Xã hội học dân số
Nhóm 10
Sinh viên thực hiện
1. Nguyễn Thị Xuân
2. Nguyễn Thị Thùy
3. Nguyễn Thị Lan
4. Ngô Thị Vân
5. Vũ Thị Hậu
6. Lê Thị Yến Ngân
7. Lê Thị Luyên
1
Xã hội học dân số
7.2. DÂN SỐ VÀ Y TẾ
Sức khỏe con người là một trong những mối quan tâm ưu tiên hàng đầu của tất cả
các quốc gia trên thế giới. Tuyên ngôn của Hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban
đầu tại Alma Ata (năm 1978) Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số
và phát triển tại Cairo (năm 1994), đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác chăm sóc
sức khỏe đối với việc phát triển chất lượng dân số và ổn định quy mô, cơ cấu dân số
[2,107]. Ở Việt Nam, trong Chiến lược dân số Việt Nam 2001- 2010 đã khẳng định:
“Dân số là một phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những
yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn
xã hội, góp phần quyết định để thực hiện công cuộc CNH- HĐH đất nước”. Chiến lược
về dân số là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là nền
tảng trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta. Để thực hiện chiến
lược này cần đến sự đóng góp quan trọng của ngành Y tế bởi dân số và hoạt động chăm
sóc sức khỏe có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhau.
7.2.1. Tác động của dân số đến y tế
7.2.1.1. Quy mô và tỷ lệ gia tăng dân số ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức
khỏe
Vấn đề dân số bao gồm: quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân cư. Đây là
những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững đất nước, tác động trực tiếp đối với
gồm cả quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, là những thách thức lớn
đối với sự phát triển bền vững đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân cả
hiện tại và trong tương lai.
3
Xã hội học dân số
Bảng 1: Tình hình dân số trung bình hàng năm ở nước ta
năm 1999- 2008.
(Đơn vị: 1000 người)
Năm Tổng số Nam Nữ
1999 76.596,70 37.662,1 38.934,6
2000 77.635,40 38.166,4 39.469,0
2001 78.685,80 38.684,2 40.001,6
2002 79.727,40 39.197,4 40.530,0
2003 80.902,14 39.755,4 41.147,0
2004 82.031,70 40.310,5 41.721,2
2005 83.106,30 40.846,2 42.260,1
2006 84.136,80 41.354,9 42.781,9
2007 85.171,70 41.868,0 43.303,7
2008 86.210,80 42.384,5 43.826,3
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
Tính đến năm 2008, dân số Việt Nam đã ở mức 86,2 triệu người, đứng thứ 13 trên
thế giới. Nếu duy trì được mức sinh thay thế thì đến giữa thế kỷ, dân số mới ổn định ở
mức 115-120 triệu người. Trong khi đó, chỉ số phát triển con người và chất lượng dân số
lại thấp, xếp thứ 108/177 nước. Tuổi thọ trung bình tuy đã đạt đến 71,3 nhưng theo đánh
giá của Tổ chức Y tế Thế giới, tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 58,2 tuổi, xếp 116/174 nước.
Theo Tổng cục DS- KHHGĐ, sau 50 năm thực hiện chủ trương, chính sách và
pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân số, KHHGĐ và CSSKSS; 10 năm thực hiện
“Chiến lược Dân số Việt Nam và Chiến lược quốc gia về CSSKSS, công tác DS-
KHHGĐ”, CSSKSS đã đạt được những kết quả quan trọng, nâng cao chất lượng. Tốc độ
tăng dân số giảm mạnh, tỷ lệ dân số trung bình giai đoạn 1999 -2009 còn 1,2%. Đây
5
Xã hội học dân số
biệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu và vùng xa là một trong những vấn đề ưu tiên hàng
đầu của Việt Nam. Mục tiêu của ngành y tế năm 2010 là giảm tỷ suất tử vong mẹ trung
bình trên toàn quốc là 130/100.000 ca. (Giảm tỷ lệ tử vong của mẹ ở vùng sâu, vùng xa,
05/02/2009, vietnamplus.vn)
* Gia tăng dân số ảnh hưởng chăm sóc sức khỏe sinh sản
Bảng 2:Chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2007- 2008
(Đơn vị : Người)
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2007 2008
1 Số người nạo thai Người 115.510 98.948
2 Số hút điều hòa kinh nguyệt Lần 256.992 233.206
3 Tỷ lệ nạo hút thai % 32,00 29,00
(Nguồn:Niên giám thống kê năm 2008)
Qua bảng số liệu cho thấy, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản ở nước ta thể hiện rõ
nhất qua tình trạng nạo phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt của phụ nữ.
