Giải pháp tăng cường quản lý khai thác cát trên sông lô huyện phù ninh tỉnh phú thọ - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN TIẾN TUÂN GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÁT
TRÊN SÔNG LÔ HUYỆN PHÙ NINH - TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài
này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi
thực hiện đề tài.

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Tuân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để hoàn thành được luận

LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1. Mục tiêu chung 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1. Cơ sở lý luận về quản lý khai thác cát 5
2.1.1. Khái niệm và vai trò của khai thác cát trên sông 5
2.1.2. Các hoạt động quản lý khai thác cát 14
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác cát 21
2.2. Cơ sở thực tiễn về quản lý khai thác cát 23
2.2.1. Thực tiễn quản lý khai thác tài nguyên cát trên sông ở các nước trên
thế giới 23
2.2.2. Thực tiễn quản lý khai thác tài nguyên cát ở Việt Nam 24
2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong quản lý khai thác cát. 29
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

3.1.1. Đặc điểm về tự nhiên 30

4.4. Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý khai thác cát trên Sông
Lô- huyện Phù Ninh- Phú Thọ 91
4.4.1. Định hướng quản lý khai thác cát trên Sông Lô- huyện Phù Ninh 91
4.4.2. Giải pháp tăng cường quản lý khai thác cát trên Sông Lô- huyện Phù
Ninh- Phú Thọ 92
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1. Kết luận 99
5.2. Kiến nghị 101
PHẦN VI: TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU


DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Vai trò, tác động tích cực của khai thác cát 11
Hình 3.1. Bàn đồ huyện Phù Ninh- tỉnh Phú Thọ ………………… …… 30
Hình

3.2.

C
ơ

c

u

s


dụng

đ

t

đai

huy

n

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC VIẾT TẮT

STT Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa
1 BVMT Bảo vệ môi trường
2
HTX Hợp tác xã
3 KHHGD Kế hoạch hóa giá đình
4 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
5 NSNN Ngân sách nhà nước
6
7
TNTN
TNKS
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên khoàn sản
8 UBND Ủy ban nhân dân
9 TN&MT Tài nguyên và môi trường

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

chính quyền. Do đó quản lý khai thác cát đã trở thành một vấn đề cấp bách
trên tất cả các con sông ở Việt Nam.
Trong số những con sông lớn ở Việt Nam, Sông Lô là một nhánh trong
hệ thống sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào Việt Nam, đi qua địa
bàn huyện Phù Ninh- Phú Thọ. Cũng như hầu hết các dòng sông khác, Sông
Lô có một nguồn tài nguyên cát có trữ lượng và giá trị cao, đóng vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của khu vực. Là nguồn tài
nguyên không thể thiếu trong quá trình đô thị hóa hiện nay. Tuy nhiên trong
công tác quản lý và việc khai thác cát trên sông Lô hiện đã và đang nổi lên 3
vấn đề bất cập. Thứ nhất: Nguồn cát, sỏi sông Lô ngày càng cạn kiệt, công tác
quản lý còn nhiều yếu kém dẫn tới nhiều doanh nghiệp khai thác vượt ranh
giới mỏ được giao, vượt quá giới hạn, độ sâu cho phép, xâm phạm vào cả khu
vực cấm, khu vực chưa cấp phép. Thứ hai: Do hám lợi, nhiều hộ dân đã tự ý
bán đất bãi bồi ven sông cho một số doanh nghiệp sử dụng nhằm mục đích
khai thác cát, sỏi, gây tác động xấu đến môi trường, sạt lở bờ vở sông. Thứ
ba: Một số địa bàn xuất hiện tình trạng tranh giành, hình thành lực lượng bảo
kê cho hoạt động khai thác trái phép cát, sỏi trái phép, làm mất an ninh trật tự
địa phương. Đây cũng chính là những vấn đề thách thức đối với những nhà
quản lý, cũng như nhân dân sống tại đây trong việc đưa ra các chính sách khai
thác và quản lý phù hợp vừa bảo đảm khai thác mang lợi nhuận vừa bảo đảm
phát triển bền vững.
Từ những bất cập nêu trên, huyện Phù Ninh rất cần có một cơ chế thực
hiện quản lý khai thác cát thống nhất, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, những
định hướng giải pháp chung nhất. Từ yêu cầu thực tiễn và những lý do trên tôi
đã lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý
khai thác cát trên Sông Lô, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” nhằm đưa ra
các kiến nghị chính sách để cải thiện hệ thống quản lý nguồn tài nguyên có

