xây dựng mô hình liên kết giữa công ty lữ hành và điểm du lịch làng nghề truyền thống hà tây - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hà Tây nằm ở phía tây nam thủ đô Hà Nội, là mảnh đất có nguồn tài
nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, trong đó nổi bật là hệ thống các
làng nghề thủ công truyền thống. Du lịch Hà Tây đang đứng trước vận hội để
phát triển lớn mạnh thông qua các loại hình du lịch cơ bản: Du lịch văn hóa, lễ
hội; Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cuối tuần; Du lịch làng nghề. Xác định phát
triển du lịch làng nghề là một hướng đi quan trọng để sớm đưa ngành du lịch Hà
Tây trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của địa phương.
Những năm gần đây, du lịch làng nghề đã và đang khẳng định được vị thế
và giá trị của mình thông qua những thành tựu đạt được và những dự báo khả
quan của các chuyên gia kinh tế, du lịch, xã hội học. Một số làng nghề truyền
thống Hà Tây đã thực sự trở thành những điểm du lịch nổi tiếng trên cả nước, đó
là những làng nghề du lịch: Lụa Vạn Phúc, nón lá làng Chuông, mây tre đan
Phú Vinh, khảm trai Chuyên Mỹ, sơn mài Hạ Thái, thêu Quất Động, Đây là
bước phát triển tích cực không chỉ thông qua những con số thống kê mà còn
được thể hiện hết sức sinh động qua thực tế về số lượng các chương trình du
lịch, mức độ tăng trưởng du khách đến làng nghề, thu nhập chính thức từ du
lịch, các công trình phục vụ cho hoạt động du lịch và sự chuyển biến nhận thức -
thái độ của các cấp chính quyền và nhân dân tại các làng nghề.
Tuy nhiên do du lịch làng nghề là loại hình du lịch chuyên đề còn khá
mới ở nước ta, vì vậy thời gian qua lượng khách đến tham quan du lịch các làng
nghề còn thấp so với các loại hình du lịch chủ đạo khác của tỉnh. Các dịch vụ
phục vụ khách đến tham quan du lịch chưa phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng
làng nghề còn hạn chế về chất lượng, chưa đáp ứng được đầy đủ cho nhu cầu
phát triển du lịch với tốc độ như hiện nay. So với tiềm năng, vị trí của làng nghề
thì hiệu quả kinh tế đạt được còn nhỏ, chưa thật tương xứng.
Luận văn: “Xây dựng mô hình liên kết giữa công ty lữ hành và điểm du
lịch làng nghề truyền thống Hà Tây” được tiến hành nghiên cứu với mong
muốn góp phần đưa ra những luận cứ khoa học phát triển du lịch làng nghề
truyền thống và áp dụng triển khai trong thực tế để khai thác có hiệu quả nguồn

chải”. Tác giả đã có ý tưởng và dành nhiều công sức tìm kiếm tài liệu cũng như
đi thực tế khảo sát tại một số làng nghề tiêu biểu của Hà Tây và một số làng
2
nghề truyền thống ở một số địa phương khác để từ đó tìm ra thế mạnh riêng có
của Hà Tây trong việc phát triển du lịch làng nghề và lợi thế cạnh tranh với các
làng nghề ở địa phương khác trước các công ty lữ hành trong việc họ xây dựng
các chương trình du lịch.
Xây dựng được mối liên kết - sợi dây liên hệ “ràng buộc” giữa công ty lữ
hành và làng nghề nhằm mang lại lợi ích cho cả hai bên trong sự phát triển bền
vững chính là vấn đề nghiên cứu mà tác giả đặt ra cho luận văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua công tác thống kê, điều tra, khảo sát tại các làng nghề du lịch,
công ty du lịch lữ hành, các đại lý du lịch ở Hà Tây và Hà Nội kết hợp với tri
thức khoa học sẵn có, nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển làng nghề
truyền thống Hà Tây nói riêng và tình hình phát triển du lịch nói chung từ đó
đưa ra những định hướng, chính sách phát triển du lịch làng nghề Hà Tây một
cách thiết thực, hiệu quả, đúng hướng, góp phần đưa du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn trong những năm tới.
4. Đối tượng - Phạm vi - Phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Làng nghề du lịch tiêu biểu của Hà Tây.