Từ năm 2007- 2008, số người nạo thai giảm 16.562 (người) chiếm khoảng
14,3%; số lần hút điều hòa kinh nguyệt giảm 23.786 (lần) chiếm gần 9,3% và tỷ lệ nạo
hút thai giảm 7,0% nhưng đây vẫn là những con số lớn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khỏe của người phụ nữ, gây ra nhiều khó khăn đối với việc CSSKSS.
• Tình trạng nạo phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt
Nạo phá thai có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe bà mẹ. Ở Việt Nam, việc nạo
phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt có thể thực hiện dễ dàng tại các cơ sở y tế.
Bảng 3: Tình hình nạo, phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt của phụ nữ trong
các vùng, cả nước năm 2008
6
Xã hội học dân số
(Đơn vị: người)
STT Vùng Hút điều hòa kinh nguyệt Nạo thai
1 Tổng số 233.206 98.948
45- 49 56,6 70,7 70,9 75,2 43,2 55,6 57,9 62,0
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
7
Xã hội học dân số
Các số liệu cho thấy, mô hình sử dụng các biện pháp tránh thai theo hai độ tuổi
tương đối giống nhau qua các năm. Mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng dần
theo độ tuổi và đạt giá trị cực đại tại nhóm tuổi 35- 39 (đối với tất cả các biện pháp và
biện pháp hiện đại). Tỷ lệ phụ nữ trong nhóm tuổi 35- 39 sử dụng các biện pháp tránh
thai tại thời điểm 01/04/ 2007 tới 89,6%, trong đó có 77,8% sử dụng biện pháp tránh thai
hiện đại. Đáng chú ý là tỷ lệ dùng các biện pháp tránh thai của phụ nữ ở những độ tuổi
trẻ tăng nhanh hơn so với độ tuổi trung niên cả về tốc độ tăng cũng như mức tăng tuyệt
đối.[4; 40].
c/ Gia tăng dân số ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn
Công ước quyền trẻ em (ngày 20/02/1990). Từ khi phê chuẩn Công ước quốc tế quyền
trẻ em, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi giảm một nửa; tỷ lệ tiêm chủng luôn
đạt mức cao đã giúp nước ta thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và uốn ván bà mẹ và
trẻ sơ sinh vào năm 2005. Trẻ em nước ta ngày càng được hưởng nền giáo dục tốt hơn
với 95% trẻ trong độ tuổi đi học được đến trường. Các cơ hội tăng cường sự tham gia
của trẻ em ngày càng được mở rộng. Việt Nam ngày càng quan tâm đến việc xây dựng
môi trường an toàn và lành mạnh cho mọi trẻ em cũng như ngăn ngừa và đẩy lùi nguy
cơ xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, vấn đề gia tăng dân số có ảnh hưởng không nhỏ đối với
sức khỏe của trẻ.
Theo con số thống kê của UNICEF, trung bình mỗi giờ trôi qua lại có 3 trẻ em
Việt Nam bị tử vong. Ước tính mỗi năm có hơn 26.000 trẻ em tử vong trước khi tròn 5
tuổi. Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đó là: nguyên nhân sơ sinh (36%), viêm
phổi (19%), tiêu chảy (15%), sốt rét (8%), sởi (4%) và AIDS (4%). Tỷ lệ tử vong ở trẻ
em miền núi, nông thôn và các gia đình nghèo vẫn cao hơn 3- 4 lần so với miền xuôi,
thành thị và các gia đình khá giả. Vấn đề tử vong ở trẻ liên quan đến việc chăm sóc trẻ
sơ sinh cũng như nuôi con bằng sữa mẹ. Tỷ lệ trẻ em được bú sữa mẹ hiện còn thấp, chỉ
nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc trên 100.000 dân cao nhất theo thứ tự là: cúm, tiêu chảy, sốt
9
Xã hội học dân số
rét, sốt xuất huyết, ly trực khuẩn, quai bị, lỵ amíp, viêm gan, thủy đậu… Khoảng một
nửa các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất, đặc biệt được chú ý là các bệnh đường
tiêu hóa và hô hấp, những bệnh này có liên quan tới nước sạch vệ sinh môi trường và vệ
sinh cá nhân. Tại Hội nghị “Tổng kết Dự án Nâng cao sức khỏe cộng đồng thông qua
việc cải thiện hành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường do Cục Y tế dự phòng và
môi trường và Quỹ Unilever Việt nam” đã công bố: 3 đợt tiêu chảy cấp gần đây với hơn
500 người bị mắc.