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các nội dung liên quan đến
tình hình thực hiện công tác quản lý khai thác cát.
Khách thể nghiên cứu của đề tài là các cơ quan, đơn vị thực thi chính
sách quản lý khai thác cát trên địa bàn huyện Phù Ninh và các hộ nông dân
trên địa bàn ven sông của huyện.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng khai thác, công tác quản lý khai
thác cát, các chính sách trong công tác quản lý khai thác cát trên khu vực sông
Lô thuộc địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ.
+ Phạm vi về không gian:
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
+ Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thực hiện đề tài dự kiến từ tháng 6/2013 đến tháng 5/2014
- Thông tin thứ cấp thu thập từ năm 2010 đến năm 2013.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Cơ sở lý luận về quản lý khai thác cát

phát triển và chỉ mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin nói trên.
Theo S.E. Jorgensen (1981) Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự duy trì
hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quản lý, sử dụng một cách hợp lý
và khôn ngoan.
- Tài nguyên không tái tạo: Tồn tại một cách hữu hạn và sẽ mất đi hoặc
hoàn toàn bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử
dụng. Các khoáng sản, nhiên liệu hoá thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt ), các
thông tin di truyền bị mai một không giữ lại được là những nguồn tài nguyên
thiên nhiên không tái tạo được.
- Tài nguyên vĩnh cửu: loại tài nguyên có liên quan trực tiếp hay gián
tiếp đến năng lượng mặt trời. Có thể xem năng lượng mặt trời là nguồn tài
nguyên vô tận, chúng ta có thể phân ra thành hai dạng. Năng lượng trực tiếp:
là nguồn năng lượng chiếu sáng trực tiếp, giá trị định lượng có thể tính được.
Năng lượng gián tiếp: là những dạng năng lượng gián tiếp của bức xạ mặt trời
bao gồm: gió, sóng biển, thuỷ triều,
b. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên:
- TNTN là một nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế: TNTN là một
trong những nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế, là đối tượng lao động và
là một yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất.
- TNTN là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển: TNTN là cơ sở để phát
triển nông nghiệp và công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ
cấu lao động. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển ở
thời kỳ đầu công nghiệp hoá như Việt Nam. Tuy vậy, cần đề phòng tình trạng
khai thác quá mức TNTN hủy hoại môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

- TNTN là yếu tố quan trọng cho tích luỹ để phát triển: Tại các nước
kém phát triển khai thác TNTN để xuất khẩu lấy vốn tích luỹ ban đầu phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng và góp phần cải

