Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với những thành tựu về kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển làm đời
sống vật chất, tinh thần của dân cư trên thế giới được nâng cao. Bên cạnh đó,
các điều kiện cơ sở hạ tầng cho du lịch ngày càng hoàn thiện làm cho du lịch
không còn thuộc riêng về một bộ phận dân cư nào nữa mà nó trở thành hiện
tượng mang tính đại chúng. Du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến và nhu
cầu về du lịch ngày càng tăng lên. Chính vì vậy một số lớn khách du lịch đã tăng lên
trong thời gian qua kể cả du lịch trong nước và du lịch nước ngoài. Ngành du lịch đã
dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp một tỷ lệ lớn vào GDP của đất nước.
Du lịch Việt Nam ngày càng được nhiều nơi trên thế giới biết đến, lượng
khách nước ngoài đến Việt Nam ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, rủi ro luôn tiềm ẩn
trong suốt cuộc hành trình, mặc dù đã có những biện pháp ngăn ngừa và đề phòng
nhưng du khách vẫn không tránh khỏi nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ
xảy ra. Vì vậy sự xuất hiện của bảo hiểm du lịch là một tất yếu khách quan
nhằm bù đắp một phần thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nghiệp vụ bảo
hiểm du lịch đang được rất nhiều các công ty bảo hiểm triển khai và ngày càng
có nhiều người biết đến. Với bản chất gắn liền với sự phát triển của ngành du
lịch, bảo hiểm du lịch đang đứng trước một tiềm năng to lớn.
Qua quá trình học tập, nghiên cứu tại Bộ môn Tài chính bảo hiểm – Trường
Học viện Tài chính, cùng với những kiến thức thu được sau một thời gian thực
tập tại phòng bảo hiểm Ba Đình thuộc Công ty Bảo Việt Hà Nội (BVHN), em
quyết định chọn đề tài: ‘‘Giải pháp tăng cường công tác khai thác bảo hiểm
du lịch tại Công ty Bảo Việt Hà Nội – Chi nhánh Ba Đình’’
Mục đích nghiên cứu:
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
− Phân tích thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm du lịch tại phòng bảo
tiêu dùng trong thời gian của chuyến hành trình. Với các chuyến đi với mục đích
kinh doanh còn thúc đẩy hợp tác, kinh doanh sản xuất phát triển
Người ta coi du lịch là ngành công nghiệp không khói vì không những
không hoạt động tạo ra chất độc hại với môi trường mà qua những hoạt động
của nó còn có lợi cho môi trường. Những hoạt động cải tạo điều kiện xung
quanh, cảnh quan môi trường góp phần làm đẹp cảnh quan thiên nhiên, môi
trường xung quanh trong sạch hơn để thu hút khách du lịch.
Ngày nay khi mà đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thì nhu
cầu của con người cũng cao hơn, đa dạng phong phú hơn. Đặc biệt là nhu cầu
được phục vụ, được nghỉ ngơi, đi tham quan, giải trí, du lịch. Do việc đáp ứng
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
nhu cầu này của con người mà ngành du lịch đã ra đời và kèm theo đó có các
dịch vụ du lịch và các dịch vụ bảo hiểm - bảo hiểm du lịch.
Bảo hiểm du lịch là là một sản phẩm của bảo hiểm thương mại thuộc nhóm
sản phẩm bảo hiểm con người phi nhân thọ. Bảo hiểm du lịch nhằm bảo vệ tính
mạng, tình trạng sức khỏe, hành lý cá nhân của người được bảo hiểm. Bảo hiểm
du lịch phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các bên thông qua hợp đồng bảo hiểm
du lịch, người tham gia đóng góp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho công
ty bảo hiểm để được hưởng những quyền lợi trong phạm vi bảo hiểm như những
giao kết trong hợp đồng.
Khi chúng ta chuẩn bị cho kỳ nghỉ mơ ước hay lên kế hoạch cho chuyến
công tác, chúng ta thường "tiết kiệm" và không mua bảo hiểm du lịch. Chúng ta
tự nhủ rằng: Sẽ chẳng có chuyện gì không may xảy ra trong suốt hành trình. Vậy
mua bảo hiểm du lịch có đáng hay không hay chúng ta phải thêm khoản chi phí
không cần thiết vào chi phí của hành trình.