- Các công ty kinh doanh du lịch, đại lý lữ hành du lịch đưa khách đến
tham quan làng nghề du lịch.
- Cộng đồng dân cư sinh sống tại các làng nghề du lịch đặc biệt là các
nghệ nhân, các hộ gia đình tham gia sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
4.1 Phạm vi nghiên cứu:
* Về không gian: Các làng nghề truyền thống Hà Tây đặc biệt là làng: Lụa Vạn
Phúc, làng mây tre đan Phú Vinh, làng sơn mài Hạ Thái, làng nón lá Chuông,
làng khảm trai Chuôn Ngọ, làng nặn tò he Xuân La, làng thêu Quất Động.
* Về thời gian: Tài liệu và số liệu nghiên cứu chủ yếu là năm 2007, chú trọng

tố hợp phần của mô hình liên kết giữa công ty lữ hành và điểm du lịch làng nghề
truyền thống Hà Tây.
* Phương pháp thống kê: Phương pháp thống kê được vận dụng nghiên cứu
trong đề tài này để xác định hiện trạng hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu
phát triển ngành cơ bản. Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá hiện
trạng cũng như xu thế biến động chung của các làng nghề du lịch. Về mặt
4
nghiên cứu các vấn đề làng nghề, phương pháp này hỗ trợ xử lý các thông tin để
xây dựng mô hình phù hợp với thực tế như nhiệm vụ đã đặt ra.
* Phương pháp sơ đồ, bản đồ: Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình
nghiên cứu có liên quan đến tổ chức lãnh thổ. Bản đồ được sử dụng chủ yếu
theo hướng chuyên ngành để phân tích đánh giá tiềm năng phát triển du lịch và
điều kiện có liên quan. Ngoài mục đích minh họa về vị trí địa lý, phương pháp
này còn giúp cho các nhận định, đánh giá trong quá trình nghiên cứu được thể
hiện một cách tổng quát.
5. Đóng góp của luận văn
Từ việc nghiên cứu xu hướng phát triển du lịch làng nghề Việt Nam, đánh
giá thực trạng làng nghề du lịch Hà Tây, luận văn nhằm đưa ra những kiến nghị
và giải pháp nhằm xây dựng và phát triển mô hình làng nghề du lịch gắn với các
công ty lữ hành trong khu vực với mong muốn góp phần gìn giữ và phát triển
nghề truyền thống, thu hút khách du lịch, tăng thu nhập, tạo việc làm cho các
làng nghề, đóng góp vào phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời
đề xuất mạng lưới các tour du lịch đến làng nghề du lịch Hà Tây.
6. Kết cấu luận văn. Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
phụ lục, luận văn được trình bày theo cấu trúc sau:
- Mở đầu.
- Chương 1: Làng nghề truyền thống Hà Tây và hoạt động của ngành du
lịch trên địa bàn.
- Chương 2: Các công ty lữ hành trong việc khai thác và phát triển du lịch

hoá - lịch sử - môi trường, rừng ở đây được phân loại thành rừng đặc dụng.
Rừng tự nhiên được quản lý, tu bổ, cải tạo kết hợp với trồng rừng, phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc sẽ là tài sản quí giá của Hà Tây và của cả nước.
Điểm đặc biệt của Hà Tây trước đây là có đến 2 thành phố là Hà Đông và
Sơn Tây (từ 01/8/2008 Hà Tây sát nhập về Hà Nội và hiện đang có dự kiến là
quận Hà Đông và thị xã Sơn Tây), ngoài ra còn có 12 huyện gồm 324 xã, thị
trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.192,95km
2
với dân số là 2.575.000
6
người, mật độ 1.174 người/km
2
tính đến năm 2007 khi Hà Tây chưa sát nhập
với Hà Nội. (niên giám thống kê tỉnh Hà Tây năm 2007).