vào dòng chảy do vận tốc dòng chảy lớn. Đa số nguồn cát trong sông được
tạo thành do các trận mưa rào lớn trên lưu vực. Nếu đất đai trên lưu vực có
ít cây bao phủ thì tốc độ xâm thực càng nhanh và tạo thành dòng cát.
Các hạt cát lớn di chuyển dưới đáy sông gọi là bùn cát đáy còn đối
với các hạt nhỏ có thể nằm lơ lửng trong nước một thời gian dài gọi là hạt
cát lơ lửng. Càng về cửa sông thì tốc độ dòng chảy càng nhỏ và chỉ có các hạt
bùn cát có kích thước bé mới theo dòng chảy đổ ra biển. Các hạt cát lớn bị giữ
lại và lắng đọng trên dọc đường.
Sau khi lũ hạ, bùn cát có thể tích tụ lại thành từng vùng được gọi là ghềnh
cạn (bãi cạn, cồn cát). Do sự hình thành của các ghềnh cạn này mà luồng giao
thong thủy có thể bị đổi hướng. Nguồn gốc của bùn cát ảnh hưởng rất lớn đến
đặc trưng của dòng sông và tạo ra nhiều loại sông khác nhau.
b. Đặc điểm vật lý:
Cát là vật liệu dạng hạt nguồn gốc tự nhiên bao gồm các hạt đá và
khoáng vật nhỏ và mịn. Khi được dùng như là một thuật ngữ trong lĩnh vực
địa chất học, kích thước cát hạt cát theo đường kính trung bình nằm trong
khoảng từ 0,0625 mm tới 2 mm (thang Wentworth sử dụng tại Hoa Kỳ).
Dựa vào đặc điểm vật lý này mà người ta có thể chia ra thành các loại
cát khác nhau. Cát mịn có đường kính từ 0.0625mm đến 0.25mm, cát cánh
trung từ 0.25mm đếm 0.5mm và cát thô có đường kình khoảng từ 0.5mm đến
2mm. Một hạt vật liệu tự nhiên nếu có kích thước nằm trong các khoảng này
được gọi là hạt cát. Lớp kích thước hạt nhỏ hơn kế tiếp trong địa chất học gọi
là đất bùn hoặc hạt bụi với các hạt có đường kính nhỏ hơn 0,0625 mm cho tới
0,004 mm. Lớp kích thước hạt lớn hơn kế tiếp là sỏi/cuội với đường kính hạt
nằm trong khoảng từ 2 mm tới 64 mm. Khi cọ xát giữa các ngón tay thì cát
tạo ra cảm giác sàn sạn (chứ không như đất bùn tạo cảm giác trơn như bột).
(Nguồn wikipedia)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9


