Trường: ĐHKHXH & NV
Họ và tên: Lê Thị Thương
Lớp: K56 – Xã Hội Học
MSSV: 11030892
Môn: Xã hội học gia đình
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ I
Đề bài: Hãy chọn một vấn đề thuộc lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học gia đình để phân
tích,tập trung vào 3 nội dung sau :
1- Nêu được tính bức xúc của vấn đề (2đ)
2- Gỉai thích trên cơ sở lí thuyết ,dữ liệu kết quả nghiên cứu về nguyên nhân của vấn đề
(3đ)
3- Phân tích ,biện luận có tính thuyết phục về xu hướng của vấn đề trong tương lai (5đ)
*Yêu cầu:
1- Không chọn phạm vi phân tích vấn đề quá rộng
2- Không bố cục bài theo công thức : Hiện trạng – nguyên nhân – giải pháp.
3-Không sao chép sự phân tích từ các tài liệu khác (chỉ sử dụng kết quả nghiên cứu dữ liệu)
để sử dụng cho phân tích của mình.
4-Các dữ liệu kết quả nghiên cứu phải viết đầy đủ nguồn trích dẫn.
Chủ đề : Vấn đề “Bạo Lực Gia Đình”
BÀI LÀM
1- Đặt vấn đề
Cùng với sự đi lên của xã hội, nền kinh tế - xã hội của nước ta đang trên đà phát triển để
tiến lên là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, xã hội có rất nhiều mặt tích cực được thể hiện rõ
rang. Bên cạnh đó, gia đình – một tế bào của xã hội cũng đang tồn tại rất nhiều những mặt
quan trọng mà ta đáng lưu ý. Trong gia đình Việt Nam, nhìn chung có rất nhiều điều kiện để
phát triển như điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện chính trị - xã hội, điều kiện văn hóa - xã
hội và hệ tư tưởng, loại gia đình này là một gia đình không lạc hậu nó phải luôn bắt kịp với
hoàn cảnh sống, phù hợp với những điều kiện của xã hội của đất nước. Gia đình luôn tồn tại
rất nhiều mối quan hệ của các thành viên, lối sống của con người, chuẩn mực đạo đức, không
thể không có quyền lực. Mỗi gia đình thể hiện ra để chứng tỏ gia đình đó là một gia đình có
truyền thống như cha mẹ mẫu mực con cháu hiếu thảo, gia đình văn hóa và co cuộc sống
Theo định nghĩa Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thì bạo lực gia đình (BLGĐ) bao gồm
bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng tổn hại về
thân thể tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những
hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do , dù nó xảy ra nơi
công cộng hay cuộc sống riêng tư ở Việt nam ,Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã định
nghĩa “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn
hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (khoản 1, điều 1,
Luật phòng, chống bạo lực gia đình) (Quốc hội nước CHXHCNVN 2008b:85).
BLGĐ nó có ảnh hưởng lớn tới đời sống của rất nhiều người mà đặc biệt là phụ nữ và
trẻ em.
Trên cơ sở của vấn đề này, ta có thể áp dụng thuyết xung đột để làm rõ hơn. Gia đình
chiếm một vị trí quan trọng trong lý thuyết xung đột của Marx và Engels. Theo đó gia đình là
nguồn gốc của các lợi ích cá nhân về mặt sinnh học (giới tính và tài sản)và gai đình cũng là
một hình thái của tổ chức xã hội.
Cơ sở của những xung đột là sự sở hữu quyền lực và lợi ích cá nhân. Biểu hiện của
quyền lực thông qua mức độ sở hữu các vị trí trong gia đình, tiền bạc mà cá nhân giành được,
cưỡng bức về thể xác hay tinh thần.Thông thường cá nhân nào trong gia đình nắm được nhiều
quyền lực nhất sẽ đặt được mục đích của mình trong cuộc xung đột.
Lý thuyết xung đột đã khẳng định rằng, xã hội chắc hẳn phải kinh qua mâu thuẫn thay
đổi liên tục nên cũng không tránh khỏi gia đình cũng luôn hàm chứa bên trong nó nhiều mâu
thuẫn, có những mâu thuẫn nó chỉ ở mức độ bình thường, nhưng cũng có rất nhiều các quan
hệ trong gia đình khi sự mâu thẫn xung đột quá lớn thì nó sẽ biểu hiện ra bên ngoài, điều này
dẫn đến nạn bạo lực gia đình là một điều không thể tránh khỏi.
