Chương III: Di dân
* Các thành viên nhóm:
1. Nguyễn Hữu Cường
2. Nguyễn Văn Lập
3. Nguyễn Hữu Thoại
4. Cao Đức Minh
5. Nguyễn Thị Hằng Nga
6. Phạm Thị Lan
7. Trần Thị Nga
8. Nguyễn Thị Kim Liên
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu từ ngày 24/2 – 17/3/2010
Quá trình làm việc bao gồm: tìm tài liệu, phân tích tài liệu, tổng kết và
hoàn thành bài tập.
Các nguồn tài liệu gồm có: Internet, sách thư viện, tạp chí, sách báo…
* Nội dung:
A. Khái niệm di dân và phân loại:
1. Khái niệm:
• Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong
một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú
tạm thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này di dân đồng nhất với sự di
động dân cư.
• Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ
này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong
một không gian thời gian nhất định (Liên hiệp quốc). Khái niệm này khẳng
định mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới.
2. Một số đặc điểm về di dân
• Người di cư di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh
sống. Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một
đơn vị hành chính (khoảng cách giữa hai địa điểm là độ dài di
chuyển).
Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến
hoặc như trường hợp ra nước ngoài học tập rồi về nước.
• Di dân mùa vụ, di chuyển con lắc: di chuyển của cư dân nông thôn vào
thành phố trong thời kỳ những dịp nông nhàn, hoặc trong điều kiện thiếu
việc làm thường xuyên, việc làm có thu nhập.
c. Theo đặc trưng di dân
• Di dân có tổ chức: hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế
hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các
cấp vạch ra và tổ chức, chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức
đoàn thể xã hội.
• Di dân tự phát: mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ
phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự
hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền. Loại hình di dân này
phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và gia đình trong
việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm.
Di dân tự phát:
• Góp phần làm giảm sức ép về việc làm và đời sống khó khăn nơi xuất cư.
• Góp phần vào việc bổ sung nhanh chóng nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu
• Khai thác tài nguyên ở nơi mới định cư.
• Người di dân tự do thường khá vững vàng về tâm lý, sẵn sàng chịu đựng
• Góp phần nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo tại nơi đi.
Tuy nhiên, di dân tự phát cũng đem lại một số tác động tiêu cực cho nơi định
cư như khai thác tài nguyên bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường, tạo ra áp lực
về xã hội cho địa phương mới đến.
B. Quá trình di dân ở Việt Nam:
I.
II. Quá trình di dân nông nghiệp ở Việt Nam sau năm 1975:
* Giống như các quốc gia khác, di dân ở Việt Nam là một hiện tượng
kinh tế xã hội mang tính quy luật, một cấu thành tất yếu của sự phát triển. Di
dân là một vấn đề có tính quy luật chung, cũng giống như chính quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá ở các quốc gia. Di dân lao động là một đòi hỏi
Dh.miền Trung 432 210 33.5
Tây Nguyên 329 _ 685
Đông Nam Bộ 666 198 175
Đb.sông Cửu
Long
878 _ 244.5
Tổng cộng 3370 1370 1370
Nguồn: cục định canh định cư và vùng kinh tế mới, bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn, Hà Nội,1995.
• Về chiều cạnh giới của di dân lao động:
So với những năm 80, quy mô và tỉ suất di chuyển của dân số nữ đã
tăng gấp đôi trong những năm cuối 90, đặc biệt tập trung vào nhóm tuổi
20-25, đa số chưa lập gia đình.
Theo tổng điều tra dân số năm 1999:
Trong tổng số hơn 4,5 triệu người thay đổi nơi thường trú thời
kì 1994-1999, nữ chiếm tỉ trọng cao hơn nam (54% so với 46%).
Với mọi vùng miền lãnh thổ, mức độ di cư nội tỉnh của nữ
(4,1%) cao hơn nam (3,2%). Đối với các luồng di chuyển ngoại tỉnh,
không có sự chênh lệch đáng kể về tỉ suất di dân của nam (3,0%) và nữ
(2,8%).
Tỷ suất di dân của nữ trong nhóm 20-24 tuổi cao gấp đôi tỷ suất
di dân của các nhóm tuổi khác.