Theo báo cáo mới của Bộ Y tế vào ngày 25/03/2010, ở Việt Nam hiện có 44%
dân số đã bị nhiễm khuẩn lao, tỷ lệ tử vong do lao là 26/100.000 người dân. Trung bình
mỗi ngày trên cả nước có 400 trường hợp mắc lao và 55ca tử vong vì căn bệnh này. Đặc
biệt tỷ lệ kháng thuốc ở nước ta khá cao so với nước trong khu vực, chiếm 32,5%. (Theo
www.baodatviet.vn)
* Gia tăng dân số làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS
Tháng 12/1990, chỉ phát hiện 1 người nhiễm HIV, nhưng cho đến tháng 11/2000
đã phát hiện 27.290 người nhiễm. Số người nhiễm HIV/AIDS tỷ lệ thuận theo thời gian.
Tính đến cuối năm 2004, tổng số các trường hợp nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam được
báo cáo là 90.400 người, trong đó có 14.400 trường hợp đã chuyển thành AIDS và 8.400
người đã tử vong. Riêng năm 2004, trên cả nước đã phát hiện 14.200 trường hợp HIV
mới, trong đó có 2.800 trường hợp đã chuyển thành AIDS và 1.850 trường hợp bị tử
vong. Tính đến tháng 11/2008, Việt Nam đã có 14.931 bệnh nhân AIDS và số bệnh nhân
tử vong chiếm quá nửa số lượng ca nhiễm. Số người nhiễm HIV/AIDS và nghiện ma túy
tượng trưng như một tảng băng, trong đó số người được thống kê như trên chỉ là phần
nổi của tảng băng, còn phần chìm - một con số khá lớn thì chưa thể thống kê được.
10
Xã hội học dân số
Bảng 5: Tình hình nhiễm HIV và AIDS qua các năm
(Đơn vị: người)
<13 0,82 1,90 2,02 1,73 1,80
13-19 8,45 2,85 2,53 4,52 4,41
20-29 55,23 54,45 53,08 52,76 52,11
30-39 23,86 31,45 32,38 30,40 31,37
40-49 8,45 6,55 6,73 8,02 8,05
>50 1,44 1,66 1,45 1,73 1,76
Không xác định 1,74 1,14 1,82 0,82 0,80
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
Tác động của HIV/AIDS với mỗi đối tượng khác nhau là khác nhau. Việt Nam là
nước có dân số trẻ, những người nhiễm HIV/AIDS đã tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi
thanh niên từ 20- 29, chiếm 55,23% (2004) và có xu hướng giảm qua các năm nhưng
vẫn ở mức độ cao, ngày 31/12/2008 là 52,11%. Đứng sau nhóm tuổi này là nhóm tuổi
30- 39 với 31,37%. Điều này đã tác động đến chất lượng lao động nói riêng và chất
lượng dân số Việt Nam trong tương lai nói chung.
Số lượng trẻ nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam có nguyên nhân từ bố mẹ chúng hoặc
do nguyên nhân khác, làm tăng gánh nặng đối với gia đình và xã hội.
Bảng 7: Tích lũy các trường hợp nhiễm HIV, AIDS và tử vong cho AIDS giai
đoạn 2003- 2010
(Đơn vị: người)
Năm
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
HIV 165.444 185.757 197.500 207.375 256.185 284.277 315.568 350.970
AIDS 30.755 39.340 48.864 59.400 70.941 83.516 97.175 112.227
Tử
vong
27.135 35.047 44.102 54.132 65.171 77.228 90.346 104.701
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
Số lượng người nhiễm HIV/AIDS tăng trong tình trạng ngành y tế còn tồn tại
nhiều khó khăn như: thiếu thuốc, thiếu giường bệnh, thiếu cơ sở chăm sóc trẻ nhiễm
HIV/AIDS… Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc chăm sóc sức khỏe của ngành y
cho việc phòng chống bệnh tật và chăm sóc sức khỏe của người dân gặp nhiều khó khăn.
13
Xã hội học dân số
Năm 2007 so với năm 2006, tổng số giường bệnh trong cả nước tăng gấp 1,05 lần
(2006- 23,6; 2007- 24,8) đã góp phần làm tăng tỷ lệ giường/10.000, từ 23,6 giường/
10.000 lên 24,8 giường/10.000 dân.