Hà Tây là khu vực đông dân, có nguồn lao động dồi dào trên 1,1 triệu
người, dân số nông thôn chiếm đại bộ phận (93%) và chủ yếu là nông nghiệp
chiếm 82% tổng số dân và chiếm 80% số lao động xã hội. (niên giám thống kê
tỉnh Hà Tây năm 2007). Lao động có trình độ thâm canh khá, nhiều nghề tinh
xảo, nổi tiếng như dệt lụa (Vạn Phúc), rèn (Đa Sĩ), sơn mài, khảm, điêu khắc,
thêu ren (vùng Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên)
Ở Hà Tây giao thông thuỷ, bộ khá phát triển thuận lợi cho giao lưu trong
và ngoài tỉnh, có hơn 400 km đường sông, 43 km đường sắt, gần 3.000 km
đường ôtô đến tất cả các xã. Những tuyến giao thông huyết mạch về đường bộ
có đường 1A, đường số 6, đường 11A, đường 21, đường 32, đường 70, 71, 73 ;
đường sắt Bắc - Nam.; đường thuỷ có sông Hồng, sông Đà, sông Đáy.
Với mạng lưới giao thông cả đường bộ và đường thủy là điều kiện cho
phát triển du lịch bởi Hà Tây có trên 240 làng nghề với những sản phẩm đặc sắc
và được nhiều người ưa chuộng như lụa Vạn Phúc, sơn mài Hạ Thái, tiện gỗ
Nhị Khê, thêu Quất Động, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, mây
tre Phú Vinh, đồ mộc Chàng Sơn, tượng gỗ Sơn Đồng, may Trạch Xá, đàn Đào

dệt đũi tơ tằm thôn Cống Xuyên. Dân làng nơi đây do không có kén để kéo sợi,
phải đi mua kén ở các tỉnh như Thái Bình, Hoà Bình, Sơn La về kéo sợi dệt,
rồi chuội, là, đóng tấm, đưa đi xuất khẩu.
Một số làng nghề do trong làng có người đi nơi khác học nghề rồi về dạy
cho gia đình, họ hàng và mở dần nghề ra khắp làng. Hà Tây là đất học và có
nhiều người làm quan có cơ hội đi lại nhiều nơi, tiếp xúc nhiều địa phương có
những nghề thủ công khác nhau, thấy được những lợi thế của nghề phù hợp với
điều kiện phát triển của địa phương mình nên học và đem nghề đó về truyền lại
cho những người trong gia đình, cho quê hương và những người này cũng được
nhân dân trong làng tôn thành ông tổ nghề. Ví dụ như ông tổ nghề thêu Lê Công
Thành của làng thêu Quất Động, ông đỗ tiến sĩ và học được nghề thêu của địa
phương khác về truyền lại cho dân làng Hoặc là những người có cơ hội đi sống
ở những nơi khác, tiếp xúc với những tập quán sản xuất của địa phương đó,
8
trong đó có nghề thủ công thích hợp với quê hương mình sản xuất từ đó nghề
được lan truyền ra khắp làng và dần trở thành làng nghề.
Nhìn chung, dù nghề thủ công được hình thành từ nhiều con đường khác
nhau nhưng sự phát triển, tồn tại của các làng nghề phụ thuộc chủ yếu vào
những hạt nhân, gia đình, dòng họ của họ. Họ là những nòng cốt và từ đó mở
rộng ra cả làng. Lúc mới hình thành, sản xuất của các làng nghề chưa hoàn
chỉnh, chỉ tập trung vào một số sản phẩm chủ yếu với kỹ thuật, công nghệ sản
xuất độc đáo, sau đó mới xuất hiện dần các hoạt động dịch vụ cung cấp nguyên
liệu, sản xuất gia công và hình thành nên thị trường. Các làng nghề truyền thống
Hà Tây chủ yếu hình thành trên cơ sở truyền nghề, sự truyền nghề này có tính
sáng tạo, không sao chép, mỗi một làng nghề, thậm chí đối với từng người thợ
thủ công cũng có sự độc lập sáng tạo, chính vì vậy đã tạo nên những làng nghề
truyền thống có nét độc đáo riêng so với làng khác, địa phương khác. Đây cũng
là một đặc trưng rất khác của các làng nghề truyền thống Hà Tây.
Đặc điểm của các làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn gắn bó chặt
chẽ với nông nghiệp và lao động là nông dân.

động chân tay với đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Chỉ có một phần rất nhỏ
một số công đoạn sử dụng máy móc nhưng còn lạc hậu. Chủ yếu các công cụ
vẫn do người thợ tự sản xuất ra.
