giáo dục trong sự di động của xã hội - Pdf 24

TIỂU
LUẬN
GIÁO DỤC TRONG SỰ DI ĐỘNG CỦA XÃ
HỘI
Ba
ø
i

ta
ä
p:
* * * * * * *
X
A
Õ

H
O
Ä
I

H
O
Ï
C
* * * * * * *
GVHD: PGS.TS
L
E
Â



TH
Ò

H
A
Ï
NH

TH
A
Û
O
MỤC
LỤC
A MỞ ĐẦU
2
B NỘI DUNG
2
I TÍNH DI ĐỘNG CỦA XÃ HỘI
2
II VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC TRONG SỰ DI ĐỘNG CỦA

HỘI
7
III XÃ HỘI HỌC TẬP- VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THỜI ĐẠI
11
CTHỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC
19
GIÁO DỤC Ở VIỆT

nhân đó.
Mỗi xã hội có những phương cách khác nhau trong việc sở hữu các tư liệu sản
xuất và các tư liệu này chi phối quá trình tái sản xuất, và đào tạo các thế hệ kế
tiếp. Những bất bình đẳng chỉ trở thành phân tầng xã hội khi các cá nhân được
sắp xếp theo các vị trí cao thấp theo những thuộc tính của mình như lợi tức, của
cải, quyền hành, uy tín, tuồi tác, tôn giáo, dân tộc …
Như vậy :Khái niệm phân tầng xã hội ( Social Stratification) ám chỉ những
phương thức mà xã hội sắp xếp các thành viên của mình trên cơ sở sự giàu
có, quyền lực hay uy tín xã hội.
• Hệ thống phân tầng xã hội thường được biện minh bởi hệ ý thức, như hệ
ý thức Mac xít, hệ ý thức tư bản, hệ ý thức Balamôn …
Thí dụ: - Tư tưởng nho giáo trước đây cũng nhấn mạnh việc mọi người phải
chấp nhận và làm tròn vai trò của mình ( quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.
Hay tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử).
- Triết lý bà la môn cũng chỉ là một triết thuyết biện minh cho hệ thống
đẳng cấp ở An Độ. Tôn giáo như vậy cũng thường hợp thức hóa các hệ
thống phân tầng xã hội.
Các định chế xã hội, như định chế giáo dục, chuẩn bị cho con người chấp
nhận các vị trí của mình trong xã hội. Nhưng tại sao con người, kể cả những
người ở tận đáy xã hội, lại phải chấp nhận vị trí của mình trong xã hội? Bởi vì
họ không còn chọn lựa nào khác, họ không có cơ hội, phương tiện kinh tế cũng
như chính trị để thay đổi cuộc sống của mình. Họ cũng có thể nổi loạn để chống
lại sự bất công. Nhưng một trong các lý do khiến họ chấp nhận vị trí của mình
chính là sự phân tầng xã hội cũng là một bộ phận hữu cơ trong nền văn hóa
của họ và nền văn hóa này đã ăn sâu trong nếp nghĩ của họ.
Nói cách khác con người chấp nhận vị trí của mình trong một phân tầng xã hội
chính bởi vì hệ thống đó được củng cố bởi những giá trị tiềm tàng trong nền văn
hóa của họ. Những khía cạnh của văn hóa biện minh cho hệ thống phân tầng
xã hội đã được học hỏi trong quá trình xã hội hóa. Trong một ý nghĩa nào đó,
xã hội phong kiến, qua những câu tục ngữ như: “ Đói cho sạch, rách cho