Cuộc sống chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro bất ngờ. Kỳ nghỉ thơ mộng của
bạn có thể trở thành cơn ác mộng khi bạn nhỡ chuyến bay nối chuyến, phải hủy
các vấn đề trì hoãn hoặc trễ chuyến bay, thất lạc mất hành lý, tai nạn giao thông
…Cùng với việc di chuyển, bạn cũng phải chịu những thay đổi về thời tiết, lệch
múi giờ, dị ứng thực phẩm … nên việc bị ốm là rất hay xảy ra.
Nghiêm trọng hơn, hiện nay có rất nhiều vấn đề phức tạp khác xảy ra mà
bạn vô tình là nạn nhân như máy bay bị không tặc hay mắc kẹt tại các sân bay,
ga tàu vì lý do thời tiết, bãi công hay chiến tranh…Ngoài ra, còn vô số các vấn
đề phiền toái khác mà bạn khó lường trước được khi đi du lịch, đặc biệt là ở
nước ngoài, bạn sẽ càng khó khăn hơn để xử lý sự cố và chi phí phải trả cho
những rắc rối đó sẽ cao hơn trong nước rất nhiều.
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
Vì vậy, bảo hiểm du lịch là một giải pháp thiết thực, giúp bạn giải quyết
nhanh chóng các rủi ro, đem lại sự an tâm về tài chính và sự an toàn của bản
thân mình.
1.1.2.Vai trò của bảo hiểm du lịch
Bảo hiểm nói chung hay bảo hiểm du lịch nói riêng đều mang lại những
hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực.
1.1.2.1.Đối với cá nhân và xã hội
Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm du lịch nói riêng góp phần đề phòng và
hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn,
giảm bớt nỗi lo lắng cho cá nhân, gia đình và xã hội.
Dù ở bất cứ nơi đâu thì con người luôn mong muốn được an toàn, và
khách du lịch cũng vậy, họ mong muốn được bảo vệ trong suốt chuyến hành
trình của mình. Do vậy bảo hiểm du lịch là cần thiết trong mọi chuyến du lịch.
Nếu không có bảo hiểm, khi xảy ra tổn thất du khách sẽ gặp rất nhiều khó khăn,
trở ngại. Tham gia bảo hiểm thì nhà bảo hiểm sẽ cùng với người tham gia thực
hiện các phương án đề phòng, hạn chế tổn thất một cách chuyên nghiệp và hiệu
quả nhất. Từ đó, trong suốt chuyến hành trình của người tham gia sẽ hạn chế rủi
những biện pháp tự bảo đảm an toàn. Tuy nhiên họ vẫn muốn mua bảo hiểm để
đảm bảo về mặt tài chính và đặc biệt là về mặt tinh thần để họ an tâm nhất trong
chuyến hành trình của mình.Vì vậy mà tỷ lệ bồi thường đối với nghiệp vụ này là
tương đối thấp, và tỷ lệ lợi tức trên doanh thu cao.
Thực tế cho thấy ở các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh,
Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan… thì bảo hiểm du lịch là một nghiệp vụ quan
trọng. Tại Việt Nam, tuy chưa được các công ty chú trọng nhưng nghiệp vụ này
được đánh giá có tiềm năng phát triển vì số lượng khách du lịch trong những
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
năm gần đây tăng và Chính phủ cũng đã chú ý đến việc xây dựng các địa điểm
du lịch hấp dẫn, những chương trình du lịch tổ chức với quy mô lớn. Vì vậy,
doanh thu phí từ nghiệp vụ này có xu hướng tăng lên đáng kể trong thời gian tới.
Các công ty bảo hiểm nói riêng và ngành bảo hiểm nói chung sẽ có thêm một
nghiệp vụ chiến lược đóng góp vào sự phát triển của công ty cũng như cho
ngành bảo hiểm.
