Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................3
B. NỘI DUNG..................................................................................................................................5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ CÁC
XÃ - THỊ TRẤN THÀNH QUẬN NỘI THÀNH.......................................................................5
1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ HOÁ..............................................5
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng, phân loại đô thị....................................................................5
1.1.1.1. Khái niệm đô thị................................................................................................5
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của đô thị..................................................................6
1.1.1.2. Phân loại đô thị...................................................................................................9
1.1.2. Khái niệm, đặc trưng và tính tất yếu của đô thị hoá.............................................10
1.1.2.1. Khái niệm về đô thị hoá....................................................................................10
1.1.2.2. Đặc điểm của đô thị hoá..................................................................................13
1.1.2.3. Vai trò của đô thị hoá......................................................................................15
1.1.2.4. Tính tất yếu của đô thị hoá..............................................................................16
1.1.2.5. Một số chỉ tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá............................................19
1.2. BẢN CHẤT CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ................................................................20
1.2.1. Bản chất của phát phát triển kinh tế......................................................................20
1.2.1.1. Bản chất của tăng trưởng kinh tế.....................................................................21
1.2.1.2. Bản chất của phát triển kinh tế........................................................................21
1.2.1.3. Phát triển kinh tế bền vững..............................................................................22
1.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế...........................................................24
1.2.2.1. Đánh giá tăng trưởng kinh tế...........................................................................24
1.2.2.2. Đánh giá về cơ cấu kinh tế..............................................................................25
1.2.2.3. Đánh giá sự phát triển xã hội...........................................................................26
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT T RIỂN KINH TẾ CỦA QUẬN CẦU GIẤY TRONG
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ..........................................................................................................28
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN CẦU GIẤY ẢNH HƯỞNG
TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ.................................28
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên..................................................................................................28
2.1.1.1. Vị trí địa lý của Quận.......................................................................................28
3.2.3. Các chỉ tiêu chủ yếu................................................................................................57
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUẬN CẦU GIẤY
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ...................................................................................58
3.3.1. Tiến hành thực hiện rà soát và điều chỉnh lại quy hoạch......................................58
3.3.2. Thực hiện tuyên truyền chủ trương, chính sách phát triển kinh tế trên địa bàn. 59
3.3.3. Nâng cao trình độ và chất lượng người lao động..................................................60
3.3.4. Thu hút nguồn vốn đầu tư......................................................................................61
3.3.5. Tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường............................................................62
3.3.6. Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị trên địa bàn..............................63
C. KẾT LUẬN................................................................................................................................65
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................66
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế nhằm đưa tới cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn là mục
tiêu phấn đấu của tất cả các vùng và quốc gia trên thế giới. Phát triển kinh tế là
động cơ thúc đẩy quá trình đô thị hoá thực hiện nhanh và hiệu quả hơn.
Tại quận Cầu Giấy quá trình đô thị hoá đã bắt đầu diễn ra ngay từ khi
quận được thành lập từ những năm 1997 cho tới nay song quá trình đô thị hoá là
quá trình diễn ra trong thời gian dài nên cho tới nay. Kinh tế trên địa bàn quận đã
phát triển nhanh chóng trong những năm qua và kết quả của nó là thu nhập của
người dân và mức sống của dân cư cũng tăng lên nhanh chóng và ngày càng tốt
hơn.
Song cùng với quá trình phát triển kinh tế đó đã nảy sinh nhiều vấn đề cần
phải giải quyết đặc biệt là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế để rút ngắn thời gian
của quá trình đô thị hoá trên địa bàn quận đồng thời đưa quận Cầu Giấy trở thành
quận phát triển so với cả Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Căn cứ vào tình
hình cụ thể của quận Cầu Giấy em xin nêu lên một số giải pháp chủ yếu để thúc
đẩy phát triển kinh tế thông qua chuyên đề tốt nghiệp có tên là: “ Một số giải
pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế quận Cầu Giấy từ các xã - thị trấn
đứng trên những quan điểm khác nhau và nó tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu
của từng lĩnh vực, chúng ta có thể hiểu đô thị theo một số các sau và chúng có
mối liên quan tới mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Một là, theo từ biển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì đô thị là một không
gian cư trú của cộng động người sống tập trung và hoạt động trong những khu
vực kinh tế phi nông nghiệp.
Hai là, đô thị là nơi tập trung dân cư chủ yếu là là lao động phi nông
nghiệp, sống và làm việc theo kiểu đô thị hoá.
Ba là, đô thị là nơi có mật độ dân cư cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có cơ sở hạ tầng phát triển, là trung tâm văn hoá hay chính trị của các
cấp, ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tỉnh (thành phố), huyện
(quận).