các vật liệu hữu cơ hay có nguồn gốc hữu cơ khác. Các đụn cát thạch cao ở Di
tích quốc gia White Sands tại bang New Mexico (Hoa Kỳ) nổi tiếng vì màu
trắng chói của nó. Acco (arkose) là cát hay sa thạch với hàm
lượng fenspat đáng kể, có nguồn gốc từ quá trình phong hóa và xói mòn của
đá granit (thường là cận kề).Một vài loại cát còn chứa manhêtit, chlorit,
glauconit hay thạch cao.
Cát giàu manhêtit có màu từ sẫm tới đen, giống như cát có nguồn gốc
từ đá bazan núi lửa và opxidian (obsidian). Cát chứa chlorit-glauconit thông
thường có màu xanh lục (còn được gọi là cát lục), như cát có nguồn gốc từ
bazan (dung nham) với hàm lượng olivin lớn. Nhiều loại cát, đặc biệt cát
ở Nam Âu, chứa các tạp chất sắt trong các tinh thể thạch anh của cát, tạo ra
cát có màu vàng sẫm. Cát trầm lắng tại một số khu vực chứa ngọc hồng
lựu và một số khoáng vật có sức kháng phong hóa tốt, bao gồm một lượng
nhỏ các loại đá quý.
Cát được gió và nước vận chuyển đi và trầm lắng thành các dạng bãi
biển, bãi sông, cồn cát, đụn cát, bãi cát ngầm v. v.
Nghiên cứu các hạt cát riêng lẻ có thể giúp phát hiện nhiều thông tin
lịch sử như nguồn gốc và hình thức vận chuyển hạt cát. Cát thạch anh mới bị
phong hóa gần đây từ các tinh thể thạch anh trong đá granit hay gơnai thường
sắc nhọn và góc cạnh. Nó thường được sử dụng trong vật liệu xây dựng để
sản xuất bê tông hay trong làm vườn với vai trò của vật liệu bổ sung
vào đất để làm xốp các lớp đất sét. Cát bị vận chuyển đi xa nhờ gió và/hoặc
nước sẽ thuôn hơn, với các kiểu mài mòn đặc trưng trên bề mặt hạt cát. Cát sa
mạc thường là thuôn tròn.
2.1.1.3. Hoạt động khai thác cát
a. Khái niệm
Khai thác cát là một ngành công nghiệp khai khoáng và cát là nguồn tài
nguyên không tái tạo được. Nó là một hoạt động không thể thiếu của tất cả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Vai trò của cát là rất quan trọng liên quan đến việc bảo vệ môi trường
ven biển. Nó hoạt động như một bờ đệm chống lại làn sóng thủy triều mạnh
và bão bằng cách giảm tác động của sóng và bão khi vào bờ biển. Cát cũng là
một môi trường sống cho loài giáp xác và các sinh vật biển khác có liên quan.
Các bao cát được dùng để phòng chống lũ lụt và chống đạn.
Trong nông nghiệp các loại đất cát thích hợp cho một số loại cây trồng
như dưa hấu, đào, lạc cũng như là vật liệu được ưa thích trong việc tạo nền
móng cho các trang trại chăn nuôi bò sữa vì khả năng thoát nước tốt của nó.
Trong du lịch cát được sử dụng trong việc tạo cảnh quan như tạo ra các
ngọn đồi và núi nhỏ, chẳng hạn trong xây dựng các sân golf. Cát được dùng
để cải tạo các bãi tắm. Cát cũng đóng một vai trò quan trọng trong ngành
công nghiệp du lịch phát triển kinh tế. Xây dựng lâu đài cát cũng là một hoạt
động khá phổ biến. Có nhiều cuộc thi về nghệ thuật xây dựng các lâu đài cát.
Trong giao thông đường bộ và đường sắt người ta đôi khi sử dụng cát
để cải thiện khả năng bám đường của bánh xe trong một số điều kiện thời tiết
khắc nghiệt.
c. Tác động tiêu cực của việc khai thác cát tại các dòng sông.
Việc khai thác cát quá mức gây ra sự xuống cấp của dòng sông dẫn đến
xói lở bờ. Sự suy giảm của cát trong khu vực dòng sông lô gây ra giảm mực
nước trên toàn hệ thống sông Hồng – Thái Bình, cũng có thể dẫn đến xâm
nhập mặn nước từ biển vào đất liền nhất là trong giai đoạn hiện nay mực nước
biển đang tăng theo từng năm.
Khai thác cát quá mức trên các dòng sông là một mối đe dọa cho các
cây cầu qua sông, suy thoái bờ đê, bãi soi ven sông và các công trình lân cận
như các công trình thủy lợi. Khai thác cát cũng ảnh hưởng đến hệ thống nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

ngầm liền kề và gây hạ mực nước thiếu nước cho người đân vào mùa khô.
Ngoài ra khai thác cát tạo thêm lưu lượng tầu thuyền, gây ra mất trật tự khó

lưu. Lượng phù sa có thể làm tăng đáng kể chi phí xử lý nước cho các nhà
máy nước ở hạ lưu và gây ngộ độc thuỷ sinh.
2.1.2. Các hoạt động quản lý khai thác cát
2.1.2.1. Xây dựng bộ máy quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản- khai
thác cát
Xây dựng bộ máy quản lý khai tài nguyên khoáng sản- khai thác cát là
việc mà ở mỗi quốc gia cần phải thực hiện . Bộ máy quản lý khai thác tài
nguyên khoáng sản nói chung, quản lý khai thác cát nói riêng được tổ chức
hoạt động từ trung ương đến địa phương, phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan
ban ngành.
a. Bộ máy quản lý khai thác tài nguyên ở cấp Chính phủ, bộ, cơ quan
ngang bộ
- Chính phủ: Thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi cả nước, có trách
nhiệm: Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khoáng
sản; ban hành quy chuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá trong điều tra cơ bản địa
chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản; Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chiến lược khoáng sản; lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy
hoạch khoáng sản theo phân công của Chính phủ; Khoanh định và công bố
các khu vực khoáng sản theo thẩm quyền; khoanh định và trình Thủ tướng
Chính phủ quyết định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản
theo thẩm quyền;
Cấp, gia hạn, thu hồi Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai
thác khoáng sản; chấp thuận trả lại Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép
khai thác khoáng sản, trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status