sĩ)
- Kshatriya ( Chiến
sĩ)
- Vaisay ( nông dân và thương
nhân)
- Sudra ( đầy tớ và thợ thủ
công)
- Ngoài ra còn có những người hoàn toàn bị gạt ra ngoài xã hội, “ những
người không được đụng đến”.
Phương cách mà con người tập hợp lại tùy theo mức độ họ có thể sử dụng được
các tài nguyên hiếm hoi xác định những cơ hội sinh tồn ( life chances) của họ,
nghĩa là những cơ hội có thể có được hay sẽ bị từ chối suốt cuộc đời do vị trí xã
hội của họ.
• Ngược lại, những xã hội mở rộng ( open societies), là những xã hội trong đó
con người có thể dễ dàng vượt qua giữa những tầng lớp. Đặc điểm phân
tầng của các xã hội mở rộng là giai cấp. Giai cấp là những tầng lớp xã hội
chủ yếu dựa trên những tiêu chuẩn kinh tế, như vị trí trong hệ thống sản
xuất, nghề nghiệp, lợi tức, tài sản… Giai cấp của các xã hội không đồng
nhất, trong bất kỳ một giai cấp nào đều có các nhóm khác nhau tùy theo mức
độ uy tín mà họ nhận được từ xã hội nói chung. Những nhóm như vậy thường
được gọi là nhóm địa vị ( status group). Như trong xã hội người Mỹ,
những người giàu da trắng, theo đạo Tin Lành, gốc Anglo – saxon được
trọng vọng nhất trong tầng lớp những người giàu ở Mỹ.
Việc di chuyển cá nhân từ tầng lớp xã hội này sang tầng lớp xã hội khác
được gọi là di động xã hội
Sự di động này có thể là sự di động đi lên ( upwardly mobile). Như trong trường
hợp khi một gia đình giàu lên và bắt đầu sở hữu các phương tiện sản xuất và
sinh họat của tầng lớp trên. Và ngược lại là di động đi xuống (downwardly
mobile).
Mỗi tầng lớp xã hội đều có lối sống riêng ( life – styles), có những ngành nghề

gian ( Spatical mobility) là việc di chuyển các cá nhân và các tập thể từ địa
phương này đến địa phương khác, đặc biệt là đến các thành thị. Hiện tượng này
do việc giảm vai trò của nông thôn và sự gia tăng tầm quan trọng của các
định chế tập trung ở thành thị, như các thị trường, các công ty các cơ quan
nhà nước. Nơi cư trú và nơi làm việc dần tách rời nhau, làm cho tình cảm của
cá nhân đối với cộng đồng địa phương cũng giảm đi.
Khi nghiên cứu sự di động xã hội ta phải phân biệt rõ di động cơ cấu và di động
xã hội thực ( mobilité nette). Như vậy: Di động cơ cấu là do tác động của tiến
bộ kỹ thuật lên cấu trúc nghề nghiệp xã hội, trong khi di động xã hội thực là
chuyển đổi nghề nghiệp thực sự do sự lựa chọn cá nhân.
Ta cũng phân biệt di động xã hội trong từng thế hệ, di động xã hội liên thế hệ.
Di động nội thế hệ đó là các cơ hội mà một cá nhân có thể đi lên hay rơi xuống
một tầng lớp xã hội khác trong quảng đời của mình. Còn di động liên thế hệ
thường được đo lường bằng cách so sánh địa vị trong giai cấp xã hội của hai thế
hệ cha và con ( cũng có khi cả ba thế hệ: Ông nội, cha, con).
Nước Di động xã hội đi lên Di động xã hội đi xuống
CHLB Đức (cũ) 29% 32%
Thụy Điển 31% 24%
Mỹ 33% 26%
Nhật 36% 22%
Pháp 39% 20%
Thụy Sĩ 45% 13%
Di động liên thế hệ tại 6 nước công nghiệp
( nguồn: S. M. Lipet, R. Bendix, Social mobility in industrial society,
Berkeley, Uni of California Press, 1967).
Phạm trù xã hội
nghềnghiệp của người cha
Phạm trù xã hội, nghề nghiệp của người con
g.c
thống trị