Nói chung tất cả các khái niệm về đô thị chỉ mang tính chất tương đối do
sự khác nhau về trình độ phát triển của kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên.
Song chúng đều thống nhất trên hai tiêu chuẩn đê phân biệt đô thị và nông thôn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó là đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn có dân số trên 2000 người và
trong đó trên 60% là sản xuất phi nông nghiệp.
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của đô thị
1/ Đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và nó có tính chất toàn cầu:
− Vấn đề môi trường: cùng với tốc độ gia tăng nhanh chóng về công
nghiệp hoá và đô thị hoá là tốc độ gia tăng phá vỡ môi trường sinh thái tại đô thị.
Quá trình đô thị hoá càng nhanh thì tốc độ phá huỷ môi trường sinh thái càng
nhanh, điều này gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường sống cho khu vực dân
cư … vấn đề này đang đặt ra bài toán cho việc tính toán phát triển đô thị sao cho
vừa nhanh vừa phải đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm, tất cả các đô thị đã
và đang hình thành, phát triển hiện nay đều gặp phải vấn đề ô nhiễm môi trường
mà thường ngày càng nặng nề hơn. Nguyên nhân chủ yếu của vấn nạn này đó laf
khi tốc độ cnh nhanh thì lượng chất thải thải ra môi trờng càng lớn và trong điều
hoá thì nông thôn là tiền đề về cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện kinh tế cho
quá trình phát triển đó, ngược lại trong quá trình đô thị hoá thì thành thị lại là
điều kiện thúc đẩy nông thôn phát triển theo. Đặc biệt với quá trình đô thị hoá
phân tán thì khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế và điều kiện sống tạo vùng
nông thôn nhanh và mạnh hơn.
3/ Đô thị hoá mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ
thuật, kinh tế và xã hội. Đó có nghĩa là đô thị hoá được hình thành theo quá trình
lịch sử chứ không phải một chốc, một lát là có, nó là quá trình kế thừa những
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thành tựu của những thế hệ đi trước khai phá nên những điều kiện ban đầu cho
quá trình phát triển của đô thị từ nông thôn lên.
4/ Đô thị so với nông thông thì có một số những đặc trưng riêng có, cụ thể
đó là những đặc trưng sau:
− Dân cư đô thị có nhu cầu trao đổi, thông thương buôn bán do ở đây
dó trình độ tập trung và chuyên môn hoá cao nên lượng sản phẩm làm ra ngày
càng nhiều và chủ yếu cac sản phẩm đó là sản phẩm công nghiệp chứ không thể
sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu nuôi sông con người. Nên người dân đô thị
có nhu cầu trao đổi lương thực, thực phẩm với những nông dân hay những
thương nhân. Bên cạnh đó tạo những đô thị còn có những thì đất, lao động, dịch
vụ, thị trường tài chính ngân hàng…
− Số lượng vốn được đầu tư vào các ngành luôn cao hơn nhiều lần so
với lượng vốn được đầu tư vào các ngành tại khu vực nông thôn, do đó, hạ tầng,
kỹ thuật và điều kiện sống về vật chất ở đây cao hơn hẳn so với khu vực nông
thôn. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng của đô thị như hệ thống đường
giao thông, hệ thống bệnh viện và trạm y tế… tương đối hoàn thiện và đồng bộ
do yêu cầu khách quan của quá trình đô thị hoá. Điều đó bắt nguồn từ yêu cầu
khách quan của quá trình đô thị hoá, đó là điều kiện thúc đẩy quá trình đô thị hoá
phát triển nhanh và mạnh.
− Đô thị có nền an ninh trật tự khó đảm bảo so với nông thôn song nó
Website: Email : Tel : 0918.775.368
12000 người/km2, lao động phi nông nghiệp trên 90%, cơ sở vật chất kỹ thuật
tương đối hoàn chỉnh và tiến tới hoàn thiện.
− Đô thị loại 3: đô thị có quy mô trung bình: là những trung tâm kinh tế -
chính trị, văn hoá, nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại; dân số từ 10 –
35 vạn người, mật độ dân số 10 000 người/km2; lao động phi nông nghiệp trên
80%; cơ sở kỹ thuật hạ tầng được đầu tư xây dựng từng phần.
− Đô thị loại 4: đô thị có quy mô trung bình nhỏ: là những trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá hoặc là nơi chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương
nghiệp có vai trò thúc đẩy kinh tế của tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh. Dân số đô
thị: 3- 10 vạn người, mật độ dân cư: 8 000người/km2; lao động phi nông nghiệp
trên 70%, đã và đang đầu tư xây dựng kỹ thuật hạ tầng và các công trình công
cộng từng phần.
