giải pháp tăng cường quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện quan hóa – thanh hóa - Pdf 24

Lời nói đầu
Thực hiện sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta
chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp, kế hoạch hóa cao độ sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua kinh tế - xã hội có
nhiều phát triển, bên cạnh việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, Nhà nước cũng
đã đẩy nhanh tiến độ xây dựng luật trên các lĩnh vực để làm tốt công tác quản lý
kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực ngân sách đến năm 1996 chóng ta mới xây dựng được
Luật ngân sách Nhà nước, tuy nhiên để phù hợp với thực tế năm 1998 Quốc hội
thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ngân sách Nhà nước. Và
để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách
nhiệm của các cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách
Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ II
ngày 16/12/2002 đã thông qua Luật ngân sách Nhà nước, thay thế Luật ngân
sách Nhà nước năm 1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ngân
sách Nhà nước năm 1998.
Trong các Luật kể trên đều quy định ngân sách xã là một cấp trong hệ
thống ngân sách Nhà nước. Qua các năm thực hiện Luật ngân sách Nhà nước,
công tác quản lý tài chính ngân sách đã đạt được những kết quả nhất định, đóng
góp quan trọng vào công tác quản lý hoạt động kinh tế - xã hội của chính quyền
cơ sở xã, thị trấn.
Để thực hiện Luật ngân sách Nhà nước Chính phủ, Bộ tài chính đã ban
hành các văn bản dưới Luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân
sách Nhà nước. Chính quyền địa phương cũng ra các văn bản để làm rõ hơn nội
dung của Luật. Các văn bản đó đã tạo nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
hướng dẫn công tác quản lý tài chính ngân sách các cấp trong đó có ngân
sách xã.
Hệ thống văn bản ban hành đã xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các
cơ quan liên quan trong công tác quản lý tài chính ngân sách xã, tạo cơ sở pháp
lý quan trọng để quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các khoản thu, chi, các
khoản huy động đóng góp của nhân dân, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

3) Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh.
4) Kết cấu của đề tại gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về quản lý ngân sách xã
Chương II: Thực trạng công tác quản lý quản lý ngân sách xã ở Quan
hóa - Thanh hóa
Chương III: Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý ngân sách
xã ở Quan hóa - Thanh hóa trong thời gian tới.
Kết luận
3
Chương I
Những vấn đề cơ bản về quản lý ngân sách xã

1.1. Khái niệm đặc điểm ngân sách xã:
1.1.1. Ngân sách xã trong hệ thống ngân sách Nhà nước
Theo Luật ngân sách Nhà nước (2002) Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các
khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
Luật ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002
đã ghi rõ: "Ngân sách Nhà nước gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa
phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các đơn vị hành chính
các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân".
Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân sách Nhà nước tại mục 1, điều 5 đã ghi:
"Ngân sách Nhà nước gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các đơn vị hành chính các cấp có
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân theo quy định của Luật tổ chức
HĐND&UBND, theo quy định hiện hành bao gồm:
4
a) Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân

hành thì ngân sách xã chính thức được thừa nhận là một cấp ngân sách hoàn
chỉnh trong hệ thống ngân sách Nhà nước.
Luật ngân sách Nhà nước (2002) quy định về lập, chấp hành, kiểm tra,
thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách Nhà nước và về nhiệm vụ, quyền hạn
của các cơ quan Nhà nước các cấp trong lĩnh vực ngân sách có ngân sách cấp
xã.
1.1.2. Đặc điểm của ngân sách xã:
Theo sự phân chia các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và
sự phân cấp về quản lý Nhà nước, việc thừa nhận sự tồn tại và hoạt động của
ngân sách xã là một điều tất yếu. Tuy nhiên quan niệm về ngân sách xã lại còn
có những ý kiến khác nhau:
- Điều lệ ngân sách xã ban hành ngày 08/4/1972 ghi: Ngân sách xã là kế
hoạch thu chi tài chính của chính quyền cấp xã, để đảm bảo việc chấp hành pháp
luật, giữ vững an ninh, trật tự trị an, đảm bảo tài sản công cộng quản lý mọi hoạt
động kinh tế, văn hóa, xã hội trong xã; động viên giám sát các hợp tác xã và
công dân thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Thông tư 14/TC-NSNN ngày 08/3/1997 của Bộ tài chính hướng dẫn quản
lý thu, chi ngân sách xã đã nêu rõ: Ngân sách cấp xã là một bộ phận của ngân
sách Nhà nước do Uỷ ban nhân dân cấp xã xây dựng, quản lý và Hội đồng nhân
dân cấp xã quyết định, giám sát thực hiện. Và như vậy từ khái niệm của Ngân
sách Nhà nước, ngân sách cấp xã được định nghĩa như sau: Ngân sách xã là toàn
bộ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình tạo lập, phân
phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực
6
hiện các chức năng của Nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ được phân công
quản lý.
Ngân sách xã là một cấp ngân sách nằm trong hệ thống ngân sách Nhà
nước, tuy nhiên do yêu cầu nhiệm vụ của từng cấp ngân sách khác nhau nên các
cấp ngân sách bên cạnh những đặc điểm chung còn có những đặc điểm riêng.
Ngân sách xã có những đặc điểm cơ bản sau:

kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh.
Sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã làm thay đổi cơ bản vai trò
của ngân sách Nhà nước. Tạo điều kiện để các cấp ngân sách chủ động hơn
trong việc thu - chi ngân sách, góp phần vào sự phát triển của từng địa phương
của cả quốc gia. Ngân sách cấp xã góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới nông
thôn, thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước ở cơ sở, giải quyết mối quan
hệ giữa Nhà nước và nhân dân, đảm bảo các chính sách xã hội cho mọi tầng líp dân cư.
Trên cơ sở như vậy chúng tôi cho rằng ngân sách xã có những vai trò chủ
yếu sau:
1.1.3.1. Ngân sách xã đảm bảo nguồn lực vật chất cho sự tồn tại và hoạt
động của bộ máy chính quyền cấp xã:
Xã hội loài người từ khi có Nhà nước đều cần có các nguồn lực vật chất
để duy trì hoạt động của bộ máy và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội,
củng cố và xây dựng an ninh - quốc phòng. Nguồn lực vật chất này chỉ có thể
được đảm bảo từ ngân sách Nhà nước. Ngân sách cấp xã là một bộ phận cấu
thành nên ngân sách Nhà nước, do vậy nguồn lực vật chất để cung cấp cho bộ
8
máy chính quyền cấp xã phần lớn phải do ngân sách cấp cơ sở đảm nhận đó là
ngân sách cấp xã. Để bảo đảm nguồn lực vật chất cung cấp cho toàn bộ các hoạt
động kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và đáp ứng các phóc lợi xã hội cho
nhân dân, ngân sách xã phải khai thác triệt để các nguồn thu tại xã theo luật
định. Đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho các công
việc thuộc chức năng nhiệm vụ theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước
như: Chi lương, sinh hoạt phí cho cán bộ xã, chi cho quản lý hành chính, mua
sắm trang thiết bị văn phòng, chi cho đầu tư phát triển.
1.1.3.2) Ngân sách xã là công cụ quan trọng để chính quyền cấp xã thực
hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa
phương.
Với tư cách là cấp chính quyền cơ sở gắn liền với đời sống của nhân dân

đó xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, nâng cao hiệu lực quản lý điều hành của
chính quyền.
Nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường bên cạnh những mặt tích cực
vẫn tồn tại những mặt tiêu cực, mặt trái, thông qua hoạt động thu chi ngân sách
xã có vai trò quan trọng trong việc khắc phục các khuyết tật như: Tạo ra môi
trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho các chủ thể kinh tế, ngăn chặn sự
độc quyền trong kinh doanh, định hướng tiêu dùng xã hội, hướng các hoạt động
kinh doanh phát triển lành mạnh, hạn chế tiêu cực, đồng thời xây dùng đời sống
văn hóa ở cộng đồng dân cư hạn chế các tai tệ nạn xã hội .
Là một cấp ngân sách nhưng hoạt động thu ở địa phương do các nguồn
thu Ýt nên việc chi cho đầu tư phát triển phần lớn phải dùa vào sự hỗ trợ của
ngân sách Nhà nước, và thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng
làm", ngân sách xã đã được huy động và cùng với các khoản đóng góp của nhân
10
dân giải quyết tốt các vấn đề về cơ sở hạ tầng như: Điện, đường, trường, trạm,
nước sạch, các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Đến
nay với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" hầu hết các xã đã có
trường học kiên cố, cao tầng, trạm y tế khang trang sạch đẹp có đầy đủ các trang
thiết bị thiết yếu phục vụ cho khám và chữa bệnh. Các công trình thuỷ lợi vừa và
nhỏ đã được xây dựng ở hầu hết các địa phương, góp phần thúc đẩy sản xuất
phát triển, tăng diện tích lúa nước, hạn chế đốt nương làm rẫy. Các công trình
nước sạch, vệ sinh môi trường được quan tâm. Việc chuyển đổi cơ cấu cây
con,đưa các giống có năng suất cao vào sản xuất, khôi phục và phát triển các
làng nghề, các mặt hàng truyền thống; đã từng bước xóa bỏ chế độ sản xuất tự
cấp tự túc ở nông thôn miền núi, khai thác các tiềm năng, phát huy lợi thế của
từng vùng, từng bước làm tăng tổng sản phẩm xã hội, thu nhập cho các hộ gia
đình. Qua đó ngân sách xã đã tạo điều kiện để phát triển nông thôn miền núi
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với đặc điểm của địa phương
và quy luật của kinh tế thị trường.
Chi ngân sách xã cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế đã từng bước

+ Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công Ých 5% và hoa
lợi công sản do xã quản lý
+ Các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: Các khoản đóng góp
theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp trên nguyên tắc tự nguyện để đầu
tư xâyd ựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân
12
sách xã quản lý (không áp dụng đối với phường khoản thu huy động đóng góp
để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng) và các khoản đóng góp tự nguyện khác.
+ Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực
tiếp cho ngân sách xã.
+ Thu kết dư ngân sách xã năm trước.
+ Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
- Các khoản thu theo tỷ lệ phần trăm (%) với ngân sách cấp trên gồm :
+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp.
+ Thuế chuyển quyền sử dụng đất (chỉ áp dụng cho xã, thị trấn)
+ Thuế nhà đất (chỉ áp dụng cho xã, thị trấn)
+ Tiền cấp quyền sử dụng đất (chỉ áp dụng đối với xã, thị trấn)
+ Thuế tài nguyên
+ Lệ phí trước bạ nhà đất
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa sản xuất trong nước thu vào các mặt
hàng bài lá, vàng mã, và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát xa, karaoke,
kinh doanh chơi gôn.
+ Các khoản thu phân chia khác tuỳ theo tình hình địa phương tỉnh có thể
phân chia cho xã các khoản thu phân chia mà Trung ương để lại cho địa phương.
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia cụ thể các nguồn thu cho ngân sách xã do
Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân xem xét và quyết định, được ổn
định từ 3 đến 5 năm phù hợp với tình hình ngân sách địa phương. Để giảm bớt
khối lượng nghiệp vụ, khuyến khích tăng thu, có thể giao chung cho các xã cùng
một tỷ lệ. Việc phân chia nguồn thu và tỷ lệ phần trăm các nguồn thu cho ngân
sách cấp xã được tuân thủ theo nguyên tắc tạo chủ động cho chính quyền xã

Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh) . Sau khi đã
trừ đi các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có).
- Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ và các đối tượng khác
theo chế độ hiện hành.
- Công tác dân quân, tự vệ, trật tự an toàn xã hội.
+ Huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ
và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã,
phường, thị trấn theo quy định của Pháp lệnh về dân quân tự vệ ;
+ Đăng ký nghĩa vụ quân sự, tiễn đưa thanh niên đi nghĩa vụ quân sự.
+ Tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an
toàn xã hội trên địa bàn.
+ Các khoản chi khác:
- Công tác xã hội và hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã,
phường, thị trấn quản lý .
+ Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ nghỉ việc theo chế độ hiện hành, chi
thăm hỏi các gia đình chính sách, cứu tế xã hội và công tác xã hội khác do xã,
phường, thị trấn quản lý.
+ Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, truyền thanh do xã,
phường, thị trấn tổ chức quản lý.
15
- Hỗ trợ các líp bổ túc văn hóa, trợ cấp nhà trẻ, líp mẫu giáo, kể cả trợ cấp
cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý (đối với
phướng do ngân sách cấp trên chi).
- Sù nghiệp y tế:
+ Mua sắm trang bị hoặc đồ dùng chuyên môn phục vụ khám chữa bệnh.
- Phòng bệnh và sự nghiệp y tế khác
- Quản lý, sửa chữa, cải tạo các công trình phóc lợi, các công trình hạ tầng
cơ sở do xã, thị trấn quản lý như: Trường học, trạm y tế, nhà trẻ, líp mẫu giáo,
nhà văn hóa, thư viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường giao
thông, công trình cấp và thoát nước công cộng Riêng đối với thị trấn còn có

nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách và tỷ lệ phân chia nguồn thu do Hội đồng
nhân dân tỉnh quy định.
- Căn cứ các chế độ, tiêu chuẩn định mức chi ngân sách do Chính phủ,
Bộ tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.
- Căn cứ số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân huyện
thông báo.
- Căn cứ tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành và các
năm trước.
* Trình tự lập dự toán ngân sách xã:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách xã 6 tháng đầu năm và
dự kiến khả năng ngân sách cả năm.
17
- Các bộ phận thuộc Uỷ ban nhân dân xã, tổ chức Đảng và đoàn thể căn
cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn, lập dự
toán nhu cầu chi ngân sách.
- Ban tài chính xã phối hợp với đội thuế xã (nếu có) tính toán các khoản
thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn.
- Ban tài chính xã tính toán, cân đối, lập dự toán thu - chi ngân sách xã
trình uỷ ban nhân dân xã báo cáo Chủ tịch và Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân
xã để xem xét trước khi gửi Uỷ ban nhân dân huyện và phòng Tài chính huyện.
- Căn cứ vào quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của huyện, Uỷ
ban nhân dân xã lập dự toán chi tiết trình hội đồng nhân dân xã quyết định.
1.3.2. Quản lý khâu chấp hành dự toán ngân sách xã :
- Chấp hành dự toán ngân sách xã là khâu tiếp theo của một chu trình
ngân sách, là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành
chính nhằm thực hiện các chỉ tiêu thu, chi ghi trong dự toán ngân sách được
duyệt. Để quản lý khâu chấp hành dự toán ngân sách cần tiến hành quản lý tốt
các nội dung sau:
* Quản lý quá trình thu:
- Ban tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế giám sát, kiểm

khách, mua sắm nhỏ được tạm ứng ngân sách để chi; khi có đủ chứng từ hợp
lệ ban tài chình xã phải lập bảng kê chứng từ chi và giấy đề nghị thanh toán tạm
ứng gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chi
ngân sách.
19
+ Các khoản thanh toán từ ngân sách qua Kho bạc Nhà nước cho các đối
tượng có tài khoản giao dịch ở Kho bạc Nhà nước hoặc ở Ngân hàng phải được
thực hiện bằng hình thức chuyển khoản.
+ Đối với các khoản chi từ các nguồn thu được giữ lại tại xã, Ban tài
chính xã phối hợp với Kho bạc Nhà nước định kỳ kiểm tra, làm thủ tục ghi thu -
ghi chi để quản lý qua ngân sách xã .
- Đối với chi thường xuyên:
+ Ưu tiên trả sinh hoạt phí, các khoản phụ cấp cho cán bộ xã, không để nợ
sinh hoạt phí và các khoản phụ cấp.
+ Các khoản chi thường xuyên phải căn cứ vào dự toán năm, tình hình tổ
chức thực hiện công việc, khả năng của ngân sách xã tại thời điểm để thực hiện
chi cho phù hợp.
- Đối với chi đầu tư phát triển:
+ Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiện
theo quy định của Nhà nước và phân cấp của tỉnh.
+ Đối với dự án đầu tư bằng nguồn đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện
của nhân dân, phải mở sổ theo dõi và phản ánh đầy đủ, kịp thời quá trình thu nép
và sử dụng mọi khoản đóng góp bằng tiền, ngày công lao động, hiện vật của
nhân dân. Quá trình thi công, nghiệm thu và thanh toán phải có sự giám sát của
ban giám sát dự án do nhân dân cử ra. Kết quả đầu tư và quyết toán dự án phải
được thông báo công khai cho nhân dân biết.
1.3.3 Quản lý khâu quyết toán ngân sách xã:
Quyết toán ngân sách xã là khâu cuối cùng của chủ trình ngân sách. Đó là
việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách năm, nhằm đánh giá lại
toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách, từ đó rót ra ưu nhược điểm