Bạo lực trong gia đình là hành vi tấn công của một người (thường là những người đàn
ông) đối với người khác có quan hệ tình cảm đối với họ hàng bằng cách dùng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực để kiểm soát người khác. Người có hành vi bạo lực thường kiểm soát cả về
tài chính và các quan hệ xã hội của ngươì là đối tượng của hành vi bạo lực ( Bùi Thu Hằng
2001)
Bạo lực gia đình là bắt kỳ hành động nào trong gia đình, do các thành viên của các gia
đình gây ra, làm tổn thương đến sức khỏe thể xác, tinh thần hoặc xâm phạm quyền tự do của
của bạo lực và, thật không may, vì mối quan hệ có thân thích thường khiến cho người ngoài
không coi bạo lưc gia đình là nghiêm trọng như các hành vi bạo lực khác.
Trong bạo lực gia đình kẻ hành hung vẫn còn tiếp cận được với nạn nhân, biết rõ công
việc thường ngày và tính dễ tổn thương của họ. Sau nhiều lần có các hành vi bạo lực, kẻ hành
hung có thể tiếp tục tăng thêm sự kiểm soát về tinh thần và thể xác của nạn nhân trong cuộc
sống hàng ngày. Hơn nữa kẻ hành hung còn biết rõ ạn nhân của mình(như bệnh tật trước đây,
tình cảm đối với con cái ) và chúng sử dụng như là những mục tiêu để tấn công(như không
cho dùng thuốc chữa bệnh, tấn công nạn nhân từ phía sau, đe dọa làm tổn hại con cái) đã làm
tăng thêm chấn thương và nổi sợ hãi của nạn nhân.
Nạn nhân của bạo lực gia đình không chỉ phải đối phó với các chấn thương đặc thù
(như chấn thương đầu) và nỗi sợ hãi lại bị tấn công bởi một kẻ quen biết mà còn phải đối phó
với tính phức tạp của mối quan hệ thân tình với kẻ hành hung mình. Nhiều kẻ hành hung tin
rằng họ có quyền sử dụng các chiến thuật để kiếm soát bạn tình của họ, điều này cũng thường
được xã hội ủng hộ. Bản chất “gia đình” của các mối quan hệ này đôi khi làm cho kẻ hành
hung được cho phép dùng bạo lực, tuy không hợp pháp không giống nạn nhân của bạo lực do
người lạ, nạn nhân của bạo lực gia đình phải đương đầu với rào cản của xã hội để có thể cách
li với kẻ hành hung cũng như bị những cản trở trong việc bảo vệ mình.
Các đặc điểm xác định một trường hợp là bạo lực gia đình ( chỉ cần xác định ít nhất một
trong bốn đặc điểm)
*Cư xử hung bạo một cách có chủ ý, không phải tai nạn.
*Vi phạm quyền tự do cá nhân.
*Thủ phạm dùng vũ lực mạnh và đặc quyền của mình đối với nạn nhân.
*Gây ra những vết thương về thể xác và tinh thần.
Căn cứ vào Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung một số điều
theo nghị quyets số 51/2001/QH10; thì Luật số 02/2007/QH12 của Quốc hội đã được ban
hành. Đây là Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Tại Điều 2 của Luật đã đề cập về các hành
vi bạo lực gia đình.
1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi khác cố ý xâm hại đến sức khỏe, tính
mạng;
bạo lực hay không, trong khi người khác cho là sự tổn hại tột cùng.
Ngược đãi về tâm lí : có nhiều kiểu ngược đãi về tâm lý khác nhau đay là mặt đáng chú ý
và tổn hại đến đời sống của con người:
Đe dọa bạo hành và làm hại: đe dọa bạo lực và làm hại của kẻ hành hung có thể trực tiếp
nhằm vào nạn nhân hay người mà nạn nhân yêu quý, hoặc đe dọa tự tử. Đe dọa có thể bằng
lời nói trực tiếp hay với hành động. Kẻ hành hung có thể có bạo lực với người khác (như láng
giềng thành viên gia đình) để khủng bố nạn nhân. Kẻ hành hung có thể cưỡng ép nạn nhân
làm việc gì đó phạm pháp (như mại dâm ăn cắp) và sau đó dọa làm lộ chuyện hay có thể buộc
tội giả để chống lai họ.