giai cấp cán bộ của cha biến thiên từ 59,4% xuống 35,0% và nguy cơ rớt xuống
giai cấp thợ thuyền từ 2,7% lên 11%.
II. VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC TRONG SỰ DI ĐỘNG CỦA XÃ HỘI.
Giáo dục được định nghĩa là những cách khác nhau trong đó kiến thức – kề cả
thông tin và kỹ năng thực tế cũng như quy phạm và giá trị văn hóa được truyền
đạt đến từng thành viên trong xã hội. Một quá trình giáo dục mở rộng là giáo
dục học đường – sự dạy bảo chính thức dưới sự hướng dẫn của thầy cô được
đào tạo chuyên môn.
Trong suốt chiều dài lịch sử, xã hội loài người dựa việc săn bắn và hái lượm thô
sơ. Trong những xã hội như thế gia đình là thể chế xã hội trung tâm, cũng như
không có hệ thống giáo dục ở trường chính quy. Kiến thức và kỹ năng cần thiết
trong đời sống khi trưởng thành do thành viên gia đình dạy cho trẻ.
Trong xã hội nông nghiệp có công nghệ tiên tiến hơn – vốn phổ biến trong
nhiều bộ phận trên thế giới ngày nay – người tham gia vào một dải rộng gồm
các ngành nghề chuyên môn hóa. Trong mỗi trường hợp, những người hành
nghề có kinh nghiệm truyền đạt kỹ năng cho người mới vào nghề. Nhưng giáo
dục ở trường không liên kết trực tiếp với thế giới công việc thường dành cho
người giàu: từ trường học trong tiếng Anh thực ra lấy từ tiếng Hy Lạp có nghĩa
là “tiêu khiển”. Ở Hy lạp cổ đại, những thầy giáo nổi tiếng như: Socractes,
Plato, Aristotle dạy triết học và khoa học cho nam giới quý tộc. Triết gia Trung
Quốc nổi tiếng khổng tử cũng là thầy dạy cho một vài người có đặt quyền
Trong thời trung cổ, nhà thờ cung cấp nền giáo dục ở trường cho một bộ phận
dân số đông hơn, và hình thành trong những trường cao đẳng và đại học đầu
tiên. Nhưng giáo dục ở trường phần lớn còn là đặc quyền của phấn tử ưu tú
đang cầm quyền ở Tây Âu và Bắc Mỹ cho đến khi cách mạng công nghiệp.
Nước Mỹ là quốc gia đầu tiên áp dụng nguyên tắc giáo dục phổ cập. Có lẽ quan
trọng hơn, kinh tế nước Mỹ công nghiệp hóa cần đến lực lượng lao động có ít
nhất những kỹ năng biết đọc, biết viết cơ bản, và biết làm một ít số học. Sự phát
triển bộ máy quan liêu tiếp theo sau ở Mỹ và các xã hội công nghiệp khác báo
hiệu sự ra đời của một nền kinh tế đựa trên công việc giấy tờ cũng như máy

quan đến sinh kế, do trường chỉ gồm những người có nền tảng đặc quyền như
nhau. Khi cuộc cách mạng cần một lực lượng lao động có văn hóa, thì giáo dục
ở trường càng thu nhận nhiều học sinh hơn. Tương tư sự phân biệt xã hội truyền
thống tiếp tục định hình giáo dục ở Anh. Nhiều gia đình có gửi con em của
mình đến các trường công – những trường công này đều nằm ngoài khả năng tài
chính của hầu hết các gia đình Anh, nó chỉ dành chophần tử ưu tú có chức năng
quan trọng, xã hội hóa con em thuộc gia đình thuộc gia đình giàu có theo cách
khá biệt. Các học sinh được học mẫu lời ăn tiếng nói, thái độ hành xử, và chủng
tộc xã hội phân biệt thành viên thuộc giai cấp thượng lưu với số học sinh khác.
Cuối năm 1950, học vấn đại học bị hạn chế ở một số phần tử ở Anh. Nhưng
trong thập niên 60, 70, người Anh phát triển rộng hệ thống đại học trong nước.
Thế nhưng, ngay trình độ đại học, nền tảng xã hội tỏ ra quan trọng: Số lượng
học sinh khá giả ghi danh ở Oxford và Cambridge, vốn là những trường đại học
có uy tính nhất nước Anh, không có gì phải ngạc nhiên, sinh viên tốt nghiệp
Oxford và Cambridge rất có thể đảm đương vị trí đầy thế lực trong kinh
doanh và chính phủ, thực tế 17 trong số 21 thành viên của nội các ban đầu do
thủ tướng Margaret Thatcher thành lập đều là sinh viên tốt nghiệp trường
Oxford và Cambridge.
Giáo dục học đường ở Nhật: Giáo dục nhà trường ở Nhật phản ánh giá trị
văn hóa vững chắc của tình đoàn kết tập thể. Ở cấp lớp thấp, học sinh được
đối xử như một tập thể trong đó sự ganh đua bị ngăn cản. Giáo dục ở trường
cũng nhấn mạnh sự kính trong người già và những người khác có chức quyền.
Ở Nhật, điểm số trắc nghiệm thường tạo ra hay bẻ gãy khác vọng vào đại học
của thanh niên, giàu cũng như nghèo. Vì thế các học sinh đối mặt với các kỳ thi
này với sự tập trung rất cao độ, bố mẹ thường bỏ tiền ra cho con học tư để bổ
sung thêm chương trình học. Bất chấp sự chỉ trích vì áp lực không thể chịu nổi
áp đặt cho thanh niên, hệ thống giáo dục Nhật tạo ra kết quả ấn tượng, trong
nhiều lĩnh vực học thuật – hầu hết nổi tiếng ở môn toán và khoa học – sinh viên
Nhật đều hơn hẳn sinh viên trong tất cả các xã hội công nghiệp khác. Rõ ràng,
truyền thống văn hóa Nhật, liên kết với hệ thống thi cử đòi hỏi trình độ cao mới

