cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, đảng ta chủ trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là một hướng chiến lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta - Pdf 24

BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN XÃ HỘI HỌC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ.
Đề bài: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam có ghi :“Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng ta chủ
trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là một hướng chiến lược thể hiện
bản chất ưu việt của chế độ ta”. Bằng vốn kiến thức xã hội học và kinh nghiệm
thực tiễn, đồng chí hãy làm rõ cơ sở khoa học của luận điểm trên đây.
BÀI LÀM
Ngày nay, khả năng, trình độ tăng trưởng, phát triển kinh tế là điều kiện quyết
định sự tồn tại của một quốc gia trong xu hướng phát triển chung của thế giới. Xu thế
khách quan này bắt nguồn từ quy luật chung cho tất cả các quốc gia muốn thoát khỏi
nghèo nàn và lạc hậu đều đặt cho mình mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao,
lâu dài và bền vững. Song, cần phải xác định tăng trưởng, phát triển kinh tế là một
quá trình trong dài hạn, có những nội dung khác nhau nên mỗi quốc gia cần chọn cho
mình nội dung, hướng phát triển phù hợp với yêu cầu, điều kiện và phù hợp xu hướng
quốc tế. Trong đó, mục tiêu phát Triển Bền Vững ngày càng trở thành trung tâm của
sự phát triển trong mọi lĩnh vực khi xã hôi bước vào thế kỉ 21. Đối với một nước theo
chế độ XHCN như nước ta thì mục tiêu đó còn hết sức quan trọng và để đảm bảo mục
tiêu đó, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ “Cùng với đẩy mạnh phát triển
kinh tế, Đảng ta chủ trương giải quyết tốt các vấn đề XH, coi đây là một hướng chiến
lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta”. Giải quyết các vấn đề XH ở đây được
hiểu như giải quyết những vấn đề do đời sống KT-XH đặt ra nhằm phát triển toàn
diện con người và các mối quan hệ con người giữa các nhóm trong XH, tạo động lực
cho XH phát triển trong sự bền vững. Giải quyết các vấn đề XH không chỉ dừng lại ở
khẩu hiệu hành động chung chung mà phải là một hệ thống các chính sách XH do nhà
nước và các tổ chức XH đặt ra.
CSXH là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp
của nhà nước và các tổ chức chính trị - XH khác được thể chế hoá để giải quyết
những vấn đề XH nhằm bảo đảm sự an toàn và phát triển XH.
1
CSXH là chính sách đối với con người, tìm cách tác động vào các hệ thống quan
hệ XH (quan hệ các giai cấp, các tầng lớp XH, quan hệ các nhóm XH khác nhau) tác

“vấn đề XH”, cơ cấu XH không còn phù hợp và đặt ra nhiều vấn đề mà đòi hỏi mọi
người phải quan tâm giải quyết. Để đảm bảo XH phát triển trong sự ổn định nhất thiết
phải có CSXH hợp lý và giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ XH trên nhiều khía
cạnh và lĩnh vực khác nhau như: quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp XH, quan hệ
giữa các dân tộc trong cơ cấu XH – dân tộc đến hiện tượng diễn tiến XH: sự xuất
hiện, phát triển hay sự suy thoái của mỗi nhóm, tầng lớp người trong XH, sự mất cân
đối về phân bổ dân cư, sự biến chuyển về vai trò, vị trí của con người, nhóm cũng
như các quan hệ giữa các giai tầng, sự vận động và biến đổi của các loại hình nghề
nghiệp, với vấn đề lao động và việc làm của nguồn lao động Chính vì vậy, CSXH
có ảnh hưởng trực tiếp như một công cụ để khắc phục những phân hóa, mâu thuẫn và
khác biệt XH, để điều tiết các quan hệ XH nhằm phát huy khả năng của toàn XH vào
những mục tiêu chung. Nói cách khác, khi XH có “vấn đề XH” nảy sinh, tức là cơ
cấu XH của XH đó không còn phù hợp để thúc đẩy XH phát triển, khi đó, cần phải
điều chỉnh vào các phân hệ của cơ cấu XH bằng cách dùng các CSXH tác động vào
để cho XH được công bằng, tạo môi trường tích cực cho XH phát triển và từ đó
hướng tới hình thành cơ cấu XH mới phù hợp, tối ưu, đảm bảo cho XH tồn tạị và
phát triển trong sự ổn định .
Một CSXH hợp lý có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển XH phải luôn luôn phù
hợp với điều kiện kinh tế của quốc gia vào thời điểm đó, đảm bảo sự thống nhất giữa
các cơ sở XH với chính sách kinh tế tạo điều kiện để thực hiện tốt việc kết hợp giữa
tăng trưởng kinh tế với tiến bộ XH. Đề ra CSXH phải căn cứ vào trình độ phát triển
của kinh tế lúc bấy giờ, không nên quá cao và tất nhiên không được quá thấp để có
tính khả thi cao
CSXH còn có vai trò quan trọng bởi nó luôn hướng tới sự công bằng XH, do đó
tạo tính tích cực, năng động XH, làm cho XH phát triển bền vững. Tâm lý chung của
XH là không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng. Nhưng công bằng không có nghĩa là
cào bằng mà phải hiểu là có sự chênh lệch hợp lý: ai cống hiến nhiều, hy sinh nhiều
thì phải được hưởng lợi ích nhiều hơn. Vì vậy, công bằng ở đây là sự cân đối mặt
bằng giữa các chính sách, là giải quyết CSXH sao cho vấn đề lợi ích giữa các đối
3