Tấn công tài sản, vật nuôi và các hành động hăm dọa khác. Tấn công tài sản và vật nuôi
không phải là hành động ngẫu nhiên.thông điệp cho nạn nhân : “sau đó đến lượt cô”. Nhưng
đây bạo lực về tinh thần là đáng khiển trách.
Bạo lực tinh thần là chiến thuật khống chế bao gồm những sự chửi bới hai nhục, lăng mạ
nhiều lần phẩm giá của nạn nhân với tư cách cá nhân hay vai trò làm mẹ, thành viên gia đình,
bạn bè, đồng sự hay thành viên của cộng đồng.Tấn công bằng lời thường nhấn mạnh đến
những điểm tổn thương của nạn nhân (như quá khứ của một nạn nhân loạn luân, khả năng
ngôn ngữ, kỹ năng làm mẹ tín ngưỡng, xu hướng tình dục hay tình trạng AIDS). Đôi khi lăng
mạ tình cảm bao gồm việc bắt buộc nạn nhân phải làm các việc mất danh giá(như đến nhà
tình nhân của kẻ hành hung để nhận con, quỳ gối trước anh ta và dùng một bàn chải để thu
dọn thức ăn mà kẻ hành hung nhổ ra sàn bếp, hoặc phải làm trái đạo đức của bà ta), Bạo lực
tinh thần bao gồm hạ nhục nạn nhân trước mặt gia đình, bạn bè hay người lạ.Bạo hành tinh
thần trong BLGĐ không chỉ là vấn đề của một ai đó cáu giận và chửi rủa bạn tình.Không nhất
thiết tất cả các lời chửi thề trước các bạn tình đều là hành động bạo lực.Bạo hành tinh thần
được coi là BLGĐ khi nó mang tính chất cưỡng bức đe dọa sử dụng vũ lực.Trong BLGĐ, tấn
công bằng lời nói và các chiến thuật kiểm soát dan xen với nhau kem với lời đe dọa làm hại
để duy trì sự thống trị của kẻ hành hung khiến nạn nhân sợ hãi.Lăng mạ bằng lời lặp đi lặp lại
dần dần gay tổn thương cho cơ thể.
Ngoài ra kẻ hành hung còn dùng cách là cô lập:Kẻ hành hung thường cố gắng kiểm soát
nạn nhân về thời gian, hoạt động và tiếp xúc với người khác.Kẻ hành hung chia tách nạn
nhân ra khỏi mối quan hệ giáp đỡ bằng cách nói là “do yếu quá chừng” và muốn luôn được ở
tưởng nổi.
Ví dụ 1: Theo một số báo ra vào thứ 6, ngày 20/7/2012, vào lúc 23h01’.
Cụ thể: trong một lần bị chồng hành hạ, đánh đập như đã từng chịu như thế trong
nhiều năm qua, nạn nhân của nạn bạo lực gia đình đã vô tình trở thành tội phạm giết người…
Tới nay người dân thôn Thái Tượng, xã Tượng Sơn, huyện Nông Cống, Thanh Hóa
vẫn còn bàng hoàng trước thông tin ông N.V.L (48 tuổi ) bị vợ là bà L.T.K (42 tuổi) dùng đục
đập vào đầu và tử vong trong đêm 13/07.
Lỡ tay giết chồng
Theo lời kể của cháu N.T.P (sn 1993, con gái của họ), khoảng 2h ngày 13/07, N.T.Đ
(sn 2004, em của P) khát nước, tỉnh dậy không thấy mẹ đâu nên đã gọi P. Dậy đi tìm mẹ.Cả 2
nhìn thấy mẹ đang nằm dài trên ghế miệng sủi bọt. Sợ quá, P chạy ra ngoài hô hoán.Một số
người đến sau phát hiện ông L nằm trên giường, phía sau gáy có một vết thương lủng sâu vào
sọ não, máu chảy đầm đìa.