Tỷ số giới tính (đo bằng số nam so với số nữ ) của nhóm dân số
20-24 tuổi ở khu vực thành thị thấp hơn nông thôn phản ánh xu hướng di
dân của nhóm nữ thanh niên từ nông thôn ra thành phố.
III. VAI TRÒ CỦA DI DÂN NÔNG THÔN- ĐÔ THỊ TRONG SỰ
NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HIỆN NAY
Di dân giữ một vai trò quan trọng trong công nghiệp hóa hiện đại hóa nông
thôn ở nước ta. Đã từ lâu chính sách điều động lao động và dân cư tập trung
vào việc phân bố lại lao động, tổ chức đưa dân tới nùng kinh tế mới, nhằm
động từ nông thôn ra thành phố làm ăn theo mùa vụ. Các thành phố lớn thời
mở cửa còn có sức hút mạnh mẽ đối với nhóm cán bộ công nhân viên chức
chuyển từ tỉnh khác đến, có ý định thường trú lâu dài tại thành phố. Nhớ lại
thời bao cấp, việc quản lý dân cư được tiến hành khá chặt chẽ thông qua hệ
thống hộ tịch hộ khẩu. Để có được 1 hộ khẩu tại Hà nội thì người ngoại tỉnh
nhất thiết phải có giấy tiếp nhận của tổ chức theo chỉ tiêu định biên được
giao hàng năm. Nếu cán bộ của nhà nước thì phải có bằng cấp, tay nghề cao
mới được xét tuyển về các thành phố lớn để làm việc, mua đất xây nhà lập
nghiệp trở thành dân thành phố. Đó là chưa kể đến đội ngũ cán bộ công nhân
lao động xuất khẩu lao động từ nước ngoài về, và học sinh sinh viên các tỉnh
học tại thành phố khi ra trường, tất cả đều tìm cách bám trụ kiếm công việc
làm ăn sinh sống, góp phần đem lại sự đông đúc nhộn nhịp của các trung
tâm đô thị. Rõ ràng lafkhi nói đến di cư nông thôn- đô thị, người ta không
thể không nhắc đến thành phần nhập cư này.
Di dân nói chung, đặc biệt là di dân nông thôn- đô thị, là một quá trình chọn
lọc. đại đa số cư dân tìm đến các thành phố thuộc nhóm tuổi dưới 40. Không
ít là những thanh niên chưa xây dựng gia đình và ở độ tuổi lao dộng sung
sức nhất. Do sự hấp dẫn của cuộc sống thị thành, và tâm lý không muốn gắn
bó với nghề nông chân lấm tay bùn thu nhập thấp, nhóm người trẻ tuổi
chiếm phổ biến trong nhóm dân cư nông thôn. Tính chọn lọc của di dân
được phản ánh bằng sụ khác biệt về giới trong quá trình di chuyển. So với
nữ giới, nam giới có xu hướng di chuyển trên các dòng nhập cư từ nông thôn
ra đô thị chiếm đa số. Gánh nặng công việc, học vấn thấp, sự giàng buộc về
gia đình cũng như những định kiến truyền thống về vai trò của người phụ nữ
trong gia đình và ngoài xã hội là những tác nhân chủ yếu hạn chế sự di
chuyển nữ giới. Thay vào đó, hình thức di chuyển theo chồng, theo hôn nhân
hoặc đoàn tụ gia đình chiếm đa số trong nữ giới. Đặc diểm này được phản
ánh rõ trong những số liệu về di dân ở Việt nam, từ kết quả điều tra Tổng
điều tra dân số nhưng năm gần đây.
Ngoại trừ chương trình di dân đi làm kinh tế mới mới có sụ điều động của
mới trong lối sống Mf có thể trước đó chưa từng tồn tại ở quê. Ngay cả về
vấn đề nhận thức về kế hoạch hóa gia đình. Tất cả đều tạo nên một khởi sắc
mới trong cuộc sống ở những làng quê có người đi làm ăn và thoát li ra
thành phố.