Lao động trong các làng nghề truyền thống Hà Tây, chủ yếu là lao động
thủ công, nhờ vào đôi bàn tay khéo léo, tinh xảo và đầu óc thẩm mỹ mang tính
sáng tạo cao. Hiện nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới vào sản
xuất ở một số công đoạn trong các làng nghề truyền thống cũng đã giảm bớt lực
lượng lao động thủ công. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm thủ công truyền thống có
nhiều công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ
công, tinh xảo.
Qua nghiên cứu thực tế tại các làng nghề truyền thống Hà Tây cho thấy,
dù có thay thế công cụ, sản xuất phát triển đến đâu chăng nữa cũng không thể
thay thế được các nghệ nhân. Họ là nòng cốt và là người hết sức quan trọng
trong sự tồn tại và phát triẻn của các làng nghề truyền thống và mỗi làng đều có
một tổ nghề là người đầu tiên dạy nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp
ở nơi khác về truyền lại cho làng mình.
10
Các sản phẩm của làng nghề truyền thống Hà Tây mang tính đơn chiếc,
có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc dân tộc. Mỗi một sản phẩm của làng
nghề truyền thống là một tác phẩm nghệ thuật, nó vừa có giá trị sử dụng đồng
thời vừa có giá trị thẩm mỹ cao, nó vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng lại là vật
dùng để trang trí nhà cửa, các công trình kiến trúc Các sản phẩm đều thể hiện
sự sáng tạo nghệ thuật, mang những sắc thái riêng của mỗi làng nghề truyền
thống. Tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương chứa đựng những ảnh
hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của
con người Hà Tây và của dân tộc Việt Nam.
Tính đến hết năm 2007, trên phạm vi toàn tỉnh có 240 làng đạt tiêu chí
làng nghề, khoảng 80.000 hộ sản xuất CN - TTCN với 29 nhóm hàng thủ công
mỹ nghệ truyền thống như: dệt lụa, mây tre đan, gỗ, mỹ nghệ, khảm trai, sơn
mài đạt giá trị gần 2.000 tỷ đồng năm 2001 và khoảng 5.000 tỷ đồng năm

dạng với nền văn hóa mang đậm nét văn hóa dân tộc do nằm trong khu vực
đồng bằng sông Hồng - cái nôi của nền văn hóa Việt Nam. Bản thân các làng
nghề truyền thống Hà Tây đã hội đủ các yếu tố để trở thành một sản phẩm du
lịch, một điểm đến đặc thù của ngành.
Hiện nay làng nghề truyền thống Hà Tây đã đạt được những thành tựu
đáng kể, đóng góp vào công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, giải quyết thêm nhiều việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân.
Ngành du lịch Hà Tây bước đầu đã tạo dựng được môi trường thuận lợi cho du
lịch làng nghề thông qua phân bổ ngân sách hàng năm để xây dựng và nâng cấp
cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các làng nghề xây dựng nhà trưng bày - giới thiệu sản
phẩm, bước đầu tuyển chọn và phát triển đội ngũ thuyết minh viên về các điểm,
tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng 10 làng nghề là điểm du lịch thí điểm để từ
đó mở rộng du lịch làng nghề ra các điểm khác trên phạm vi toàn tỉnh.
Tuy nhiên hiện nay làng nghề truyền thống Hà Tây còn tồn tại nhiều mặt
yếu kém, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển du lịch. Làng nghề truyền thống
tham gia vào lĩnh vực du lịch cần phải nhiều hơn và đạt tiêu chuẩn cao hơn hiện
nay. Để thực sự đưa làng nghề truyền thống vào khai thác, kinh doanh phát triển
du lịch và phục vụ cho hoạt động du lịch, các làng nghề Hà Tây cần phải có tiêu
chuẩn cụ thể về các hoạt động văn hóa, tổ chức đón tiếp khách du lịch, chuẩn bị
12
đội ngũ lao động trong ngành và các hoạt động hỗ trợ khác. Hiện nay trên địa
bàn tỉnh mặc dù đã có nhiều làng nghề có mặt trong tuyến - tour du lịch và có số
lượng khách du lịch khá đông thì về mặt chuyên ngành dựa trên đánh giá về thu
nhập, tỷ lệ khách du lịch có động cơ du lịch thuần túy so với khách thương mại
hoặc loại khách khác hoạt động du lịch vẫn chưa thực sự thể hiện sinh động
được năng lực phát triển, tiềm năng của các làng nghề.