Khi được cứu sống, bà K. đã khai nhận sự việc với công an xã Tượng Sơn. Theo đó,
tối 12/07, vợ chồng có lời qua tiếng lại với nhau, sau đó bà K. cùng các con đi ngủ. Khoảng
gần 2h ngày 13/07, ông L vào, trên tay cầm chiếc đục rồi túm tóc bà K. lôi ra ngoài đấm vào
mặt. Bị đánh đau, trong lúc không kiềm chế được mình bà K. cướp được chiếc đục trên tay
chồng rồi đập vào đầu ông. Thấy ông bất tỉnh, máu ra nhiều, bà K. sợ quá, bế ông L. lên
giường rồi lấy thuốc diệt cỏ tự tử.
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết vợ chồng ông L. đã chung sống với nhau 22 năm,
có với nhau 3 mặt con. Ông đi làm thuê khắp nơi, còn bà chạy chợ bán mớ rau mớ cà. Vài
năm gần đây, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do ông L. nghiện rượu, mỗi lần say lại lôi vợ
ra hành hạ, có lúc đuổi vợ ra khỏi nhà giữa đêm khuya khiến bà phải tìm đến nghĩa địa gần
nhà để ngủ.
Việc ông bà thường xuyên xô sát, công an xã Tượng Sơn từng mời lên làm việc nhiều
lần, ông L. hứa sẽ sửa chữa nhưng rồi đâu lại vào đấy còn bà vì thương con nên ngậm bboof
hòn làm ngọt, làm đơn bảo lãnh xin cho chồng. Nhưng vào đêm định mệnh đó, sau dồn nén
uất ức nhiều năm tháng, một phút không làm chủ được bản thân, bà đã trở thành kẻ giết
chồng.
Ví dụ 2: Ám ảnh bạo hành.
Hà, tỉnh Hải Dương và 52 cặp vợ chồng cố hành vi bạo lực gia đình- đối tượng của nghiên
cứu này có 36% trẻ trả lời có bạo lực gia đình tại gia đình mình.
Nghiên cứu cũng cho thấy trẻ sỗng trong gia đình bạo lực có nhiều khả năng bị rối nhiễu tâm
lý như lo âu, trầm cảm, rối nhiễu hành vi, trong đó trẻ vừa phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa
cha mẹ vừa bị cha mẹ ngược đãi là đối tượng bị rối nhiễu tân lý nhiều nhất. Mức độ rối nhiễu
tâm lý có mối tương quan thuận với bạo lực gia đình. 16 trẻ sống trong 52 gia đình có bạo
lực (chiếm 30,8%) có hành vi gây hấn và 6 trẻ (chiếm 11,5%) thường xuyên có những hành
vi gây hấn với bạn bè và người khác.
Kết quả đáng quan tâm của nghiên cứu này còn là vấn đề những cặp vợ chồng trong gia đình
bạo lực không ( hoặc rất ít) nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng. 41/52 cặp vợ chồng (chiếm
78,8%) được phỏng vấn không nhận được bất kì sự hỗ trợ nào từ cộng đồng mỗi khi họ có
hành vi bị chửi đánh nhau. Chỉ có 6 cặp vợ chồng trong số đó ( chiếm 9,6% ) thường xuyên
nhận được sự hỗ trợ từ cộng đồng.
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, không ít các trường hợp bệnh
nhân nhập viện vì trấn thương do các tác nhân bạo lực gia đình gây ra, có những trường hợp
rất mam rợ và đáng thương tâm.Nhiều vụ ly hôn ra tòa là nguyên nhân của nạn bạo hành gia
đình. Phụ nữ là những đối tượng nhạy cảm, vì vậy, các triệu chứng trầm cảm, stress mạnh,
nguy hạn hơn là sự suy giảm thần kinh đã trở thành bệnh là những di hậu của nạn bạo hành
gia đình. Không chỉ thế, phụ nữ còn là đối tượng hứng chịu tổn hại về sinh lý dưới tác động
của hành vi bạo lực về tình dục. Trong khi đó, tổn thất cho việc giải quyết vấn đề giải quyết
bạo lực gia đình là không nhỏ, bao gồm nhiều khoản chi phí cho các dịch vụ hỗ trợ luật pháp,
công an, tòa án, xã hội; cho công tác tuyên truyền, y tế, giáo dục . Đồng thời phụ nữ- nạn
nhân bạo lực gia đình sẽ giảm năng suất lao động, giảm khả năng tạo thu nhập và việc làm.