1.1.2.3.Đối với ngành du lịch
Bảo hiểm du lịch ra đời góp phần hoàn thiện sản phẩm du lịch. Do nhu
cầu an toàn trong mỗi chuyến đi, bảo hiểm du lịch đã trở thành đòi hỏi tất yếu
của du khách khi đi du lịch. Các du khách có nhu cầu đi du lịch, họ tìm hiểu các
chương trình du lịch của các công ty bảo hiểm khác nhau và sự có mặt của sản
phẩm bảo hiểm cũng là một tiêu chí để họ lựa chọn. Do vậy để hấp dẫn khách
du lịch, các công ty lữ hành ngày càng quan tâm đến các sản phẩm bảo hiểm du
lịch hơn. Nhờ có sản phâm bảo hiểm du lịch mà chất lượng phục vụ của các
công ty lữ hành được tốt hơn, hấp dẫn khách du lịch hơn đồng nghĩa với việc
doanh thu của các công ty lữ hành tăng, ngành du lịch phát triển kéo theo sự
phát triển của rất nhiều ngành khác.
Và một yếu tố nữa cũng rất quan trọng mà nghiệp vụ này đóng góp vào sự
quy tắc này vẫn được tham gia và hưởng quyền lợi của các loại hình bảo hiểm
khác.
b.Phạm vi bảo hiểm
- Chết, thương tật thân thể do tai nạn
- Chết do ốm đau, bệnh tật bất ngờ trong thời hạn bảo hiểm.
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
- Chết hoặc thương tật thân thể do NĐBH có hành động cứu người, cứu
tài sản của Nhà nước, của nhân dân và tham gia chống các hành động phạm
pháp.
c.Hình thức bảo hiểm
- Bảo hiểm chuyến: Bảo hiểm có hiệu lực kể từ thời gian bắt đầu chuyến
du lịch tại nơi xuất phát và kết thúc khi chuyến du lịch hoàn thành theo thời gian
và địa điểm ghi trên HĐBH.
- Bảo hiểm tại khách sạn:
Trường hợp PBH được thu gộp cùng với tiền phòng ở khách sạn: Bảo
hiểm có hiệu lực kể từ thời điểm NĐBH hoàn thành thủ tục nhận phòng tại
khách sạn cho đến khi NĐBH làm xong thủ tục trả phòng.
Trường hợp cá nhân yêu cầu tham gia bảo hiểm tại khách sạn: Bảo hiểm
có hiệu lực kể từ thời điểm NĐBH hoàn thành thủ tục nhận phòng tại khách sạn
cho đến 12h.00 ngày kết thúc bảo hiểm ghi trên GCNBH.
- Bảo hiểm tại điểm: Trường hợp vé vào cửa khu du lịch có thu PBH được
coi là HĐBH tại điểm.Bảo hiểm có hiệu lực kể từ khi NĐBH qua cửa kiểm soát
vé để vào khu du lịch và kết thúc ngay khi NĐBH ra khỏi cửa soát vé đó để trở
về nơi cư trú.
d.Số tiền bảo hiểm: Tùy thuộc vào sự lựa chọn của người tham gia bảo
hiểm mà STBH là bao nhiêu trong phạm vi từ 1.000.000 đến 10.000.000 đồng.
Phí bảo hiểm : Tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,015% STBH/người/ngày.
Số tiền bảo hiểm: - Về người: Từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ;
- Về hành lý: Bằng 10% số tiền bảo hiểm về người.
Phí bảo hiểm:
Từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 10: 0,015%STBH/người/ngày
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: 0,012%STBH/người/ngày
Từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 60: 0,010%STBH/người/ngày
Từ ngày thứ 61 đến ngày thứ 90: 0,008%STBH/người/ngày
Từ ngày thứ 91 trở đi: 0,005%STBH/người/ngày
d.Loại trừ: Bảo Việt không chịu trách nhiệm đối với:
- NĐBH cố ý vi phạm: Pháp luật, nội quy, quy định của cơ quan du lịch,
của chính quyền địa phương nơi du lịch.
- Hành động cố ý của NĐBH hoặc người thừa kế hợp pháp (là người được
chỉ định nhận tiền bảo hiểm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc di chúc hay
theo pháp luật).
- NĐBH bị ảnh hưởng của rượu, bia, ma túy và chất kích thích tương tự
khác
- Chiến tranh
- NĐBH phát bệnh tâm thần, mang thai (trừ sẩy thai do tai nạn), sinh đẻ.