Thực trạng thiếu giường bệnh tại các bệnh viện hiện nay trở thành rào cản để tiếp
cận hệ thống y tế của người dân, làm cho người dân có tư tưởng cảm thấy nếu mắc bệnh
nặng mới vào nhập viện. Đó chính là “cơ hội” tích lũy bệnh tật, tăng mức độ nguy hiểm
đối với bệnh nhân.
• Thiếu thuốc chữa bệnh
Thị trường dược phẩm của các nước phát triển chiếm 85% doanh số toàn cầu,
trong khi chỉ chiếm 10 % dân số thế giới. Thị trường Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La-
tinh chỉ chiếm 12% doanh số. Giá thuốc, đặc biệt là các thuốc mới phát minh ngày càng
cao vượt quá sức chịu đựng của các nước đang phát triển. Các thuốc mới phát minh chủ
yếu hướng đến phục vụ mô hình bệnh tật của các nước giàu.
Thiếu thuốc để chữa trị bệnh cho các nước nghèo đang là một vấn nạn của 75%
nhân loại, tình trạng này cũng đã là một thách thức lớn ở Việt Nam. Những chỉ số về chi
phí sử dụng thuốc cho thấy nước ta đang ở vào nhóm các nước có mức hưởng thụ thuốc
bình quân thấp nhất thế giới.
Hiện nay, tình trạng thiếu thuốc đã dẫn đến nạn nhập lậu thuốc, làm thuốc giả
hoặc các loại thuốc đã hết hạn dùng được tung ra bày bán trên thị trường. Điều này ảnh
hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân.
• Thiếu cán bộ y tế
Song song với tình trạng thiếu thuốc chữa bệnh, vấn đề thiếu cán bộ y tế cũng
đang là vấn đề rất đáng quan tâm.[2; 113]
Thực tế ở Việt Nam, từ năm 1995- 2007, số lượng bác sĩ, y sĩ, y tá và nữ hộ sinh
đều tăng. Tuy nhiên, theo số liệu mới nhất, Việt Nam mới chỉ có 6,4 bác sĩ. Con số này
quá bé nhỏ so với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, đặc biệt là người dân ở vùng
sâu, vùng xa. Vì vậy, mục tiêu Việt Nan cho đến năm 2010 sẽ đạt 7 bác sĩ và 9 y tá trên
• Khả năng xã hội quan tâm chăm sóc và giúp đỡ người bị HIV/AIDS
15
Xã hội học dân số
• Những giải pháp can thiệp nhằm phòng chống bệnh lây nhiễm SDTs và
HIV/AIDS
7.2.2.1. Y tế là nhân tố quan trọng làm giảm mức sinh, mức chết ở bà mẹ, trẻ
em và giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng.
a/ y tế là nhân tố quan trọng làm giảm mức sinh
Một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc giảm mức sinh đó là hoạt
động có hiệu quả của công tác tuyên truyền KHHGD. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai
(CPR) của Việt Nam ngày càng cao và đạt mức cực đại vào thời điểm 1/4/2007(79,0%) .
Năm 2003, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai của Việt Nam giảm 1,6% so với năm 2005
và tăng dần trở lại qua các năm.[1; 106]
Bảng tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai của Việt Nam (1998- 2007)
CPR
Chia ra- In which
Hiện Đại
Moderl method
Không hiện đại
Traditional method
1/4/1998 71,9 57,9 14,0
1/4/2001 73,9 61,1 12,8
1/4/2002 76,9 64,7 12,2
1/4/2003 75,3 63,5 11,8
1/4/2004 75,7 64,6 11,1
1/4/2005 76,9 65,8 11,1
1/4/2006 78,0 67,1 10,8
1/4/2007 79,0 68,2 10,8
Nguồn: [48,39]
Tuy nhiên, theo tổng cục Dân số, việc thực hiện các biện pháp tránh thai đang
tử vong bà mẹ trong giai đoạn 1990-2015. Số liệu này được đưa ra tại báo cáo "Việt
Nam tiếp tục chặng đường thực hiện mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ năm 2008'' do bộ
kế hoạch Đầu tư làm chủ biên với sự giúp đỡ của Chương trình Phát triển Liên hợp
quốc(UNDP) vừa được công bố.
Nghiên cứu của quỹ Dân số Liên hợp quốc(UNFPA) và Tổ chức y tế thế giới
(WHO) cho thấy vào năm 1990 cứ 100.000 trẻ em ra đời sống thì có 233 bà mẹ tử vong.