Theo thống kê của tòa án nhân dân tối cao, trung bình một năm trên cả nước có tới
8.000 vụ ly hôn là nguyên nhân do bạo lực gia đình. Cũng theo số liệu thống kê của bệnh
viện, hơn 10% điều trị y khoa nghiêm trọng hàng năm do bạo lực gia đình. Đối với tỉnh
Quảng Nam, hàng năm có trên 40% số vụ ly hôn mang yếu tố bạo lực gia đình, liên quan đến
bạo lực về thể xác, về tinh thần và chiếm số lượng lớn ( xấp xỉ 46% ) gồm cả yếu tố bạo lục
tinh thần và thể xác. Nhiều phụ nữ nhập viện, thương tích, chấn thương do hậu quả của nạn
bạo hành gia đình, có cả trường hợp nạn nhân được điều trị tại bệnh viện còn nhận cả những
Nhiễm,1993)
Quan điểm cơ sở của bạo lực phụ thuộc vào sự phát triển về khí chất của từng cá
nhân, những người theo quan điểm này cho rằng cơ sở của bạo lực là do cấu tạo hệ thần kinh
(do sự mất cân bằng của hệ thần kinh nên xuất hiên hành vi bạo lực), là yếu tố tự nhên mà
mỗi cá nhân phải chịu trach nhiệm. Quan điểm này đã tuyệt đối hóa các yếu tố bẩm sinh mà
coi nhẹ các yếu tố xã hội.
Quan điểm khác trái ngược là quy cơ sở của hành vi bạo lực là do các yếu tố từ phía
xã hội hay các điều kiện khách quan( điều kiện sống, môi trường sống của cá nhân…)
Các nhóm nguyên nhân của BLGĐ:
Yếu tố nhận thức:
Sự thiếu hiểu biết của phụ nữ và nam giới về những quyền của phụ nữ: quyền bình
đẳng giới đă được thừa nhận trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam.
Từng chứng kiến cảnh BLGĐ khi còn là một đứa trẻ hoặc từng là nạn nhân của
BLGĐ khi còn là một đứa trẻ. Điều này thường làm hình thành nên ở nam giới thói quen nhìn
nhận BLGĐ như là một sự cần thiết để giải quyết những mâu thuẫn trong gia đình.
Ảnh hưởng của nền văn hóa phong kiến với những quan niệm mang đậm màu sắc
định kiến về giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã thấm vào tiềm thức của các thế hệ và hiện
nay tàn dư của nó vẫn còn tồn tại và được „oil à một trong những nguyên nhân cơ bản nhất
của BLGĐ. Đó là những quan niệm như : nam ngoại, nữ nội, chồng chúa vợ tôi, nhất nam
viết hữu thập nữ thập viết vô… Những quan niệm này đã khiến ho người nam giới cho rằng
họ có vai trò trụ cột trong gia đình, có toàn quyền chỉ huy, có quyền định đoạt mọi việc trong
gia đình, thậm chí có quyền “dạy vợ” nếu vợ làm trái ý mình, còn vai trò của người phụ nữ là
người “tề gia nội trợ” có trách nhiêm chăm lo đến gia đình, con cái người vợ phải hoàn toàn
phục tùng chồng, phải nuôi dạy con cái. Sự tồn tại của những quan niệm bất bình đẳng giới
này đã khiến cho nhiều người phụ nữ rất khó dứt bỏ hay tố cáo chồng mình vì sợ mang tiếng
“xấu chàng hổ ai” mà phải nhẫn nhục chịu đựng.
Cộng đồng, xã hội vẫn coi BLGĐ là chuyện thông thường, chuyện riêng của mỗi gia
đình “ đèn nhà ai nhà nấy rạng” . Sự can thiệp của cộng đồng làng xóm chỉ mang tính chất
nhất thời. Dư luận xã hội vẫn chưa nhận thức lên án mạnh mẽ vấn đề BLGĐ như một tội ác,
vi phạm quyền phụ nữ.
dưỡng thiệt hại cho vợ là điều khó thực hiện, việc phạt hành chính trong lĩnh vục hôn nhân và
gia đình tỏ ra không phù hợp.
