trinh tiết trong việc lựa chọn bạn đời ở việt nam xưa và nay - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
MÔN: X Ã HỘI HỌC GIA ĐÌNH
Chủ đề: “Trinh tiết trong việc lựa chọn bạn đời ở Việt Nam xưa và nay”
Hà Nội, 12/2012
Giảng viên: Lê Thái Thị Băng Tâm
Sinh viên : Nguyễn Thị Giang
K55 – XHH
Mã sinh viên: 10030146
MỤC LỤC
Phần 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Từ trong lịch sử, Việt Nam đã chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo và cho
đến ngày hôm nay, có không ít những bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng đó vẫn còn tồn
tại trong nếp sống, suy nghĩ của người Việt. Các cuộc tranh luận về những giá trị chuẩn
mực, đạo đức, tiết hạnh của con người, nhất là phụ nữ vẫn được đề cao và trinh tiết của
phụ nữ vẫn được coi như là thước đo để đánh giá nhân cách của họ. Trong khi hiện nay,
xã hội đang đề cao bình đẳng giới, nhằm khuyến khích phụ nữ bạo dạn hơn, có cơ hội
làm việc, cống hiến và được đối xử công bằng trong tất cả các lĩnh vực. Không có gì có
thể phủ nhận quyền họ được đối xử công bằng cả trong những lĩnh vực, vấn đề nhạy cảm
khác như tình dục,quan hệ…và được xã hội nói chung cũng như nam giới nói riêng có cái
nhìn khoan lượng hơn, thoải mái hơn về vấn đề trinh tiết. Tuy nhiên, đây mới chỉ là lý
thuyết. Xã hội không thể xóa bỏ sự bất bình đẳng nam nữ, phụ nữ không thể được thông
cảm, đối xử công bằng nếu như vẫn còn quá coi trọng và sùng bái trinh tiết của họ. Nhất
là khi việc quá coi trọng trinh tiết làm mất đi cơ hội của phụ nữ trong việc được lựa chọn
là bạn đời của nam giới. Một thực trạng có thể nhận thấy rõ là trong nhiều năm qua,
không có nhiều cuộc nghiên cứu chuyên sâu hay kỹ càng về vấn đề nhạy cảm này, những

tha thứ hay không. Đây là nguồn thông tin hữu ích bởi những vấn đề nhạy cảm phần
đông mọi người muốn nói lên ý kiến nhưng ngại bị lộ mặt.Các trang mạng là nơi thể hiện
rõ nhất những suy nghĩ và mong muốn thực chất của họ.Nhất là suy nghĩ của nam giới về
việc có quyết định lấy một người vợ không còn trinh trắng về làm vợ hay không, hoặc
nếu lâm vào tình trạng đó sẽ làm như thế nào. Tuy nhiên những trang mạng này mới chỉ
dừng lại ở việc tạo môi trường cho mọi người bày tỏ những ý kiến mà chưa có sự khái
quát, đúc rút hay kết luận lại, để hiểu được xu thế chung .Đây là một điểm hạn chế lớn.
Như vậy, chỉ khi đề cập tới vấn đề trinh tiết và ảnh hưởng của nó một cách thẳng
thắn, chân thực, có cái nhìn khách quan, cụ thểmới có thể góp phần thay đổi thái độ, nhân
thức của mọi người, nhất là của nam giới về giá trị của trinh tiết thực chất là gì. Qua việc
phân tích về vấn đề “ trinh tiết trong việc lựa chọn bạn đời trước hôn nhân” sẽ cho các
bạn một cách nhìn mới mẻ, thấu đáo về vấn đề đang còn gây nhiều tranh luận này, khắc
phục được một số hạn chế đã nêu trên.
Phần 2: Nội dung chính.
2.1: Các khái niệm công cụ
Trước hết, để có thể hiểu một cách toàn diện về vấn đề “trinh tiết đối với việc lựa
chọn bạn đời ở Việt Nam xưa và nay, cần hiểu những khái niệm quan trọng “trinh tiết” và
“màng trinh”.
2.1.1: Màng trinh
Là một màng mỏng nằm trong âm đạo, cách cửa âm đạo khoảng 2 – 3cm. Màng
trinh không chỉ có ở cơ thể con người (phụ nữ) mà nhiều loài động vật cũng có màng
trinh.Màng trinh bị rách ở lần giao hợp đầu tiên. Thậm chí, nó mỏng tới mức có thể rách
nếu các các bạn nữ hoạt động mạnh, ngã do chơi thể thao, tư thế hoạt động không đúng
cách, đi xe đạp. Ở một số bạn nữ bẩm sinh đã không có màng trinh. Cũng có những
người màng trinh quá dày, gây cản trở cho việc quan hệ và gây mất kinh nguyệt phải can
thiệp y tế mới rách được.