17
Xã hội học dân số
Vào năm 2005, tỷ lệ này đã giảm mạnh mẽ xuống còn 80/100.000. Đây được coi là 1 nỗ
lực và thành công lớn của Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn, giảm tỷ lệ tử vong bà
mẹ khi sinh.
Ngoài ra, đến năm 2010, Việt Nam sẽ cố gắng để số phụ nữ có thai được theo dõi
thai nghén đạt tỷ lệ 95%, phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 3 lần đạt tỷ lệ 60%,
phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván đạt 95%, phụ nữ có thai được uống viên sắt
đạt 95%
* Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi
Từ thập kỷ 1990 trở lại đây, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt là
bà mẹ và trẻ em, đã bắt đầu được chú trọng hơn ở Việt Nam. Hệ thống y tế từ Trung
ương xuống huyện, xã đã bắt đầu được củng cố và tăng cường đầu tư để đáp ứng nhu
cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ trong việc thực hiện chỉ tiêu giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi. Từ năm 1990 đến
2006, tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 53/1.000 trẻ xuống còn 17/1.000 trẻ,
trẻ dưới 1 tuổi, tỷ lệ này giảm từ 38/1.000 trẻ xuống còn 15/1.000 trẻ. Tuy nhiên , tiến
độ giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh hiện nay đang bị chậm lại, số trẻ sơ sinh đang chiếm
hơn 1 nửa trong tổng số trường hợp tử vong ở trẻ em.
c/ Y tế là nhân tố quan trọng giảm tỷ lệ SDD ở trẻ em
Trong hội nghị tổng kết đánh giá các hoạt động dinh dưỡng năm 2008 do bộ y tế
và Viện dinh dưỡng quốc gia tổ chức, có báo cáo cho thấy "tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi trên
cả nước SDD đã giảm từ 23,4% ( năm 2006) xuống còn 19.9% ( năm 2008). Tiêm chủng
mở rộng là chương trình thành công nhất trong các chương trình liên quan đến sức khoẻ
19
Xã hội học dân số
Thông tin trên được Cục Quản lý tài nguyên nước đưa ra ngày 23/3/2010, tại lễ kỷ
niệm Ngày nước thế giới (22/3) và 60 năm Tổ chức khí tượng thế giới (23/3).
Mặc dù việc cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường cho dân cư đô thị và nông
thôn ngày càng được cải thiện, song các bệnh tật liên quan đến nước vẫn là một vấn đề
lớn ở Việt Nam. Hiện nay 80% trường hợp bệnh tật ở Việt Nam, bệnh lỵ và tiêu chảy
vẫn còn rất phổ biến là do nguồn nước bị ô nhiễm gây ra, chủ yếu ở các địa phương
nghèo. Nhiều người, chủ yếu là trẻ em bị tử vong do sử dụng nước bẩn và ô nhiễm. Chỉ
trong vòng bốn năm gần đây đã có khoảng 6 triệu ca thuộc sáu loại bệnh liên quan đến
nước, chi phí trực tiếp cho việc khám chữa bệnh tả, thương hàn, lỵ và sốt rét khoảng 400
tỷ đồng.
Hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ tác động rất lớn tới tài nguyên
nước nói chung và chất lượng nước nói riêng của Việt Nam - một thách thức mà Việt
Nam phải đối mặt trong tương lai. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới mới đây chỉ rõ, Việt
Nam là một trong năm nước trên thế giới chịu ảnh hưởng nhiều nhất do nước biển dâng.
Để đối phó với thực trạng này, trong năm 2010, Việt Nam sẽ tập trung trao đổi kinh
nghiệm, đưa ra những cách thức hợp tác hiệu quả để có các biện pháp ứng phó với các
vấn đề về thiên tai, nước sạch và biến đổi khí hậu.
20
Xã hội học dân số
Do tác động của việc gia tăng phạm vi cấp nước sạch và vệ sinh môi trường từ 30%
lên 60%, và các hoạt động giáo dục về sức khỏe như Việt Nam đã đạt tiến bộ nhanh
chóng trong việc cải thiện tình hình cấp nước vào những thập kỷ qua. 52% dân cư nông
thôn có phương tiện vệ sinh môi trường nói chung, song chỉ có 18% trong số họ được sử
dụng nhà xí đạt tiêu chuẩn vệ sinh do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số
08/2005/QĐ-BYT. Cuộc điều tra này còn cho thấy chỉ có 12% số trường học có phương
tiện vệ sinh đạt tiêu chuẩn. cung với đó ta thấy có sự can thiệp cũng như hỗ trợ của tổ
chức phi chính phủ UNICEF. Trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác giữa Chính phủ
- Giảm tỷ lệ lao phổi mới AFB (+) xuống 70/100.000 dân.