Các quan niệm truyền thống về sự bất bình đẳng giới chi phối một cách đáng kể phản
ứng và hành động tập thể chống lại BLGĐ không chỉ của cộng đồng dân cư rộng lớn mà còn
của cả các thế hệ, chính quyền và các đoàn thể. Chính quyền và các cơ quan pháp luật vẫn coi
BLGĐ chỉ là việc riêng tư của mỗi gia đình. Tòa án và chính quyền chỉ hòa giải và pháp luật
chỉ can thiệp khi BLGĐ gây ra những tổn thương nghiêm trọng cho phụ nữ. Trong khi Luật
pháp và dư luận lên án mạnh mẽ hành vi hiếp dâm, giết hại phụ nữ, buôn bán phụ nữ thì
BLGĐ cho đến nay vẫn còn bị coi nhẹ.
Sự thiếu nhạy cảm về giới và sự hạn chế về hiểu biết pháp luật của đoàn thể xã hội đã
dẫn đến kết quả là người phụ nữ - nạn nhân không tìm thấy sự ủng hộ hiệu quả khi họ bị bạo
lực. Điều này làm cho các phản ứng chống lại bạo lực của phụ nữ càng trở nên đơn lẻ và yếu
đuối.
Trong tất cả các yếu tố trên, yếu tố được coi là nguyên nhân gốc rễ và là yếu tố căn
bản nhất gây ra nạn BLGĐ đối với phụ nữ là yếu tố nhận thức. BLGĐ đối với phụ nữ chính
là một biểu hiện của sự bất bình đẳng giới trong gia đình, là sản phẩm của chế độ gia trưởng.
Các yếu tố khác nhau như tệ nạn xã hội, kinh tế, mâu thuẫn gia đình hay sự tham gia mờ nhạt
của chính quyền thực chất chỉ là yếu tố làm gia tăng nguy cơ của BLGĐ đối với phụ nữ.
Chính vì vậy để giải quyết được triệt để BLGĐ đối với phụ nữ, chúng ta cần phải giải quyết
yếu tố nhận thức của nam giới, phụ nữ và của cả cộng đồng.
Một số quan điểm khác của thuyết xung đột có liên quan đến vấn đề này được dựa
trên vấn đề bất bình đẳng giới. Một số nhà theo thuyết bình quyền cho rằng nơi nào bất bình
đẳng giới tồn tại thì nơi đó có một hệ thống xã hội gia trưởng bởi nó điều chỉnh và chấp nhận
tình trạng BLGĐ như là một trong rất nhiều hình thức của việc nô dịch hóa phụ nữ trước nam
giới. Về phần cơ bản nam giới thường bảo vệ nguồn lực vượt trội của mình trước những
người yếu thế hơn và rất nhiều nguồn lực trong số đó đã chỉ ra rằng người phụ nữ “ nên an
phận ở vị trí của mình”.
Những con số của các cuộc điều tra có thể chứng minh được tình trạng BLGĐ trở nên bức
xúc hơn:
Ở Việt Nam: Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới năm 1999, ở một số tninhr trung
thể hạn chế đi vấn nạn của xã hội.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây dù được hạn chế nhưng nạn BLGĐ vẫn chưa
đựơc ngăn chặn.Nó vẫn là một vấn đề đau đầu của xã hội, sự mâu thuẫn giữa gia đình và xã
hội rất khó giải quyết.Đáng chú ý hơn là khi xã hội phát triển một cách tiến bộ nhưng ở các
gia đình đặc biệt là các gia đình gia trưởng vẫn còn những quy tắc khó có thể được thuyết
phục, xã hội hóa nó đi được, nên rất bất tiện trong lĩnh vực này.
Nhà nước đã có sự quan tâm hơn đối với vấn đề bạo lực trong gia đình:
Trước những hậu quả để lại khá nghiêm trọng của nạn bạo hành thì năm 2007, nhà
nước ta đã ban hành Luật phòng, chống BLGĐ đó là Luật số 02/2007/QH 12 của Quốc hội
lần này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2008. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành Luật này, Luật này đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII, kì họp
thứ 2 thông ngày 21/11/2007, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã kí. Trong Luật này
gồm 6 chương 46 điều, quy định phòng ngừa BLGĐ, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân BLGĐ; trách
nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan , tổ chức trong phòng, chống BLGĐ và xử lý vi phạm
pháp luật về phòng, chống BLGĐ. Nghị định quy định xử phạt hành chính trong BLGĐ được
ban hành. Theo đó, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống BLGĐ
sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100000 đồng đến mức cao nhất là 30 triệu đồng.