− Đô thị loại 5: đô thị có quy mô nhỏ: là những trung tâm tổng hợp của
huyện hay một vùng trong huyện có vai trò thúc đẩy kinh tế của vùng và có quy
mô dân số dưới 3 vạn người, mật độ dân số 6000người/km2. Lao động phi nông
nghiệp chiếm trên 60%. Bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và kỹ
thuật hạ tầng.
1.1.2. Khái niệm, đặc trưng và tính tất yếu của đô thị hoá
1.1.2.1. Khái niệm về đô thị hoá
Trên quan điểm đô thị trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về đô thị hoá
như sau:
− Trên quan điểm của một vùng: đô thị hoá là quá trình hình thành và
phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
− Trên quan điểm của nền kinh tế quốc dân: đô thị hoá là quá trình biến
đổi về sự phân bố các yếu tố nguồn lực sản xuất, bố trí dân cư những vùng
không phải đô thị thành đô thị.
Hay chúng ta có thể hiểu một cách nôm na, đô thị là chúng ta đã đạt được
trình độ phát triển hợp lý giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.
Đô thị hoá phân tán đảm bảo tính cân bằng sinh thái, tạo điều kiện cho con
người sống và làm việc tốt hơn. Quá trình đô thị hoá phân tán khi hoàn thành sẽ
tạo ra sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc biệt là hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật.
Chúng ta thấy rằng đô thị hoá tập trung sẽ có nhiều vấn đề xã hội đặt ra vì
đó là quá trình dân cư tập trung quá đông vào một khu vực khhiến cho các vấn
đề nảy sinh như: nhà ở, y tế, môi trường… khó có thể giải quyết được và quá
trình đô thị hoá như thế này sẽ khiến quá trình đô thị hoá không bền vững và
phải giải quyết những vấn đề nặng nề.
Thực tế chững minh rằng, khi đô thị hoá phân tán sẽ phải mật nhiều thời
gian hơn đô thị hoá tập trung song tính tổng thể nền kinh tế quốc dân thì nhanh
hơn khi chúng ta phải tiến hành trên toàn bộ khu vực lãnh thổ của nước ta và khi
hoàn thành đô thị hoá phân tán thì chúng ta không phải giải quyết những vấn đề
xã hội sâu sắc như đô thị hoá tập trung.
Ngày nay, quá trình đô thị hoá được tiến hành nhanh và có hiệu qủa hơn
trước do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt ngày nay còn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có sự tác động đắc lực của công nghệ thông tin vào quá trình đô thị hoá. Đây là
những tiền đề cho phép chúng ta tiến hành đô thị hoá nhanh hơn và có hiệu quả
hơn. Đô thị hoá tập trung sẽ được tiến hành nhanh và tương đối có hiệu quả nếu
chỉ tính trong ngắn hạn vì chúng ta chỉ mất thời gian ngắn có thể hình thành các
đô thị có trình độ phát triển cao, mà điển hình là ở các nước phát triển thì việc đô
thị hoá tập trung là chủ yếu và ngày nay phải đối mặt với chênh lệch giữa thành
thị và nông thôn đồng thời phải giải quyết vấn đề dân cư và xã hội. Dân cư ở các
thành phố này tập trung rất đông, khiến các vấn đề xã hội này sinh ngày một lớn
và để giải quyết phải bỏ ra một khoản chi phí khổng lồ.
Tóm lại, chúng ta là một nước thực hiện đô thị hoá sau các nước trên thế
giới nên cần phải xem xét các mô hình đô thị hoá trên thế giới đồng thời phải căn
việc phát triển kinh tế song để có thể phát triển được kinh tế thì chúng ta cần rất
nhiều yếu tố phụ trợ cho nó, đó là cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, hệ thống
đường giao thông…
− Đô thị hoá là quá trình tập trung dân số ở đô thị và hình thành nhanh
chóng các điểm dân cư do yêu cầu của công nghiệp hoá và hiện đại hoá: vì như
vậy mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động tại các nhà máy và các
công trường . Đề tiến hành công nghiệp hoá và hiện đạo hoá từ nền nông nghiệp
thì chúng ta phải cần nhiều lao động, lao động trong những ngành công nghiệp.
Sau đó tới quá trình hiện đại hoá thì ngựơc lại là ngày càng sử dụng ít lao động
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và gần như không sử dụng lao động vào các công việc nặng nhọc, khi đó chúng
ta sử dụng máy móc là chính.