tiên ban hành luật giáo dục cưỡng bách và từ lâu có một tỷ lệ số người vào học
các trường cao đẳng và đại học nhiều hơn các xã hội công nghiệp khác. Giáo
dục chính quy ở Mỹ liên kết với giá trị cơ hội bình đẳng văn hóa. Giá trị văn
hóa thực dụng của Mỹ đã định hình giáo dục chính quy ở Mỹ, giáo dục ở
trường có khuynh hướng nhấn mạnh những môn học trực tiếp liên quan đến
sinh họat của con người, nhất là liên quan đến nghề nghiệp của mình . Phản ánh
sự nhấn mạnh thực dụng này trong giáo dục Mỹ, sinh viên thường có khuynh
hướng chọn ngành học sau này có việc làm đáng giá.
trang 12
Ho
ï
c

v
i
e
â
n

t
h
ö
ï
c

hi
e
ä
n
:

thiểu số. Ngoài ra người Mỹ khá giả có nhiều cơ hội học vấn hơn người nghèo.
Vấn đề đặt ra khi nền kinh tế công nghiệp đang từng bước thay bằng nền kinh
tế tri thức, khi xã hội công nghiệp tiến sang xã hội hậu công nghiêp, sự phân
hóa xã hội , phân hóa giàu nghèo đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng
tăng, trong đó, những khoảng cách về tri thức giữa người này với người kia,
giữa cộng đồng này với cộng đồng khác là điều quan trọng nhất.
1. Vậy giáo dục có vai trò như thế nào trong sự khắc phục bất bình
đẳng của xã hội?
Theo Jacques Delors, chủ tịch ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỹ XIX viết: “
giáo dục phải đối mặt với vấn đề này hơn bao giờ hết, trong triển vọng một xã
hội toàn cầu ra đời một cách khó khăn: giáo dục đứng ở trung tâm của sự
phát triển vừa của con người, vừa của cộng đồng. Giáo dục có sứ mạng giúp
cho mọi người, không trừ một ai, được phát huy tất cả mọi tài năng và mọi
tiềm lực sáng tạo, bao gồm cả tinh thần trách nhiệm đối với đời sống của bản
thân và việc đạt được những mục đích cá nhân”.
• Đó là nền giáo dục thể hiện được tính mềm dẻo, đa dạng và khả thi trong thời
gian khác nhau và địa điểm khác nhau. Giáo dục trở thành một quá trình
liên tục về sự hình thành con người toàn diện, cả tri thức và cả những khả
năng của họ, bao gồm khả năng phán đoán trong tư duy giúp cho con người
hiểu về mình, hiểu về người khác, hiểu môi trường xung quanh để thực hiện
tốt vai trò và nghĩa vụ trong lao động sản xuất và trong đời sống xã hội.
• Đó là một nền giáo dục tạo ra được những cơ hội học tập cho mọi người và
mỗi cộng đồng có nhu cầu nắm bắt thông tin và tri thức, làm chủ các công
nghệ mới có ý nghĩa phát triển với họ. Những cơ hội học tập đó thể
hiện 2 phương thức học tập: Học có hệ thống để làm giàu tri thức một cách
toàn diện và học theo yêu cầu cần gì học nấy.
• Nền giáo dục hiện đại nói trên giữ nguyên tắc hết sức coi trọng giáo dục cơ
sở, tận lực phát triển giáo dục trung học và đại chúng hóa giáo dục đại học.
Ngày nay, giáo dục cơ sở có nhiệm vụ chăm lo việc học cho gần 100 triệu
người lớn mù chữ, cho trên 130 triệu trẻ em chưa được đến trường và 100