- Giảm tỷ lệ tử vong và lây truyền bệnh lao, ngăn ngừa tình trạng lao kháng thuốc.
b) Dự án phòng, chống bệnh phong
- Loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam.
- 100% số bệnh nhân phong bị tàn tật được điều trị và phục hồi chức năng.
c) Dự án phòng, chống bệnh sốt rét
- Không để dịch sốt rét lớn xảy ra.
- Giảm tỷ lệ mắc sốt rét xuống dưới 1,5/1.000 dân; giảm tỷ lệ chết do sốt rét xuống
dưới 0,03/100.000 dân.
d) Dự án phòng, chống bệnh ung thư
- Từng bước giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết do ung thư.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư.
đ) Dự án phòng, chống HIV/AIDS
- Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS dưới 0,3% dân số vào năm 2010.
- Giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
22
Xã hội học dân số
e) Dự án phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em
- Giảm tỷ lệ SDD thể nhẹ cân xuống dưới 20% số trẻ em dưới 5 tuổi; giảm tỷ lệ suy
dinh dưỡng thể thấp, còi xuống dưới 25% số trẻ em dưới 5 tuổi.
- Tiếp tục tuyên truyền, vận động, kiểm tra và giám sát ăn muối iốt.
g) Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng
- 100% số tỉnh/thành phố triển khai dự án; 70% số xã/phường triển khai mô hình
lồng ghép nội dung chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng vào hoạt động của trạm y tế
cơ sở.
- Phát hiện và quản lý điều trị tại cộng đồng cho 50% số bệnh nhân tâm thần (tâm thần
phân liệt, trầm cảm, động kinh).
- Điều trị ổn định cho 70% số bệnh nhân tâm thần được phát hiện; hỗ trợ người
bệnh sống hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
h) Dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chính phủ đã ban hành chiến lược quốc phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam.
Ông Dương Quốc Trọng, Cục trưởng Cục phòng chống HIV/AIDS cho biết: Để đáp ứng
với đại dịch HIV/AIDS, Việt Nam đã ban hành chiến lược quốc gia phòng chống
HIV/AIDS và nhiều chương trình xã hội khác. Ngân sách phòng chống HIV/ AIDS đầu
tư trong năm 2006 là 82 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nhận được sự hỗ trợ về
chuyên môn, kỹ thuật và tài Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế đa phương…
Theo thống kê của Bộ Y tế, tổng kinh phí các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho công tác
phòng chống HIV/ AIDS kể từ năm 1999 đến nay là 134,5 triệu USD. Các dự án do các
24
Xã hội học dân số
tổ chức quốc tế hỗ trợ đã giúp Việt Nam nâng cấp năng lực quản lý, hoạch định về chính
sách phòng chống HIV/ AIDS, cung cấp bao cao su, tư vấn xét nghiệm tự nguyện v.v
Tuy nhiên, với tổng các nguồn ngân sách trong và ngoài nước cho công tác phòng
chống HIV/ AIDS ở Việt Nam thì cũng chỉ đạt 40% nhu cầu mỗi năm cho hoạt động
này. Được biết, tổng nhu cầu kinh phí cho phòng chống HIV/AIDS trong giai đoạn
2006- 2010 là 594 triệu USD. Ngân sách Nhà nước và các nguồn hỗ trợ quốc tế đã cam
kết cho giai đoạn này khoảng gần 200 triệu USD. Tổng kính phí còn thiếu hụt là gần 400
USD. Đồng thời cũng đã ra quyết định ban hành chiến lược này hướng đến tầm nhìn
năm 2020.
Trong chiến lược này chính phủ đã đưa ra quan điểm:
a) HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với sức khỏe, tính mạng
của con người và tương lai nòi giống của dân tộc. HIV/AIDS tác động trực tiếp đến phát
triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội của quốc gia. Do đó, phòng, chống
HIV/AIDS phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài, cần phải tăng
cường phối hợp liên ngành và đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia.
b) Đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS là đầu tư góp phần tạo ra sự phát
triển bền vững của đất nước mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội trực tiếp và gián tiếp. Nhà
nước bảo đảm việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS từ nay
đến năm 2010 và sau 2010 phù hợp với khả năng và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước trong từng giai đoạn.