- NĐBH tiếp tục điều trị vết thương hoặc bệnh tật phát sinh từ trước khi
bảo hiểm có hiệu lực
- Điều trị hoặc sử dụng thuốc không theo chỉ dẫn của y, bác sĩ điều trị
- Mất vàng, bạc, đá quý, kim loại quý, tiền mặt, séc du lịch, các chứng từ
có giá trị như tiền, hộ chiếu, bàng lái xe, vé các loại, tài liệu, chứng từ, bản vẽ.
- Đồ vật bị xây xát ướt mà không làm mất đi chức năng của nó.
- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trưng thu, cầm giữ hoặc tịch thu.
1.2.3.Bảo hiểm người nước ngoài du lịch tại Việt Nam
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
- Ðối với người: STBH từ 1000 USD đến 10.000 USD tuỳ theo sự lựa
chọn của Người tham gia bảo hiểm.
e.Phí bảo hiểm:
Bằng tỷ lệ (%) X STBH. Tỷ lệ phí phụ thuộc vào thời gian đi du lịch, hình
thức chuyển đi du lịch
Phí bảo hiểm :
Từ ngày thứ 01 đến ngày thứ 10: 0,015% STBH/ người/ngày
Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: 0,012% STBH/ người/ngày
Từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 60: 0,009%STBH/người/ngày
Từ ngày thứ 61 đến ngày thứ 90: 0,008%STBH/người/ngày
Từ ngày thứ 91 trở đi : 0,005%STBH/người/ngày
- Ðối với hành lý: Bằng 10% X STBH về người.
f.Loại trừ
Bảo Việt không chịu trách nhiệm đối với:
- NĐBH cố ý vi phạm: Pháp luật, nội quy, quy định của cơ quan du lịch,
của chính quyền địa phương nơi du lịch.
- Hành động cố ý của NĐBH hoặc người thừa kế hợp pháp (là người được
chỉ định nhận tiền bảo hiểm theo GCNBH hoặc di chúc hay theo pháp luật).
- NĐBH bị ảnh hưởng của rượu, bia, ma túy và chất kích thích tương tự
khác
- Chiến tranh.
- NĐBH phát bệnh tâm thần, mang thai (trừ sảy thai do tai nạn), sinh đẻ.
- NĐBH tiếp tục điều trị vết thương hoặc bệnh tật phát sinh từ trước khi
bảo hiểm có hiệu lực
- Điều trị hoặc sử dụng thuốc không theo chỉ dẫn của y, bác sĩ điều trị
SV: Trần Thị Huế Lớp
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
Bảng 1: Biểu phí bảo hiểm du lịch ngắn hạn áp dụng cho độ tuổi dưới 60
Biểu phí áp dụng cho độ tuổi dưới 60
Thời gian/ chuyến đi Phí bảo hiểm ( Ngoại tệ : USD$ / người )
Thời hạn bảo hiểm Loại A Loại B Loại C
1. Từ 8 ngày trở xuống 30 32 36
2. Từ 9 đến 15 ngày 41 45 51
3. Từ 16 đến 20 ngày 49 54 61
4. Từ 21 đến 25 ngày 57 63 72
5. Từ 26 đến 30 ngày 65 72 82
6. Từ 31 đến 40 ngày 81 90 103
7. Từ 41 đến 50 ngày 97 108 124
8. Từ 51 đến 60 ngày 113 126 145
9. Từ 61 đến 70 ngày 129 144 166
10. Từ 71 đến 80 ngày 145 162 187
11. Từ 81 đến 90 ngày 161 180 208
(Nguồn: Bảo Việt Hà Nội)
Lưu ý:
- Thời gian hành trình tính cả ngày đi và ngày về theo lịch.
- Số ngày tối đa cho mỗi chuyến đi là 90 ngày.
- Dịch vụ cứu trợ y tế được thực hiện trên cơ sở 24/24 giờ.
- PBH được tính riêng theo độ tuổi của từng thành viên trong gia đình,
không tính theo tuổi bình quân.
- Hợp đồng này không nhận bảo hiểm cho cá nhân có thời hạn cư trú ở
Việt Nam ít hơn 180 ngày.