Hiện nay, xã hội phát triển, công nghệ y học hiện đại cũng phát triển rất nhiều.Xuất
hiện nhiều phòng khám tư, nhiều nơi “vá trinh”. Người con gái khi đã có quan hệ tình
dục, có thể đến những nơi này để có sự can thiệp của khoa học hiện đại, họ sẽ có lại
màng trinh lành lặn như ban đầu.

Xét theo khía cạnh văn hóa, trinh tiết không chỉ xem xét ở khía cạnh người phụ nữ
có còn màng trinh hay không mà còn xem xét ở khía cạnh đạo đức, nhân phẩm, lòng thủy
chung với người yêu hay chồng.
Theo từ điển bách khoa toàn thư, khái niệm trinh tiết được hiểu ở cả 2 khía cạnh
nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen chỉ người phụ nữ chưa quan hệ tình dục bao giờ và
giữ nguyên vẹn được màng trinh. Về nghĩa bóng có thể hiểu trinh tiết là trạng thái tâm
hồn, đạo đức tốt, chung thủy với chồng. Trong hầu hết các nền văn hóa, nó là biểu trưng
cho sự trong trắng trong tâm hồn, đức hạnh trong tình yêu, ý thức tiết chế dục vọng để
giữ gìn thể xác thuần khiết cả trước và sau hôn nhân, thể hiện sự tôn trọng và chung thủy
với bạn đời của người phụ nữ, và nói rộng ra là với cả nam giới.
Trinh tiết là biểu tượng của một tình yêu trong sáng, thủy chung, không bị chi phối
bởi dục vọng xác thịt. Đây là một trong những giá trị Chân - Thiện - Mỹ mà dù ở thời đại
nào thì con người cũng ca tụng và hướng tới.
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê : “trinh tiết là người con gái còn tân, còn
trong trắng chưa chồng và người con gái đó phải giữ gìn được trọn lòng thủy chung với
chồng”.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm trinh tiết ở cả 2 phương diện là sinh học và đạo
đức.Ở mỗi thời kỳ khác nhau, cách hiểu, suy nghĩ về trinh tiết có sự thay đổi.Điều này
góp phần lý giải nhân thức về trinh tiết đến việc lựa chọn bạn đời ở Việt Nam như thế
nào. Tựu chung, trong bài làm này, tôi tiếp cận khái niệm trinh tiết ở cả 2 khía cạnh. Là
người phụ nữ chưa có quan hệ tình dục với ai trước khi lập gia đình và sau khi lấy chồng
thì chung thủy với chồng kể cả về thể xác lẫn tinh thần.
Tóm lại, chúng ta không thể đánh đồng 2 khái niệm “trinh tiết” và “màng
trinh”.Bởi chúng không phải là một khái niệm đồng nhất.Viêc đồng nhất hóa 2 khái niệm
này gây nên cách hiểu sai, tạo nên sự phán xét sai đối với nhiều người phụ nữ.và là một
trong những nguyên nhân làm họ không được lựa chọn làm bạn đời của nam giới. Hoặc
nếu có kết hôn cũng không có hạnh phúc, chịu sự ngược đãi của chồng, gia đình chồng
và sự dè bỉu của xã hội.
2.2. Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý của Peter Blau
Ở trên, tôi đã phân tích hai khái niệm cơ bản “màng trinh” và “trinh tiêt”.Việc hiểu

Đối với những người phụ nữ không giữ được trinh tiết mà để có con với người khác trước
khi lấy chồng sẽ bị cạo đầu, bôi vôi, thậm chí nhiều nơi còn thả bè cho trôi sông. Những
điều này phản ánh thái độ khắc nghiệt của xã hội nói chung đối với những người phụ nữ
không còn trinh tiết trước khi lấy chồng.
Những người phụ nữ sau khi lấy chồng mà không giữ được trinh tiết, thông gian
với người khác thì sẽ bị pháp luật xử phạt.Tuy nhiên trong bài này tồi chỉ đề cập đến
những người không còn trinh tiết trước khi lấy chồng nên tôi không đi sâu phân tích khía
cạnh này.