Trong những năm qua, Hà Tây luôn xác định phát triển du lịch làng nghề
là một hướng đi quan trọng nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch của tỉnh, đồng
thời góp phần mở rộng thị trường và cải thiện đời sống của người dân tại các địa
phương có nghề. Cho đến nay, có khoảng 12 làng nghề trên địa bàn Hà Tây

Hòa Pháp) và được Chính phủ Pháp tặng “Bắc đẩu bội tinh”.
* Về sản phẩm của làng nghề
Đến Vạn Phúc, du khách sẽ nghe thấy tiếng dệt lụa rộn ràng của các
xưởng dệt và bắt gặp một không khí nhộn nhịp của cửa hàng giới thiệu sản
phẩm làng Vạn Phúc được đặt ngay đầu làng với những xấp vải nhiều màu sắc.
Các sản phẩm truyền thống đặc trưng của tơ tằm Vạn Phúc nổi tiếng gắn liền
với cái tên làng dệt từ bao đời nay: gấm, lụa vân, the, sa, băng, quế, đoạn Lụa
Vạn Phúc mịn màng với đầy đủ các màu sắc: Tím, cá vàng, hoa lý, hoa hồng,
xanh lơ, vàng chanh Tất cả màu sắc trang nhã, kín đáo, bình dị tạo nên tính hấp
dẫn kỳ lạ của tơ lụa đối với người tiêu dùng ở bất cứ đâu. Và chúng ta không thể
không nói tới “Lụa Hà Đông” từ lâu đã trở thành loại sản phẩm hàng hóa nổi
tiếng của cả nước, và ngày nay đã trở thành thương hiệu của Vạn Phúc. “Lụa Hà
14
Đông” bền đẹp, phong phú về màu sắc, kiểu dáng được thị trường trong và
ngoài nước ưa chuộng.
Lụa Vạn Phúc qua các thế hệ, được các nghệ nhân và thợ dệt không
ngừng cải tiến, nâng cao kỹ thuật sản xuất, đạt tới mức hoàn mỹ, mịn óng, mềm
mại với màu sắc óng ánh, màu sắc tinh tế khi nổi khi chìm, có loại trang nhã, có
loại rực rỡ. Trải qua bao thế hệ, lụa Vạn Phúc vẫn luôn giữ được những thủ
pháp nghệ thuật truyền thống. Hoa văn bao giờ cũng trang trí đối xứng, đường
nét trang trí không rườm rà, phức tạp mà mềm mại, phóng khoáng, dứt khoát.
Bởi vậy Lụa Vạn Phúc không chỉ được ưa chuộng trong nước mà đã vượt ra
ngoài lãnh thổ Việt Nam tới tay những người sành điệu bốn phương. Ngày nay,
nghề dệt lụa ở Vạn Phúc chủ yếu được dệt bằng máy, mẫu hoa được lập trình,
chỉ còn hai công đoạn hồ và vuốt tơ tằm là làm bằng tay. Mỗi năm Vạn Phúc dệt
được 2,5 triệu mét lụa các loại, doanh thu 40 - 42 tỉ đồng. Hiện nay có khoảng
600 hộ chuyên dệt, khoảng 200 hộ có tham gia một vài công đoạn dệt lụa. Nay
Vạn Phúc trở thành phường thuộc thành phố Hà Đông có số hộ trên 1.200 hộ,
Vạn Phúc trở thành một tổ hợp dệt lụa sầm uất ngay tại nơi đô hội và hàng năm
vẫn phải thuê thêm 400 lao động từ bên ngoài vào làm quanh năm.

lòng kiên nhẫn của con người”. Cây mây lớn rất chậm, mỗi năm nó chỉ dài ra
thêm có 1m, khi nó dài tới 5m là phải thu hoạch (nghĩa là trồng cây mây khoảng
5 năm mới được thu hoạch). Cây mây non quá, già quá đều kém chất lượng.
16
Muốn trồng cho cây mây thẳng, khi trồng mây phải đặt cho rễ mây sao cho
thẳng. Rễ dài đến đâu phải đào hố sâu tới đó để làm sao cho rễ mây thẳng. Kinh
nghiệm cho thấy, khi đặt rễ thẳng như thế, dù cây mây có leo, có cuốn xoắn vào
cây khác thì khi chẻ sợi mây cũng cứ thẳng không bị vặn.