Bảng 2: Biểu phí bảo hiểm du lịch ngắn hạn áp dụng cho độ tuổi từ 60 - 65
tuổi
Biểu phí áp dụng cho độ tuổi từ 60-65 tuồi
Thời gian du lịch/chuyến đi Phí bảo hiểm ( Ngoại tệ : USD$ / người )
sức khoẻ nghiêm trọng hoặc khi điều trị có thể trì hoãn được cho đến khi trở về
Việt Nam
- Tự tử, cố ý tự gây thương tích.
- Thai sản, sinh nở
- Các thể loại ốm đau hoặc bệnh tật, bệnh hoa liễu hay AIDS.
- Tác động ảnh hưởng say/kích thích của rượu bia hoặc thuốc phiện.
- Tham gia nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ quân sự, hoặc phòng cháy chữa cháy.
- Tham gia các hoạt động trên không trừ khi là hành khách đi lại bằng
đường hàng không.
- Tham gia vào (kể cả trường hợp luyện tập hoặc theo chương trình bắt
buộc) bất kỳ môn thể thao hay các môn thi đấu nào mang tính chuyên hay
nghiệp dư hoặc các môn thể thao mạo hiểm.
- Phẫu thuật thẩm mỹ, các phẫu thuật không cần thiết hoặc mắc bệnh bẩm
sinh.
1.2.5.Bảo hiểm du lịch nhóm
a.Đối tượng bảo hiểm
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
Chi phí y tế và cứu trợ trong trường hợp đối tượng thăm gia bảo hiểm là những
nhóm người cá nhân hoặc tổ chức đi du lịch theo hình thức tập thể tham quan,
thăm viếng, hội họp, biểu diễn, nghỉ mát hoặc tham gia các hoạt động đặc biệt
trên phạm vi lãnh thổ trong nước và thế giới, bị tai nạn ốm đau khi đang trên
hành trình du lịch.
b.Phạm vi bảo hiểm (tính trên mỗi chuyến đi): chi phí y tế, hỗ trợ cấp cứu,
tai nạn, mất hành lý và tư trang, nhận hành lý chậm, mất giấy tờ thông hành, chi
phí cắt bớt hay hủy bỏ chuyến đi.
c.Loại trừ
Đơn bảo hiểm này sẽ không bảo hiểm cho những tổn thất thiệt hại phát
Khai thác trực tiếp là hình thức khai thác không có vai trò “cầu nối” của
trung gian bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm được trực tiếp cung cấp cho khách
hàng bằng một trong những cách sau:
- Bán tại các văn phòng của công ty: Nhân viên của DNBH trực tiếp thực
hiện việc bán sản phẩm tại các trụ sở hay tại văn phòng như phòng bảo hiểm khu
vực, các chi nhánh…
- Bán trực tuyến: Là việc bán sản phẩm qua hệ thống bưu điện, điện thoại
hoặc mạng máy tính… Khách hàng sẽ trực tiếp liên hệ với phòng bảo hiểm khu
vực hay chi nhánh để mua bảo hiểm.
Nhìn chung việc khai thác trực tiếp giúp NBH có điều kiện hơn trong việc
bám sát nhu cầu thị trường, phản ứng nhạy bén với những thay đổi của thị
trường, tạo ra sự yên tâm và tin tưởng trong tâm lý của khách hàng. Mặt khác,
DNBH còn giảm bớt được các chi phí trung gian, giám sát được các chi phí khai
thác, tăng lợi thế cạnh tranh.
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
Khai thác gián tiếp là hình thức khai thác trong đó các trung gian bảo hiểm
đóng vai trò nối kết giữa NBH và khách hàng có nhu cầu bảo hiểm. Nhờ vậy,
NBH có thể tập trung vào nghiên cứu và thiết kế sản phẩm phù hợp với nhu cầu
của người mua, đồng thời phát huy các lợi thế của các phần tử trung gian để
thúc đẩy khai thác, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trung gian bảo hiểm bao
gồm: đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm.
- Đại lý bảo hiểm: Là tổ chức, cá nhân được DNBH ủy quyền trên cơ sở
hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định
của pháp luật như: giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết HĐBH,
thu phí bảo hiểm, thu xếp giải quyết bồi thường…Trong bảo hiểm du lich đại lý
có thể là đại lý bán vé máy bay, các công ty du lịch.