Như đã nói ở trên, khái niệm “trinh tiết” được hiểu khác nhau qua các thời kỳ và
các nên văn hóa.Trong thời kỳ phong kiến, khái niệm này được coi trọng ở cả hai phương
diện là sinh học và đạo đức.Một câu hỏi đặt ra là nếu một người con gái không còn trinh
tiết trong thời kỳ này có dễ dàng được lựa chọn làm bạn đời của nam giới hay không?Áp
dụng lý thuyết tương tác biểu trưng chúng ta có thể lý giải được điều này.
Về khía cạnh sinh học, một người con gái không còn trinh là người đã từng quan hệ
tình dục trước khi lấy chồng, hay người phụ nữ mà màng trinh không còn nguyên vẹn.
Đây là xét theo quan điểm của số đông. Về khía cạnh đạo đức người con gái không còn
trinh tiết trước khi lấy chồng là người không có nhân phẩm, đạo đức tốt, không có được
sự đoan trang, tính tình lẳng lơ… Những đối tượng này phần đông không được lựa chọn
làm bạn đời lâu dài của nam giới và gia đình họ.
Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý đã nêu rõ, các nhân luôn có những tính toán duy
lý để hành động một cách có chủ đích nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu.
Thuyết cũng khẳng định con người luôn từ chối những hành vi phải chi trả và tìm kiếm
những thiết chế trong đó phần thưởng nhiều hơn chi phí. Như vậy, đối với gia đình nhà
trai, họ có những tính toán duy lý của họ. Đó là phải lựa chọn được một nàng dâu còn
trong trắng, có phẩm hạnh tốt, môn đăng hộ đối, không có tai tiếng gì. Việc lựa chọn
được nàng dâu như thế này khiến họ được hàng xóm, cộng đồng khen ngợi, chúc
mừng.Họ không thể chấp nhận một cô con dâu không còn trinh tiết, bị xã hội dè bỉu và xa
lánh, những người có tính tình không tốt, lẳng lơ thì càng không được lựa chọn. Giả sử
nếu họ chấp nhận người con dâu đó, đồng nghĩa với việc họ chấp nhận việc bị xã hội dè
bỉu cả gia đình mình, con trai mình. Theo tính toán duy lý thì việc này không thể xảy

không chính chuyên chỉ có vào lầu xanh hay những nơi không thanh sạch, mua vui cho
đàn ông chứ không xứng đáng làm vợ.Hiển nhiên, những người đàn ông không tội gì
chấp nhận một người con gái đã từng có quan hệ tình dục với người đàn ông khác trước
mình. Đó là điều xỉ nhục với anh ta, đồng thời anh ta sẽ bị gia đình, họ hàng phản đối, bị
dư lận khinh miệt, bị bạn bè cười chê. Theo thuyết lựa chọn duy lý thì họ không lựa chọn
phương ân này.
Cũng theo tâm lý học, con người thường có xu hướng lặp lại các hành vi cũ nếu
hành vi đó đã được thực hiện nhiều lần. Dựa vào quan điểm này, có thể giải thích nam
giới trong hoàn cảnh có người yêu hay vợ chưa cưới không còn trinh tiết sẽ xuất hiện suy
nghĩ và trạng thái lo sợ vợ mình sau này sẽ quay lại đường cũ. Hay người phụ nữ đã
buông thả không biết giữ mình thì cũng dễ ngoại tình, phản bội.Cùng với tâm thế mình
luôn là số một của nam giới, họ cũng không chấp nhận trước đó có người đàn ông khác
đã sở hữu vợ mình trước đó.Họ muốn vợ là của mình họ, thuộc quyền sở hữu cá nhân
không ai được xâm phạm.
Từ khi đất nước giàn được độc lập đến trước năm 1986, bước vào thời kỳ mới,
quan điểm về vấn đề trinh tiết trong việc lựa chọn bạn đời có sự thay đổi theo hướng
khoan dung hơn, dễ chịu hơn do sự phát triển của xã hội, sự tiếp cận với kiến thức khao
học và luồng văn hóa ngoại nhập từ phương Tây. Song sự thay đổi này rất chậm chạp và
ít ỏi nên tôi không phân tích kỹ giai đoạn này.
Tựu chung, qua những phân tích trên đây có thể rút ra một nhận định: người phụ nữ
không còn trinh tiết trong thời kỳ này không được các gia đình chấp nhận và không được
nam giới lựa chọn làm bạn đời.
2.4: Áp dụng lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý để phân tích vấn đề trinh tiết
trong lựa chọn bạn đời ở Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay).