33 xã và 1 thị trấn, dân số gần 140.000 người.
Do địa hình quá rộng, dân cư thưa thít, giao thông đi lại khó khăn; Từ Hồi
xuân đi Na mèo dài trên 100 km, Hồi xuân đi Mường chanh dài 140 km. Hồi
xuân đi Trung sơn 54 km (có đoạn phải đi qua xã Mai hịch của huyện Mai châu
- Hòa bình). Thị trấn Quan hóa là nơi hợp lưu của 3 con sông: Sông Lò, sông
Luồng và sông Mã, địa hình chia cắt bởi các dãy núi đá vôi nên đường xá đi lại
khó khăn, vào mùa mưa thường bị sụt lở, tắc đường; huyện không có điều kiện
để phát triển kinh tế - xã hội.
Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và giảm khoảng cách phát
triển giữa các vùng miền, ngày 18 tháng 11 năm 1996 Chính phủ có Nghị định
72/NĐ-CP chia tách huyện Quan hóa thành 3 huyện: Quan hóa, Quan sơn,
Mường lát.
Huyện Quan hóa hiện nay có diện tích 996,4708 km
2
trong đó:
- Đất lâm nghiệp: 70.188,12 ha (đất trồng luồng là 19.956,68 ha)
- Đất chuyên dùng: 817,45 ha
22
- Đất nông nghiệp: 6.520,36 ha
- Đất ở: 433,32 ha
- Đất chưa sử dụng: 21.687,56 ha
Dân sè 42.435 người gồm 8.710 hé sinh sống ở 115 chòm bản, khu phè.
Bao gồm 5 dân téc anh em cùng sinh sống: Thái, Mường, Kinh, Mông, Hoa.
Đặc điểm tự nhiên nổi bật của Quan hóa là đối núi chiếm trên 90% diện
tích. Địa hìnn phức tạp, núi cao, sông suối nhiều và hiểm trở. Đất dành cho sản
xuất nông nghiệp chỉ chiếm 6,5% diện tích, đất có thể sản xuất lúa nước 2 vụ là
1.363,14 ha bằng 1,36% diện tích.
Do đồi núi, sông suối nhiều nên địa hình bị chia cắt thành nhiều tiểu khu
vực, từ trung tâm huyện đi đến các xã chỉ có duy nhất 2 tuyến đường là Hồi
xuân - Hiền kiệt và Hồi xuân - Trung sơn. Từ năm 2001 trở về trước các tuyến

bảo tồn thiên nhiên Pù luông; Rừng Quan hóa mức độ đa dạng sinh học rất
phong phú có nhiều loại gỗ quý như: lát, trò chỉ, lim các dược liệu như: Sa
nhân và nhiều cây làm thuốc khác; động vật quý hiếm như hổ, báo, bò tót, gấu
Những năm trước đây do không được quản lý tốt và bảo đảm lương thực của
nhân dân nhiều diện tích rừng đã bị chặt phá để đốt nương làm rẫy. Đến nay do
làm tốt được chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và công tác tuyên truyền vận động nên
rừng đã ngày càng xanh trở lại. Thực hiện xã hội hóa nghề rừng, rừng đã được
giao đến tận hộ gia đình và đã thực sự có chủ. Độ che phủ của rừng năm 1999 là
61,26%, năm 2003 là 67,2%. Thu nhập về nghề rừng hiện tại là nguồn thu nhập
chủ yếu của đại bộ phận nông dân. Hàng năm khai thác được khoảng 2 triệu cây
luồng, 600 ngàn cây nứa, 4 ngàn tấn nứa nan và hàng ngàn mét khối gỗ rừng
24
trồng. Với diện tích đất chưa sử dụng 21.687,56 ha huyện đang thực hiện việc
trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Lâm sản chủ yếu của Quan hóa là luồng, nứa được khai thác và chủ yếu
bán dưới dạng nguyên liệu thô cho các địa phương khác, giá trị kinh tế thấp;
Trong những năm gần đây huyện đã kêu gọi đầu tư và hiện tại đã có hàng chục
xưởng sản xuất đũa tre, chiếu trúc, bột giấy. Hàng năm đã tiêu thụ được 400
ngàn cây luồng, tạo việc làm cho nhân dân lao động địa phương và bước đầu có
đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
* Về sản xuất nông nghiệp:
Là một huyện miền núi diện tích đất nông nghiệp Ýt, diện tích lúa nước
lại càng Ýt hơn. Tổng diện tích gieo trồng năm 2003 là 6.029 ha trong đó lúa
nước là 1.363,14 ha. Để bảo đảm an ninh lương thực và hạn chế việc đốt nương
làm rẫy huyện đã tích cực đưa các giống lúa lai, ngô lai có năng suất cao vào sản
xuất. Năm 2003 diện tích sử dụng giống lúa lai tăng gấp 10 lần so với năm 1999.
Năng suất đã dần dần được tăng lên, năm 2003 là năm đầu tiên năng suất lúa
ruộng đạt 42,7 tạ/ha/vụ. Do giảm việc đốt nương làm rẫy nên diện tích gieo
trồng năm 2003 giảm 202 ha so với năm 1999 nhưng sản lượng lương thực lại
tăng 1.754 tấn (so với năm 1999). Tuy nhiên tổng sản klượng lương thực mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status