Ngoài ra còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như tịch thu tang vật, tước chứng chỉ hành
nghề,…Và thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Nghị định được đưa vào trong giáo dục
nếp sống, sinh hoạt gia đình, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng gắn với phương
châm giáo dục đối với các tác nhân chính trong hành vi BLGĐ là người chồng “ mình là đàn
ông mình chống BLGĐ”. Biện pháp này đã mang lại hiệu quả thiết thực, giúp cho các tác
nhân chính trong BLGĐ hành xử ngày càng văn hóa với gia đình, cộng đồng và xã hội.
Một bài báo về dân số, số ra vào thứ 2, 27/08/2012,10:06 (GMT+7 ) về vấn đề “ ứng phó
với bạo lực”
Giadinh.net.Bộ văn hóa, thể thao & du lịch phối hợp với quỹ dân số Liên Hợp Quốc
( UNFPA) tổ chức Hội thảo khởi động và kí kết dự án “xây dựng ứng phó quốc giia đối với
bạo lực gia đình” ngày 24/08 tại Hà Nội.
Dự án có tổng kinh phí dự kiến là 1.846000USD hướng tới mục tiêu giải quyết bạo
lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới Việt Nam.
phòng, chống bạo lực với phụ nữ, cũng như bảo vệ, tôn trọng phụ nữ. Nhiệm vụ cuối cùng là
phải xem vấn đề BLGĐ với một tầm nhìn rộng hơn là giải quyết các hình thức bạo lực khác
trên cơ sở giới như quấy rối tình dục, bạo lực phụ nữ ở nơi làm việc, hoặc bạo lực với trẻ em
gái ở nơi trường học.
“Liên Hợp Quốc tại Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trơ đất nước để đảm bảo phát triển cân
bằng, công bằng, bền vững và không một ai bị bỏ lại phía sau quá trình phát triển, bao gồm
cả các nhóm dân số dể bị tổn thương nhất, thiệt thòi nhất. Đầu tư cho dân số và bình đẳng
giới là đầu tư cho một tương lai tốt đẹp hơn cho Việt Nam. Bạo lực đối với phụ nữ, dù baats
kể hình thức nào, bối cảnh hay hoàn cảnh nào đều không thể khoan dung,không có ngoại lệ,
không cáo lỗi và không trì hoãn”
Bà Mandeep K.O’Brien
(Quyền trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam)
Từ những công trình nghiên cứu và được sự quan tâm của rất nhiều các tổ chức trong và và
ngoài nước cùng chung tay vào vấn đề BLGĐ, thì có thể trong một thời gian không xa nạn
BLGĐ sẽ có sự thay đổi vượt bậc, theo xu hương tích cực hơn, tiến bộ hơn ở tất cả các vùng
trên cả nước mà đặc biệt là gia đình- một tế bào của xã hội nay. Sự bức xúc của vấn đề này
thật đáng quan tâm, ai tìm hiểu thì sẽ biết nó như thế nào, chưa nói đến người mà trực tiếp là
nạn nhân của tình trạng của BLGĐ.Qua những nghiên cứu thì ta sẽ thấy rõ hơn, phát triễn về
mọi mặt, vấn đề ngày càng có tính thuyết phục hơn trong tương lai.
Khi tìm hiểu phân tích về chủ đề lựa chọn của mình là tình trạng BLGĐ thì ta mới có
thể hiểu rõ hơn đây là một vấn đề không dể một sớm một chiều có thể giai quyết được, thật
thương tâm cho những số phận ở trong cuộc- nạn nhân của nạn BLGĐ. Họ cũng là một con
người sao họ lại phải chịu cảnh đời như vậy, đúng là “mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh”,
cuộc sống của mỗi gia đình không giống nhau, ai cũng có quyền sống, quyền được bình đẳng,
ai cũng có quyền được hưởng hạnh phúc của riêng mình. Trong xã hội ngày nay đã có những
tiến bộ hơn, cuộc sống cơm no áo ấm, gia đình hòa thuận, con cái giỏi giang, nhưng xen kẽ
trong xã hội đó cũng có những gia đình tồn tại bên trong đó là những tiếng khóc than, kêu
cứu từ những trận đòn của kẻ hành hung, người mà chỉ biết lấy người khác ra để mà xả những
bực dọc trong mình. Thật không thể chấp nhận được.
3. Kết Luận