Trong xã hội ngày nay, kinh tế phát triển, sự du nhập của các nền văn hóa mới, đặc
biệt là văn hóa phương Tây ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ, quan niệm của mọi người
nói chung và nam giới nói riêng về vấn đề trinh tiết của phụ nữ trước khi kết hôn. Có thể
thấy quan niệm về vấn đề này đã có chút thay đổi so với trước.Tuy nhiên, nhận thức, suy
nghĩ về sự giữ gìn trinh tiết của người phụ nữ vẫn được coi trọng và duy trì chứ không
thay đổi hết hay mất đi hoàn toàn.

xây đắp tương lai không còn trong trắng.Điều đau đớn là cả hai chúng tôi vẫn còn rất
yêu nhau. Nhưng quả thật, phải là người trong cuộc mới có thể thông cảm được sự đau
đớn mỗi khi nghĩ đến người yêu của mình đã từng ân ái với một người khác. Tôi muốn
gạt bỏ ý nghĩ đó đi để tiếp tục yêu cô ấy.Nhưng có lẽ tôi sẽ không làm được.
Dựa vào lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý chúng ta vẫn có thể giải thích vấn đề
này tương tự như trong thời kỳ phong kiến.Con người có những tính toán duy lý của
mình. Và họ không lựa chọn phương án mà họ phải chi phí. Nghĩa là họ khó mà chấp
nhận được việc phải sống dằn vặt và tâm trạng đau khổ vì vợ không còn trinh
nguyên.Như vậy, có thể khẳng định số đông nam giới hiện nay vẫn không thể lựa chọn
một người phụ nữ không còn trinh tiết làm vợ.
Đối với gia đình chàng trai, tuy hiện nay quyền quyết định lựa chọn bạn đời phụ
thuộc vào con cái, nhưng ý kiến của họ vẫn rất quan trọng. Họ vẫn khó lòng chấp nhận
cho con trai họ lấy một người con gái không còn trong trắng do quan hệ tình dục trước
hôn nhân bởi họ sợ dư luận xã hội, và lo lắng vào đạo đức, phẩm giá của người con dâu
tương lai. Nếu người con gái đó mang thai hoặc con trai họ quyết định cưới thì họ sẽ có
thái độ khinh miệt, không thông cảm cho người con gái này.
Hiện nay do sự thay đổi về lối sống, quan điểm sống của con người cũng có sự thay
đổi. Nhiều người phụ nữ đã quan hệ với người yêu cũ, với người khác nhưng khi đến với
một người đàn ông nào đó lại chung thủy, không có những mối quan hệ ngoài luồng
khác, có nhân cách tốt cũng vẫn được người đàn ông đó lựa chọn làm bạn đời sau này.
Nếu như trước đây trong xã hội phong kiến thì điều này không thể chấp nhận được.Cũng
phải nói thêm rằng để một người đàn ông chấp nhận một người phụ nữ không còn trinh
tiết làm bạn đời là việc khó khăn và chỉ có ở những người đàn ông vị tha, chín chắn và
tình yêu của hai người đủ lớn.Cũng phải nói thêm sự vị tha và lối suy nghĩ mới chỉ có ở
số ít nam giới chứ không phải nhiều người như chúng ta nghĩ.
Tóm lại, trong thời đại hiện nay, tuy vấn đề trinh tiết đối với việc lựa chọn bạn đời
đã được nhìn nhận với thái độ rộng mở hơn, độ lượng hơn, song nhìn chung nam giới và
gia đình của họ khó chấp nhận một người vợ, một người con dâu không còn trinh tiết về
làm thành viên trong gia đình.