điều chỉnh các quan hệ XH, xây dựng chuẩn mực XH và định hướng giá trị XH mới,
hướng vào cái thiện, cái tốt, đẩy lùi và hạn chế cái ác, cái xấu trong XH.
CSXH của Nhà nước là tạo ra những điều kiện và cơ hội thuận lợi để mọi người
phát triển hòa nhập vào cộng đồng, tuy vậy trong XH không ít người rơi vào hoàn
cảnh và điều kiện bất lợi, do đó họ thiếu điều kiện vào và cơ hội để phát triển. Do vậy
CSXH còn thể hiện trách nhiệm XH cao, hướng vào trợ giúp, tạo điều kiện cho mọi
người vươn lên hòa nhập vào cộng đồng, tạo nên một lưới an toàn XH. CSXH bao
giờ cũng quan tâm đến số phận của những con người cụ thể, quan tâm đến những cá
nhân sống trong những điều kiện thiệt thòi, khó khăn so với mặt bằng chung của XH
lúc bấy giờ. Tạo điều kiện cho những cá nhân đó phát huy những khả năng vốn có
của mình vươn lên hoà nhập với XH.
Tùy theo tiêu chí, ta có các loại chính sách XH khác nhau.
+ Xét ở tính phổ biến (gọi là chính sách XH phổ biến), có: chính sách dân số, chính
sách lao động và việc làm, chính sách bảo đảm XH (BHXH, cứu trợ XH, ưu đãi XH),
chính sách phòng chống tội phạm và tệ nạn XH.
+ Xét theo giai cấp, tầng lớp XH (chính sách XH với các giai tầng XH), có:
CSXH đối với giai cấp công nhân; CSXH đối với giai cấp nông dân; CSXH đối với
tầng lớp trí thức và sinh viên; CSXH đối với tầng lớp chủ doanh nghiệp tư nhân …
+ Xét theo giới đồng bào (CSXH đối với các giới đồng bào), có các chính sách đối
với thanh niên, phụ nữ và gia đình, các dân tộc thiểu số, tôn giáo, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài ….
+ Theo đối tượng, tính chất và phạm vi có các CSXH được tính đến, được lồng
ghép, được xây dựng trong khi hoạch định và thực hiện chính sách KT: CSXH cơ
bản, chung cho mọi đối tượng trong cộng đồng (chính sách giáo dục, y tế, bảo hiểm
…); CSXH cấp bách để tập trung giải quyết một số vấn đề XH gay cấn (chính sách
việc làm, xóa đói giảm nghèo …); CSXH cho một số đối tượng đặc biệt (người già cô
đơn, tàn tật ….).
5
Đối tượng cụ thể của chính sách xã hội là các tầng lớp nhân dân trong xã hội như:
công nhân, nông dân, thợ thủ công, sinh viên trí thức, nhà doanh nghiệp, trẻ em,