2. Quan niệm chung của thế giới về học tập suốt
đời :
Học tập suốt đời là quan điểm mới về giáo dục, hiểu đó là quá trình học từ lúc
tuổi thơ, qua giáo dục ban đầu rồi tiếp tục học suốt đời. Trong xã hội, các cánh
cửa học tập đang mở rộng, và không bao giờ khép lại với bất cứ ai muốn học.
• Để con người học tập suốt đời, trong xã hội phải có hai hệ thống trường học:
Hệ thống giáo dục nhà trường và hệ thống giáo dục ngoài nhà trường
• Giáo dục người lớn có vị trí rất quan trọng trong xã hội bởi thời gian,
không gian, hình thức tổ chức, cách thức học tập đa dạng và mềm dẻo
hơn nhiều so với thế hệ trẻ. Hiện nay, Thụy Điển và Nhật Bản tỷ lệ dân
tham gia giáo dục người lớn khoảng 50% số dân. Giáo dục người lớn là một
xu thế mạnh mẽ và lâu dài, do đó, nền giáo dục phải định hướng vào xã hội
học tập
Để xây dựng chiến lược học tập suốt đời, nhiều quốc gia thường chú ý đến
những hành động ưu tiên sau:
• Đánh giá việc học tập chính quy và không chính quy, thừa nhận các loại
chứng chỉ, bằng cấp ( tức là đánh giá sức học của con người).
• Tăng cường các dịch vụ thông tin.
• Hướng dẫn và tư vấn học tập.
• Đầu tư tài chính và thời gian học tập ( chú ý đầu tư của tư nhân).
• Gắn người học vào việc học.
• Cải cách giáo dục.
3. Xây dựng xã hội học tập ở một số nước trên thế
giới.
3. 1 Nước Mỹ: Ngày 4/2/1997, Bill Clinton, nói đến hiện đại hóa nền giáo dục
và mục tiêu học tập suốt đời và đề cao việc học để đạt trình độ học vấn cao,
mở rộng biên giới của việc học suốt đời để người Mỹ ở độ tuổi nào cũng có
cơ hội học tập, Clinton chủ trương mở rộng các cửa trường đại học cho tất
cả người Mỹ, yêu cầu khấu trừ thuế lên tới 10.000 USD/ năm cho toàn bộ
học phí ở cao đẳng và đại học đề mọi gia đình không phải đóng thuế đối với

thời đề cao sự năng động, sáng tạo của mọi cá nhân. Mặt khác, Eu cho rằng,
phải hợp lý hóa công tác giáo dục và đào tạo để tạo thật nhiều cơ hội học tập
cho mọi người.
EU quan niệm rằng, chính quyền có trách nhiệm chính đối với chiến lược học
tập suốt đời. Trách nhiệm đó thể hiện ở những điểm sau:
- Cung ứng các nguồn lực cần thiết để mọi người được hưởng thụ nền giáo dục
– đào tạo phổ cập.
- Tạo ra cho mỗi người những kỹ năng cơ bản khi ra trường vá các cơ hội
tiếp tục học lên.
- Mọi cấp chính quyền phải đi đầu trong việc triển khai chiến lược học tập
suốt
đời.
- Bảo đảm cho mọi công dân được tiếp cận với những cơ hội thu thập, cập
nhật thông tin và có năng lực cạnh tranh nhờ có sự hỗ trợ của các dịch vụ.
- Có những biện pháp khích lệ những người chưa được tuyển dụng sẽ tiếp tục
đi học.
- Chính quyền trung ương hợp tác với các quốc gia và các địa phương
trong việc thúc đẩy học tập suốt đời.
Để tạo ra một Châu Au học tập suốt đời, EU đề ra các biện pháp cơ bản sau:
• Thông báo các mục tiêu tương lai của hệ thống giáo dục và đào tạo của các
nước trong liên minh Châu Au.
• Đưa ra chiến lược tuyển dụng toàn Châu Au, tập trung vào thị trường lao
động.
• Xây dựng chương trình xã hội hóa giáo dục ở Châu Au, Tăng cường các
mối liên kết xã hội để giảm bất công về giáo dục.
• Đưa ra kế họach hành động kỹ năng và năng động, đảm bảo mở rộng thị
trường vào năm 2005.
• Xây dựng mạng điện tử Châu Au để mọi người dân được học tập qua
mạng.
• Xuất bản sách nói rõ chính sách đào tạo, tuyển dụng và những đặc quyền xã