Phần 3. Xu hướng của vấn đề trong tương lai

bớt đi. Mặt khác, xu thế chung hiện nay là lối sống, mô hình gia đình hạt nhân, nhất là ở
thành phố, các cá nhân ít chịu ảnh hưởng của dư luận hoặc dư luận xã hội về vấn đề đó
cũng không tồn tại lâu dài. Dư luận xã hội đứng trước việc một người con gái không còn
trinh tiết không còn chú ý quá nhiều và không gay gắt như trước. Điều này làm giảm bớt
sự lo lắng trong những tính toán của gia đình chàng trai và cá nhân chàng trai ấy. Như
vậy, nam giới sẽ chọn cho mình phương án hiệu quả nhất trên cơ sở nhận thúc và chi phí
họ bỏ ra. Nghĩa là, họ chấp nhận một người phụ nữ không còn trinh tiết nhưng tính cách
tốt, phầm chất tốt, chung thủy, có thể dảm nhiệm vị trí người vợ, người mẹ tốt; hơn là
chấp nhận lấy một người phụ nữ còn trinh tiết nhưng vụng về, không biết đối nhân xử
thế, không có tính cách tốt.Đồng thời nam giới hiện nay có nhiều tiêu chí lựa chọn bạn
đời không chỉ dừng lại ở việc môn đăng hộ đối, trinh tiết…mà còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác như công việc, kinh tế, tri thức của bạn đời.Điều này ít xuất hiện trong thời
kỳ trước.Một thực tế có thể thấy là trong xu thế hiện tại, việc người phụ nữ có công việc
ổn định, có tri thức…là những yếu tố khá quan trọng trong việc lựa chọn bạn đời của
Nam giới.Như vậy thì yếu tố và tầm quan trọng của trinh tiết được giảm bớt đi chứ không
còn hà khắc như trước.Các bài đăng trên các trang mạng liên quan đến tình dục, giới tính,
vấn đề này cũng được nhìn nhận cởi mở hơn. Ví dụ như trên trang Afamily, phần lớn các
bài đăng trên mục tâm sự liên quan đến vấn đề trinh tiết được mọi người nhìn nhận theo
hướng tích cực như “ mất trinh không có nghĩa là không thể hạnh phúc”, “mất trinh
không đồng nghĩa với hư hỏng”, hay “ bạn trai tôi không quan tâm đến chữ trinh”…
Điều đáng chú ý là nhiều bài tâm sự như thế này là do nam giới viết, chứ không phải nữ
giới tự biện minh cho mình. Và không nên hiểu những bài viết này là thông tin không
đáng tin cậy.Thực chất đây là những thông tin chân thực nhất.Như vậy có thể thấy xu
hướng thay đổi mang tính tích cực của nam giới trong nhận thức và việc lựa chọn bạn đời
của họ.
Tuy nhiên, trong tương lai, một bộ phận nam giới vẫn không thể chấp nhận kết hôn
với người phụ nữ không còn trinh trắng.Mặc dù, sự thông thoáng và cởi mở trong việc
lựa chọn bạn đời của nam giới chúng ta có thế nhìn thấy như phân tích ở trên.Nhưng trinh
tiết trước nay vẫn được coi như là một giá trị truyền thống, một chuẩn mực đạo đức của
người dân Việt Nam. Nó vẫn luôn là thước đo đánh giá một người phụ nữ có đức hạnh,

mà có ý hướng thiện, đồng thời không chấp nhận những người dựa vào danh nghĩa “sự
phát triển chung của xã hội” để sống buông thả, không có trách nhiệm với bản thân và xã
hội.
Phần 4: Kết luận
Như vậy, bài làm này đã đưa ra một số nhận định chủ yếu sau. Thứ nhất khẳng
định vấn đề trinh tiết đối với vệc lựa chọn bạn đời trước hôn nhân ở thời kỳ phong kiến là
rất quan trọng, xã hội, gia đình nhà chồng và chồng tương lai không chấp nhận được một
người phụ nữ không còn trinh tiết về làm thành viên trong gia đình. Thứ hai, khẳng định
vấn đề trinh tiết trong việc lựa chọn bạn đời hiện nay đã có những thay đổi theo hướng
cởi mở và độ lượng hơn, song vấn bảo tồn quan điểm cũ, khó chấp nhận một người phụ
nữ không còn trinh tiết làm bạn đời của mình. Thứ ba, bài viết nhấn mạnh xu hướng
trong tương lai của vấn đề.Đó là sự phát triển đa chiều, đa hướng cả vấn đề này và sự
phát triển đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên vẫn nên tuân theo
những chẩn mực, giá trị truyền thống của dân tộc, tránh lối sống buông thả, không có
trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1: Lê Thái Thị Băng Tâm. Giáo trình xã hội học gia đình
2: TXD Hoàng. 2009. Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ. “Thái độ xã hội đối với trinh tiết
của phụ nữ - nhìn từ góc độ giới”
3: />sai-cua-minh-574.chn 4: />%BFt#C.C3.A1c_.C4.91.E1.BB.8Bnh_ngh.C4.A9a_v.E1.BB.81_trinh_ti.E1.BA.BFt
5: />c3a109887.html
6: em-ma-khong-con anh-
se-tra-cho-bo-me html
7: />20121217111323374.htm
8: />121143126.html
9: Lê Ngọc Hùng. 2011. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. “Lịch sử và lý thuyết xã
hội học”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status