* Về kỹ thuật chế biến mây thì gồm có hai công đoạn: Phơi sấy và chẻ mây.
- Kỹ thuật phơi mây: Người thợ thủ công thường dành nhiều công sức
cho việc phơi sấy mây. Khi sấy, nhiều khói quá mây sẽ đỏ, ít khói quá mây cũng
bị đỏ. Khi phơi sợi mây mà gặp phải trời mưa thì sẽ mất vẻ đẹp, mà nắng quá thì
mây sẽ mất màu tươi. Sợi mây chưa khô tời thì nước da bị úa, mà khô kiệt quá
thì nước da mất vẻ óng mềm. Do đó phơi sấy mây đòi hỏi đúng kỹ thuật. Người
làm công việc này không thể sao nhãng, mà phải liên tục săn sóc, theo dõi như
người chăn tằm vậy.
- Kỹ thuật chẻ mây: Chẻ mây là công việc công phu, đòi hỏi tay nghề khá
cao, nếu chỉ chẻ cây mây làm bốn sợi (chẻ tư) thì rất dễ, ai cũng làm được. Song
chẻ bảy, chẻ chín (chẻ cũng phải lẻ) thì không hề dễ chút nào, nếu không phải
thợ giỏi chuyên làm nan, làm sợi mây thì không chẻ nổi. Yêu cầu chủ yếu của
việc chẻ mây là các sợi mỗi loại thật đều nhau: loại sợ to để đan, cạp các sản
phẩm thường; loại sợi nhỏ dùng để làm các loại hàng quí, hay để tạo các loại
hoa văn cầu kỳ, tinh tế.
Kỹ thuật chẻ lẻ khi làm nan sợi tre, mây của ta chính là một sáng tạo quý
báu, tùy thanh tre, mây to nhỏ mà quyết định chẻ chẵn, hay lẻ. Chẻ lẻ thực chất
là cách tiết kiệm cây mây khi sản xuất hàng hóa. Vì là chẻ lẻ, nên cầm sợi mây
phải lệch. Chẻ xong, sợi mây lớn phải thành 7 hoặc 9 sợi nhỏ. Chẻ lệch song
vẫn phải cân, sợi nào cũng như sợi nào.
Chất lượng và mỹ thuật sợi mây là một trong hai yếu tố quyết định giá trị
của sản phẩm mây đan. Người thợ Phú Vinh vốn có tay nghề cao, họ hiểu sâu

gỗ; mài khảm; thể hiện đường nét và cuối cùng là dùng bột đen sơn để làm rõ
các chi tiết của bức tranh.
Những chi tiết trang trí trên khảm trai rất sinh động đặc sắc. Những mảnh
trai vô tri, vô giác, qua bàn tay khéo léo, óc sáng tạo phong phú đã được gắn vào
gỗ để trở thành không ít sản phẩm hữu ích có giá trị văn hoá, nghệ thuật cao. Đó
là những công việc khó, có khi phải trổ hàng nghìn mũi dao nhỏ li ti mới thể
18
hiện được một sợi râu, một nếp nhăn trên trán nhân vật hoặc một chi tiết trong
phong cảnh.
Khảm trai thường được kết hợp với đồ gỗ đánh bóng sơn mài mỹ nghệ,
tuy nhiên nền các bức khảm xà cừ thường có màu tối của lớp sơn đen chứ không
có thêm nhiều màu sắc như các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác, do bản thân
chất liệu xà cừ có tạo nên nhiều màu sắc óng ánh cho chi tiết trang trí. Các họa
tiết ở đồ khảm xà cừ có thể là về hoa lá, chim bướm, các danh lam thắng cảnh ở
Việt nam hay từ một tích cổ nào đó trong dân gian.
Hiện nay, công đoạn khắc thủ công có thể thay thế bằng máy khắc laser,
các loại máy móc hỗ trợ khác song việc cẩn các mảnh xà cừ và hoàn thiện sản
phẩm vẫn không thể thiếu được đôi bàn tay của các nghệ nhân.