sản xuất;
• Hơn 400 nghề được dạy tại cơ sở sản xuất với số tiền đầu tư cho đào tạo là
15 tỷ USD/năm.
Hơn ai hết, người Đức coi giáo dục là yếu tố đầu vào của sản xuất, đào tạo
chất lượng cao cho thanh niên, là bộ phận không tách rời của cuộc sống kinh
tế ở nước Đức.
3.4 Hàn
quốc.
Học tập để làm chủ công nghệ cao, để trở thành một cường quốc là tư tưởng
xuyên suốt, chi phối quá trình xây dựng xã hội học tập.
Ba mươi năm về trước, thế giới coi Hàn Quốc là đất nước của những nông
dân nghèo khổ. Hàn quốc đã nói rõ tư tưởng chiến lược của mình:” Chúng tôi
không có tài nguyên thiên nhiên. Công nghệ là chuyện sống còn của chúng
tôi”.
Hàn Quốc đầu tư vào giáo dục ngay từ khi họ còn quá nghèo (GDP khoảng 68
USD/ người/ năm). Họ quyết tâm để thanh niên từ 17 – 18 tuồi được học hết
trung học. Điều này gần như hoàn thành vào năm 1985. Ở thời điểm đó , số học
sinh của họ được họ trung học hơn hẳn Anh và Pháp và cũng từ đó số thanh
niên Hàn Quốc được học Đại học hơn hẳn nước Anh.
Để thanh niên được học đại học một cách rộng rãi, Hàn Quốc mở rộng hệ thống
giáo dục bậc học này sang tư nhân. 4/5 số trường đại học ở Hàn Quốc thuộc
quyền sở hữu của các công ty như : Hyundai, computer Daewo, Video
Samsung. Hiện hàng quốc đang đi hàng đầu tiến vào kỷ nguyên thông tin.
Cuối XX, 1/3 hàng xuất khẩu của Hàn Quốc là những mặt hàng mang hàm
lượng công nghệ cao.
Cách tiếp cận xã hội học tâp của Hàn Quốc. Để đảm bảo mọi trẻ em nghèo được
đi học, tức là trẻ em các gia đình khó khăn về tài chính hoặc thiếu những người
trụ cột về kinh tế, các trường đại học ở Hàn Quốc đã tổ chức các đoàn tình
nguyện giúp đỡ dài hạn nhằm làm cho các em bé đó trưởng thành trong môi
trường lành mạnh. Sinh viên có thể nhận học sinh nghèo làm em, giúp chúng

viên cùng với giấy báo nhập học.
- Không một đại học nào được quyền từ chối sinh viên nghèo. Nếu báo chí
phát hiện những vi phạm quy định này thì hiệu trưởng bị cách chức ngay lập
tức.
3.6 Vài thông tin về những cách làm giáo dục để đẩy mạnh xã hội học tập

một số nước.
a) CuBa:
Mặt dù có quá nhiều khó khăn nhưng đất nước này rất kiên trì miễn học phí cho
mọi bậc học. Năm học 2003 – 2004, ngoài các trường đại học, CuBa mở thêm
350 trường và khoa đại học ở tất cả các quận huyện trong cả nước, dể thu hút
thêm 70.000 người theo học, trong đó 38.000 thanh niên chưa có việc làm.
Những thanh niên này được cấp học bổng để theo học.
b. Thái Lan.
Đến năm 2000, Thái Lan đã đạt được chỉ tiêu:
- 90% trẻ 3 – 5 tuổi được học ở các lớp mẫu
giáo.
- 95% trẻ 12 – 14 tuổi được học ở bậc trung
học.
- 20% thanh niên dưới 24 tuổi vào học đại học, tăng tỷ lệ sinh viên lên
40%.
Thái Lan đã phát triển xã hội học tập của mình bằng nhiều giải pháp học tập của
người lớn như mở ra nhiều loại hình đào tạo nghề phi chính quy để đáp ứng nhu
cầu thị trường đa dạng, đa dạng hóa chương trình dạy nghề ngắn hạn, chương
trình đào tạo theo yêu cầu các nhóm dân cư ( về bất cứ lĩnh vực nào), chương
trình huấn luyện nghề lưu động ( để dạy các nghề phổ biến).
Sự phát triển giáo dục ở Thái Lan được mở rộng nhanh theo hướng kết hợp hài
hòa “ giữa yêu cầu tôn trọng các giá trị truyền thống ( đạo Phật, nhà Vua…) với
định hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động .
c. Malaysia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status