- Môi giới bảo hiểm: Là người đại diện của bên mua bảo hiểm (với bảo
có khả năng thanh toán và sẵn sàng chi trả
- Các nhân tố về chất lượng dịch vụ và thương hiệu của doanh nghiệp:
Thời gian giải quyết hồ sơ, xử lý phát sinh; công tác giám định, bồi thường khi
xảy ra tổn thất; hoạt động chăm sóc khách hàng… là những yếu tố quyết định
chất lượng sản phẩm bảo hiểm, thể hiện hình ảnh DNBH chuyên nghiệp với
khách hàng. Đồng thời, không thể phủ nhận rằng uy tín của DNBH là nhân tố
tác động không nhỏ tới quyết định mua bảo hiểm của khách hàng. Lẽ tự nhiên là
khách hàng cảm thấy yên tâm hơn khi tài sản của họ được bảo hiểm bởi doanh
nghiệp có uy tín lâu năm trên thị trường. Cùng với nhân tố về nhu cầu bảo
hiểm, đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến kết quả khai thác.
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
- Tổ chức mạng lưới khai thác: KTV là những người thực hiện nhiệm vụ
chuyển giao sản phẩm từ DNBH (người bán) đến khách hàng (người mua). Do
vậy, nhân tố về số lượng cũng như trình độ chuyên môn của KTV có ảnh hưởng
rất lớn tới kết quả và hiệu quả khai thác, giúp DNBH chủ động khai thác triệt để
thị trường.
- Các nhân tố kinh tế: Các nhân tố như sự tăng trưởng hay suy thoái kinh
tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất tín dụng… đều có tác động đến công tác khai thác bảo
hiểm du lịch, ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua sản phẩm bảo hiểm
- Các nhân tố chính trị, pháp lý: Nhân tố này có tác động mạnh mẽ đến thị
trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm du lịch nói riêng, có tác dụng hạn chế
hoặc khuyến khích thị trường phát triển.
- Các nhân tố tự nhiên: Các nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi
trường sinh thái… ảnh hưởng đến khả năng xảy ra rủi ro, làm tăng hoặc giảm
nhu cầu bảo hiểm.
1.3.3.Vai trò của công tác khai thác bảo hiểm
Khai thác là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm, là
thể là tỷ lệ bồi thường cao hơn mức cho phép dẫn tới hiệu quả kinh doanh
nghiệp vụ thấp, trích lập dự phòng nghiệp vụ thấp hơn mức cần thiết khiến thiếu
hụt nguồn chi trả bồi thường và theo đó khả năng thanh toán với các chủ HĐBH
trong các năm tài chính tương lai bị hạn chế.
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths.Trịnh Hữu
Hạnh
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHAI THÁC BẢO HIỂM DU LỊCH
TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT HÀ NỘI – CHI NHÁNH BA ĐÌNH
2.1.VÀI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO VIỆT HÀ NỘI VÀ PHÒNG BẢO HIỂM BA ĐÌNH
2.1.1.Về Công ty Bảo Việt Hà Nội
Công ty Bảo Việt Hà Nội trực thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Việt Nam một thành viên của Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt. Công ty
Bảo Việt Hà Nội được thành lập từ năm 1980 theo quyết định số 1125/QĐ -
TCCB ngày 17/11/1980 của Bộ Tài chính với nhiệm vụ là tổ chức hoạt động
kinh doanh bảo hiểm thương mại trên địa bàn Thủ đô. Khi mới thành lập có tên
gọi là Chi nhánh Bảo hiểm Hà Nội trực thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam
có trụ sở đặt tại số 07 Lý Thường Kiệt - Hoàn Kiếm - Hà Nội.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước có những chuyển mình căn
bản, thị trường hàng hoá và thị trường vốn trong nước nói chung và Hà nội nói
riêng cũng trở nên sôi động, đặt bảo hiểm thương mại trước yêu cầu mới trong
sự nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày
17/02/1989, Bộ Tài chính đã ra quyết định 27/TCQĐ -TCCB chuyển Chi nhánh
bảo hiểm Hà Nội thành Công ty bảo hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội),
có trụ sở đặt tại 15C Trần Khánh Dư - Hoàn Kiếm - Hà Nội.
SV: Trần Thị Huế Lớp
CQ46/03.01