Nét bổi bật của tranh khảm trai Chuôn Ngọ là những mảnh trai không vỡ,
luôn phẳng, đục gắn xuống gỗ rất khít, Chi tiết trang trí trên khảm trai rất sinh
động, đặc sắc. Những mảnh trai vô tri, vô giác, qua bàn tay khéo léo, óc sáng
tạo phong phú đã được gắn vào gỗ để trở thành sản phẩm có giá trị văn hóa,
nghệ thuật cao. Từ tủ khảm, giường khảm cho đến các sản phẩm đơn giản của
cuộc sống như bàn cờ, tranh treo tường không những đáp ứng được nhu cầu và
thị hiếu khách du lịch trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên
thế giới. Nhờ có mặt hàng khảm trai, làng nghề Chuôn Ngọ và xã Chuyên Mỹ
vẫn giữ được danh tiếng làng nghề truyền thống, dân làng có công ăn việc làm,
tổng thu nhập từ nghề khảm trai mỗi năm lên đến hàng tỷ đồng, xứng đáng là
một làng nghề điển hình.
1.2.2.4 Làng nghề sơn mài Hạ Thái

vững hơn vải. Cách bó hom vóc được tiến hành như sau: dùng đất phù sa (ngày
nay người thợ có thể dùng bột đá) trộn sơn ta giã nhuyễn cùng giấy bản rồi hom,
chít các vết rạn nứt của tấm gỗ. Mỗi lớp sơn lại lót một lớp giấy (hoặc vải màn)
sau đó còn phải đục mộng mang cá để cài và gắn sơn cho các nẹp gỗ ngang ở
sau tấm vóc (ván gỗ) để chống vết rạn xé dọc tấm vải. Sau đó để gỗ khô kiệt
mới hom sơn kín cả mặt trước, mặt sau. Công đoạn này nhằm bảo vệ tấm vóc
không thể thấm nước, không bị mối mọt, không phụ thuộc môi trường làm gỗ co
ngót. Xử lý tấm vóc càng kỹ, càng kéo dài tuổi thọ cho đồ vật cần sơn, mỗi tác
phẩm sơn mài có tuổi thọ 300 - 400 năm.
20
- Trang trí: Khi có được tấm vóc nói trên (hoặc các mô hình chạm khác
bình hoa, các bộ đồ khác), người chế các món đồ phải làm các công đoạn gắn,
dán các chất liệu tạo màu cho tác phẩm trước tiên như: vỏ trứng, mảnh xà cừ,
vàng, bạc sau đó phủ sơn rồi lại mài phẳng, tiếp đến dùng màu.
Với kỹ thuật sơn phủ tượng và đồ nội thất như: hương án, hoành phi, câu
đối người thợ phải làm trong phòng kín và quây màn xung quanh để tránh gió
thổi các nguyên liệu như quỳ vàng, quỳ bạc, tránh bụi bám vào nước sơn còn ướt.
- Mài và đánh bóng: Vì dầu bóng đã pha màu để vẽ nên độ bóng chìm
trong cốt màu tạo thành độ sâu thẳm của tranh, do đó sau mỗi lần vẽ phải mài.
Người xưa sử dụng lá chuối khô làm giấy nháp, đến nay nguyên tắc đánh bóng
tranh lần cuối chưa có gì thay thế phương pháp thủ công vì loại tranh này không
được phép phủ dầu bóng - đó chính là điểm độc đáo của tranh sơn mài. Sự
thành công của một bức tranh sơn mài phụ thuộc rất lớn vào công đoạn sau
cùng. Có một số thứ để mài và đánh bóng như: than củi xoan nghiền nhỏ, tóc
rối, đá gan gà v.v
Người thợ sơn Hạ Thái đã bao đời nay pha sơn theo kinh nghiệm cổ
truyền. Tuy nhiên, trong sản xuất đồ sơn mài hiện nay họ đã áp dụng kỹ thuật
hiện đại để pha chế, thay đổi một vài công đoạn phủ sơn nhằm giảm bớt thao tác
thừa, tạo ra loại sơn mới có độ bóng, bền, đẹp. Nghệ nhân Đinh Văn Lịch giới
thiệu các công đoạn cơ bản của nghề sơn: “Làng Hạ Thái sử dụng sơn ta trong

rực rỡ.
22
Nón làng Chuông đẹp dáng, lại bền, từng là kỉ vật tạo nên vẻ đẹp duyên
dáng của bao cô gái bước lên xe hoa theo chồng.