cấu XH cần quan tâm là: cơ cấu XH giai cấp, cơ cấu XH nghề nghiệp, cơ cấu XH
lãnh thổ, cơ cấu XH dân số, cơ cấu XH dân tộc, cơ cấu XH tôn giáo.
Để hoạch định CSXH phải nghiên cứu mối quan hệ giữa CSXH và chính sách
phát triển kinh tế. Đó chính là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện công
bằng và thúc đẩy tiến bộ XH. Một chính sách kinh tế đúng có thể làm tăng công bằng
ngay trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Công bằng XH được coi là hạt nhân của
CSXH, là cái đích, là mục tiêu của CSXH từng bước phải đạt tới. Tất nhiên, công
bằng XH ở đây được hiểu là thái độ ứng xử hợp lý trong điều hoà các quan hệ XH,
đặc biệt là sự công bằng trong phân phối của cải XH và điều hoà các lợi ích giữa các
nhóm ,các tầng lớp trong XH.Tức là sự ứng xử, phân xử giải quyết đúng với điều
kiện khách quan, không phải là sự ‘’cào bằng’’ lợi ích theo quan điểm bình quân chủ
nghĩa mà là có sự khác biệt hợp lý. Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để
thực hiện các mục tiêu XH. Chỉ có thực tốt chính sách kinh tế mới có thể nâng cao cơ
sở vật chất để thực CSXH.
Thực tế cho thấy CSXH tốt tác động rõ rệt đến việc thực hiện các mục tiêu kinh
tế, năng suất và chất lượng lao động. Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và CSXH
còn thể hiện ở chỗ xét đến cùng, CSXH không bao giờ có thể thoát ly được mức độ
và trình độ phát triển kinh tế mà XH đạt được. Song điều này còn phục thuộc vào bản
chất và chế độ chính trị-XH ,vào năng lực quản lý của nhà nước trong việc tạo điều
kiện kết hợp tối ưu sự phát triển kinh tế với việc thoả mãnngày càng cao sự phát triển
toàn diện của con người.
Tóm lại, CSXH và chính sách kinh tế là một thể thống nhất. Sự thống nhất đó
được xác định ở quan hệ hợp lý giữa chúng, mà ở đó sự kết hợp giữa chính sách kinh
tế và CSXH là tối ưu nhất, có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triểnvà tiến bộ XH.
Sự kết hợp đó dựa trên nguyên tắc; chính sách kinh tế phải tìm được động lực trong
XH và bão đảm ổn định XH; ngược lại ,CSXH phải thúc đẩy kinh tế phát triển và phù
hợp với điều kiện kinh tế cho phép.
7
Ngoài ra, khi đề ra chính sách xã hội phải căn cứ vào truyền thống lịch sử văn hóa
dân tộc bởi vì các mối quan hệ xã hội ít nhiều đều được xây dựng trên những mẫu

phát triển kinh tế XH. CSXH được nhận thức một cách toàn diện, phong phú trên cả
tầm vĩ mô và vi mô. Nhân tố con người và sắc thái cá nhân được coi trọng. Khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường, có một số vấn đề XH nổi lên rất gây gắt và bức
xúc cần phải có chính sách giải quyết, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả XH nghiêm
trọng, thậm chí gây mất ổn định về kinh tế, chính trị và an toàn XH.
Vấn đề lao động và việc làm: Giải quyết việc làm là một trong những CSXH cơ
bản của quốc gia và đây là một vấn đề bức xúc của XH nước ta hiện nay bởi hiện tại
tỷ lệ người thất nghiệp ở nước ta cao từ 9-12% lực lượng lao động, đây là số lao động
dư dôi trong quá trình tổ chức sắp xếp nền kinh tế thị trường. Hàng năm lại có thêm
một triệu người đến tuổi lao động, số người hợp tác lao động về nước tạo áp lực
không nhỏ trong việc giải quyết việc làm. Biện pháp tạo việc làm: khuyến kích các
thành phần kinh tế, phát triển, khuyến kích đầu tư phát triển sản xuất để tạo việc làm,
phát triển dịch vụ việc làm, phân bố lại dân cư và lao động trên cả nước, mở rộng
kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, còn ở nông thôn chú ý khôi phục mở
rộng ngành nghề truyền thống
Vấn đề xoá đói giảm nghèo: Hiện tượng phân tầng XH và phân hoá giàu nghèo
xuất hiện ngày càng gay gắt và phổ biến. Do khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn
kéo theo hàng loạt những vấn đề XH như: sự khác biệt về mức sống, lối sống, cách
sinh hoạt và tâm lý. Một bộ phận người giàu lên nhanh chống và cũng có một bộ
phận người trở nên quá nghèo, do thiên tai rủ ro, côi đơn không nơi nương tực Do
đó cách duy nhất để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo là xoá đói giảm nghèo, Nhà
nước đã và đang triển khai thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, động viên toàn
XH tham gia phong trào xoá đói giảm nghèo giúp những người khó khăn về vốn, vật
tư, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất đồng thời thực hiện chính sách phúc lợi XH, chính
sách thuế thu nhập để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo.
CSXH về hệ thống giáo dục, y tế: trong thời kỳ cơ chế thị trường, kinh phí đầu
tư cho giáo dục bị giảm nhiều nên giáo dục có nhiều khó khăn ở các cấp học, số
người đi học giảm vì một số con em gia đình nghèo khó không có điều kiện đi học,
9
hiện tượng thương mại hóa giáo dục đang có xu hướng gia tăng, chất lượng giáo dục

đấu đạt được mục tiêu đó, quá trình thực hiện phải tuân thủ các nguyên lý cơ bản và
quy luật khách quan của phát triển bền vững. Trong đó CSXH được xác định là động
lực phát triển và nói lên bản chất của XH ta. Áp dụng một “CSXH đúng đắn vì hạnh
phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng CNXH”. (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa XH, trang 86) chính là điều kiện đảm bảo sự thành công của công
cuộc xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status