bộ trong khuôn
khổ các công ty đó; (ii) đặt mua từ nhà cung cấp địa phương (có thể là DN trong
nước hoặc DN nước ngoài đặt tại thị trường nội địa); (iii) nhập khẩu từ các quốc gia
khác. Nếu lựa chọn các nhà cung cấp địa phương sẽ giúp DN FDI linh hoạt hơn
trong việc thu hút các yếu tố đầu vào, và có điều chỉnh sản lượng kịp thời trước
những thay đổi của thị trường, dễ dàng hơn trong đàm phán và kiểm soát chất
trường của CNPT đã lớn mạnh nên đến đầu tư.
Như vậy, nếu các công ty CNPT trong nước phát triển, có thể đáp ứng được
yêu cầu của DN FDI (giai đoạn 1) sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các DN phụ trợ (giai
đoạn 2) ra đời, đồng thời tạo điều kiện, môi trường để các công ty nước ngoài đến
đầu tư (giai đoạn 3). Mối liên quan giữa CNPT và môi trường thu hút FDI đặt ra
thách thức: chừng nào các công ty FDI không thấy chính phủ đưa ra các chính sách
cụ thể và dài hạn để phát triển CNPT theo hướng nói ở (1) và (2) cũng như chính
phủ không tạo môi trường kinh doanh ổn định cho các DN FDI để từ đó CNPT phát
triển theo trường hợp (3) thì họ sẽ không đánh giá cao môi trường FDI ở nước đó.
3. Ngành CNPT giúp chuyển giao công nghệ
Như ở trên đã phân tích, việc phát triển các ngành CNPT sẽ thu hút được
nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa. Và, có thể thấy một xu hướng
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
23
rõ ràng là việc mở rộng thu hút FDI đi liền với sự đổi mới và chuyển giao công
nghệ cho DN trong nước. Ngoài vốn, các DN nước ngoài tại đây còn mang đến
những công nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến hơn, mà từ đó các DN
trong nước có thể học tập. Điều này lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
quá trình CNH, HĐH đất nước.
Việc chuyển giao công nghệ của các DN FDI cho các DN trong nước thường
được tiến hành qua 2 hình thức chính
9
sau:
Thứ nhất, chuyển giao công nghệ theo hàng ngang (horizontal inter-firm
transfer). Đây là hình thái chuyển giao giữa từ các công ty đa quốc gia (MNCs)
sang các công ty con tại nước ngoài (các DN FDI) hoặc chuyển giao giữa các DN
FDI và DN bản xứ trong cùng ngành (ở đây là những DN hoạt động trong ngành
CNPT). Để hoạt động có hiệu quả tại nước ngoài, MNCs thường tích cực chuyển
cao trình độ mọi mặt của người lao động trong nước.
Ba là, KCN được xem như các trung tâm thúc đẩy mối liên kết ngược
(backward linkage) giữa các DN FDI với các nhà cung ứng trong nước. Mối liên kết
này thường được thể hiện ở hai dạng: nguyên liệu thô đầu vào tại địa phương và
nguồn cung cấp linh kiện, phụ tùng từ các DN sở tại. Chính vì tầm quan trọng của
hiệu ứng này mà Việt Nam đặc biệt quan tâm và đưa ra nhiều chính sách nhằm tận
dụng được hiệu quả này, nhất là trong quá trình CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Điều này còn đòi hỏi sự liên kết giữa Chính phủ và các thành phần kinh tế trong
nước để có thể tận dụng tối đa những tác động lan toả tích cực do các KCN mang
lại và chủ động sử dụng những tác động đó trong việc nâng cao nội lực của quốc gia
trong quá trình phát triển và hội nhập.
4. Thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đối với các nền kinh tế đang phát triển, việc đưa ra các chính sách khuyến
khích phát triển các DN SMEs được coi là một trong những giải pháp tối ưu nhằm
phát triển kinh tế. Bởi lẽ, việc thành lập và sản xuất kinh doanh của loại hình DN
này không đòi hỏi cao về nguồn vốn, trình độ nhân lực, công nghệ…nên trước mắt
có thể tận dụng tối đa và hiệu quả những nguồn lực trong nước.
Một đặc điểm của ngành CNPT là các sản phẩm CNPT thường được sản xuất
với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp SMEs. Do đó, trong ngành xe hơi
chẳng hạn, các bộ phận như đầu máy xe, thân xe, bánh xe thường không được kể
là CNPT vì chủ yếu do các công ty lớn sản xuất với quy mô lớn. Trong ngành này,
CNPT là những linh kiện, những phụ liệu ở cấp thấp hơn được cung cấp để sản xuất
ra đầu máy xe, thân xe…Vì thế, việc phát triển ngành CNPT sẽ kéo theo sự phát
triển của các doanh nghiệp SMEs.
Nhật Bản là một ví dụ điển hình cho việc vận dụng các công ty SMEs làm
động lực để tạo ra sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế. Để tái sinh nền kinh tế sau
chiến tranh, Nhật Bản đã duy trì một cơ cấu kinh tế “hai tầng” trong đó các DN
SMEs đóng vai trò là nguồn cung cấp và gia công các linh kiện, phụ kiện…cho các
Khoá luận tốt nghiệp
Lại Thị Hoa Lớp: Anh 12-K43- KTNT
Công thương đã tổ chức 3 chuyến nghiên cứu khảo sát tại Thái Lan, Malaysia và 11
Ngày càng nhiều doanh nghiệp FDI đổ vào đầu tư mở nhà máy xí nghiệp sản xuất tại
chỗ, tại nhiều địa phương.