Xa xưa, nón làng Chuông là món quà tiến hoàng hậu, công chúa bởi vẻ
đẹp rất riêng được làm nên bởi những bàn tay tài hoa, khéo léo của các nghệ
nhân lành nghề. Còn ngày nay, nón làng Chuông có mặt khắp nơi, cả trong và
ngoài nước.
Trung bình một ngày, làng Chuông làm được 7.000 chiếc nón, xuất đi các
tỉnh. Ngoài ra, nón làng Chuông được xuất sang Trung Quốc, Nhật Bản và các
nước Châu Âu.
Tuy nhiên, so với các làng nghề khác, người dân làng Chuông vẫn còn
nghèo. Nguyên liệu lá lụi phải nhập từ các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh do làng
không tự trồng được. Giá nón xuất đi lại rẻ, chỉ từ 3.000 đến 7.000/chiếc nên cả
gia đình cùng làm thì thu nhập trung bình một hộ chỉ được từ 10.000 đến 15.000
đồng/ngày.
Cầm chiếc nón trắng loá với những đường khâu khéo léo và chắc chắn trên tay,
ít ai biết rằng để làm nên nó cũng thật lắm công phu. Đầu tiên là việc chọn lá.
Lá lụi mua về được vò trong cát rồi phơi hai, ba nắng cho đến khi màu xanh của
23
lá chuyển sang bạc trắng. Sau đó, lá được lót dưới nắm giẻ, dùng lưỡi cày miết
nhanh sao cho lá phẳng mà không giòn, không nát.
Vũng nón làm bằng cật nứa vót nhỏ và đều, khi nối bắt buộc vũng nón
phải tròn và chỗ nối không có vết gợn. Khác với nón thường có đến 20 lớp
vũng, nón làng Chuông có 16 lớp vũng, giúp nón có độ bền chắc nhưng vẫn
mềm mại.
Tiếp theo, người thợ xếp từng lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp
lỏ nữa rồi khâu. Khâu là một công đoạn rất khó, vì lá dễ rách, bởi vậy chỉ những
bàn tay khéo léo và có kinh nghiệm mới làm được. Bàn tay người thợ cầm kim
đưa nhanh thoăn thoắt nhưng mềm mại, từng mũi khâu thẳng đều từ vòng trong

nón mà đã nuôi hai, ba người con học hết đại học. "Tôi tự hào với nghề truyền
thống của làng, nhưng mong rằng làng nghề được quan tâm nhiều hơn để cuộc
sống những người làm nón như chúng tôi bớt khó khăn" một nghệ nhân hơn 40
năm gắn bó với nghề, gia đình từng năm đời làm nón thổ lộ như vậy.
Bên những triền đê phơi lá lụi trắng xoá, bàn tay những người dân làng
Chuông, từ em bé 7 - 8 tuổi cho đến cụ già 70 - 80 tuổi vẫn từng ngày gìn giữ vẻ
đẹp cho một nghề truyền thống, giữ gìn một nét đẹp bình dị của người phụ nữ
Việt Nam, góp thêm niềm tự hào của chúng ta với bạn bè quốc tế.
1.2.2.6. Làng nghề nặn Tò He
Làng Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên là nơi có truyền thống
nặn tò he. Theo lời một cụ già trong làng, nghề nặn tò he có lịch sử hơn 300
năm. Nhưng đến nay, không phải ai cũng biết rõ về cái nghề đã được không ít
bạn bè quốc tế biết đến này.
Tò He là một loại đồ chơi dân gian của trẻ em Việt Nam, có thể ăn được.
Nặn tò he là một nét văn hóa dân gian ở các vùng quê Việt Nam, đặc biệt là ở
Làng Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.
Trước kia làng Xuân La là cánh đồng chiêm trũng, một năm chỉ cấy được
một vụ lúa. Thời gian còn lại rỗi rãi, một số người đã nặn những hình con cò,
con chim, con gà bằng đất, nung qua lửa rồi cắm vào đó chiếc kèn và bán cho
các cháu nhỏ làm đồ chơi. Khi cuộc sống nhà nông được no đủ, có thóc gạo để
dành, họ đã chuyển từ nặn bằng đất sang nặn bằng bột gạo. Hình dáng của
những thứ được nặn cũng đa dạng hơn.
25

Trích đoạn CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH LIÊN KT GIA CÔNG TY L HÀNH VÀ ỮỮ ĐỂ ỀỐ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status