Đi dân góp phần thúc đấy phát triển về kinh tế, đặc biệt là trong kinh tế thị
trường hiện nay. Di dân mùa vụ đến các đô thị, các thành phố lớn thực sự là
việc cung cấp, chuyển dịch lao đông đên nơi cần lao động. cùng với tác dụng
nâng cao dân trí, di cư nông thôn đô thị còn là biện pháp làm tăng thu nhập
và nâng cao mức sông cho khu vực nông thôn, góp phần vào sự nghiệp xóa
đó giảm nghèo.
Đối với các trung tâm đô thị, mặc dù di dân gây trở ngại cho công tác quản lí
hành chính, tăng thêm sức ép đối với cơ sở hạ tầng vốn đang xuống cấp,
nhưng cái đượcthì không thể không có quyền so sánh. Các thành phố xẽ ra
sao nếu thiếu dịch vụ xã hội và nguồn lực dồi dào của ngoại tỉnh? Thực sự
người lao động ngoại tỉnh thực sự đã bổ sung không nhỏ tới thị trường lao
động. họ sẵn sàng làm những công việc mà người dân mà thành phố không
muốn nhúng tay. Nặng thì như đâò móng nhà, phá bê tông, khuân vác,…
nhẹ hơn thì bán hàng, phụ việc, chạy xích lô,… khu vực đô thị với nhu cầu
lao động rồi rào và đa dạng vô hình chung đã tạo việc làm cải thiện cuộc
sống nghèo ở làng quê.
Trong di dân, nếu yếu tố kinh tế giữ vai trò quan trọng trong việc di cuwthif
mạng lưới xã hội lại là nhân tố quyết định nới đén của các luồng di chuyển.
mạng lưới này bao gồm những quan hệ gia đình, họ hàng, thân tộc, đồng
hương tạo nên sụ hòa nhập của dân cư trong môi trường sống đô thị, đồng
thời tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa nơi đi và nơi đến. việc người lao đông
cùng làng quê mách bảo và cùng nhau ra thành phố làm ăn sinh sống là một
trong những biểu hiện của mạng lưới di dân. Có thể nói khi mạng lưới di dân
phát triển thì nó sẽ duy trì sụ chuyển cư từ nông thôn dưới phương thức quản
lí điều chỉnh, không cần có sự can thiệp từ bên ngoài.
C, Kết luận
cộng
* Ngoài ra còn có những nguyên nhân mang bản chất xã hội nhưng tồn tại ở
cấp cá nhân như:
• Muốn gần gũi, liên hệ với thân nhân, đoàn tụ gia đình
• Bị mặc cảm, định kiến của xã hội không muốn ở lại cộng đồng nơi cư trú,
mong muốn đến nơi ở mới nhằm thay đổi môi trường xã hội và xây dựng
các mối quan hệ xã hội tốt đẹp hơn.
• Theo cách tiếp cận kinh tế, người ta đã xem xét quá trình di dân từ hai phía
là cung (supply) và cầu (demand).
• Sự tồn tại nhu cầu lao động dịch vụ ở khu vực nơi đến là nguyên nhân dẫn
đến sự gia tăng khả năng cung cấp lao động và dịch vụ thông qua di cư.
• Ví dụ: di cư lao động quốc tế, vượt quá ranh giới và khuôn khổ của từng
quốc gia
V. Một số xu hướng của di dân:
• Xu hướng chung của di dân quốc tế: theo chiều
hướng từ khu vực kém phát triển đến khu vực phát
triển hơn.
• Di dân quốc tế diễn ra với cường độ lớn hơn so với
di dân trong nước. Theo thống kê mới đây của Liên
hợp quốc, hiện nay trên thế giới có 150 triệu người di
chuyển xuyên quốc gia. Khoảng 2% dân
số thế giới (125 triệu người) sinh sống ở ngoài quốc
gia nơi họ sinh ra.
• Xu hướng di chuyển vĩ mô diễn ra dưới nhiều hình
thức khác nhau theo hướng từ:
– châu Á và châu Mỹ la tinh tới Bắc Mỹ,
– châu Phi đến Tây Âu,
– châu Á sang khu vực Trung đông với mức độ ngày càng gia
tăng.
– Nam và Đông Âu sang Bắc và Tây Âu.