1.1.2.3. Vai trò của đô thị hoá
− Trước hết chúng ta có thể nhận thấy vai trò của đô thị hoá là thúc đẩy
tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại
hoá muốn thành công thì cần phải chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế từ sx nông
nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao, nâng cao trình độ lực lượng
sản xuất. Quá trình đô thị hoá tạo điều kiện để tập trung dân cư với đa số là lao
động có trình độ lao động cao như vậy vô hình dung nó đã mang lại một nguồn
nhân lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá. Bên cạnh là khu vực tiến hành đô
thị hoá còn được đầu tư về cơ sở hạ tầng và những điều kiện tiên quyết cho quá
trình phát triển đô thị cùng với đó quá trình đô thị hoá sẽ biến những khởi điểm
ban đầu đó thành những công trình kiến trúc theo đúng ý đồ phát triển đô thị của
các nhà hoạch định.
− Đô thị hoá đặc biệt là đô thị hoá phân tán giúp chúng ta giải quyết được
nhiều vấn đề khó khăn trước mắt của xã hội như các tệ nạn xã hội: rượu chè, cờ
bạc, ma tuý … Quá trình đô thị hoá bắt buộc mọi người phải tiến hành lao động
mới có khả năng tìm kiếm và nâng cao thu nhập của bản thân và gia đình như
vậy họ đã góp phần vào công tác chống những tệ nạn xã hội. Thứ hai, nhờ vào
cao.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn
liền với quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế của địa phương đó, vô hình dung
đó cũng là kết quả hay mục tiêu cần đạt đến của quá trình đô thị hoá. Khi chúng
ta thực hiện đô thị hoá thì cơ cấu kinh tế ở nông thôn thì tỷ trọng của ngành nông
nghiệp có xu hướng và của công nghiệp sẽ tăng, việc tăng hay giảm nhanh hay
chậm là tuỳ vào tốc độ đô thị hoá của địa phương đó kể cả nền nông nghiệp
truyền thống cũng chuyển sang nền nông nghiệp hàng hoá và mọi cái chúng ta
phải tuân thủ sự phát triển của nền kinh tế thị trường, chúng ta chỉ có thể tác
động phần nào để đẩy nhanh hay hạn chế mà thôi. Trong quá trình công nghiệp
hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thì chúng ta phải giải quyết hàng
loạt những vấn đề ưu tiên phát triển ngành nào trước, chuyển dịch và bố trí lao
động dôi dư ra làm sao, đầu tư cơ sở vật chất như thế nào…
Theo quy luật duy vật biện chứng thì chúng ta phải làm biến đổi về mặt
lượng tới thời điểm nào đó nó sẽ làm biến đổi về chất. Đối với nền kinh tế thì
chúng ta phải tiến hành làm thay đổi theo hướng phát triển của lực lượng sản
xuất thì tới giai đoạn đó nó sẽ làm thay đổi quan hệ sản xuất. Mà hiểu cụ thể đó
là sự thay đổi trình độ sản xuất dẫn tới thay đổi tư duy và lối sống của người lao
động nói riêng và dân cư nói chung. Và người quản lý có thể đề ra và thực hiện
những định hướng, tạo điều kiện và khai thác những yếu tố tích cực. Nếu nhà
quản lý có tư duy đúng thì có thể đưa ra những định hướng đúng và tạo đà phát
triển nhanh, mạnh và hiệu quả, giúp quá trình đô thị hoá được diễn ra nhanh hơn,
thành công hơn.
Tất cả các nước trên thế giới đều tiến hành đô thị hoá và quá trình này đã
chở thành tất yếu tố khách quan vì các yếu tố sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một là, về các vấn đề kinh tế: kinh tế là xương sống cho sự tồn tại và suy
xã hội chủ nghĩa thì con người dần thay đổi từ dựa vào tự nhiên chuyển sang tự
sản xuất để nuôi sống bản thân mình rồi đến tích luỹ để làm giàu. Đó là một quá
trình lâu dài song là bước phát triển của con người.
1.1.2.5. Một số chỉ tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá
− Đô thị hoá theo chiều sâu:
Các chỉ tiêu định tính:
Tổng thu nhập xã hội / đầu người
Các chỉ tiêu đô thị/người: diện tích cây xanh; diện tích đường
giao thông: diện tích các công trình công cộng…
Cơ cấu các ngành trong tổng thu nhập toàn xã hội
Trình độ dân trí
Số máy điện thoại / 100 dân
Tuổi thọ bình quân
Số giường bệnh và số bác sỹ / 1000 dân
Các chỉ tiêu định lượng:
Chất lượng hạ tầng kỹ thuật
Chất lượng hạ tầng xã hội
Trình độ văn minh đô thị
Kiến trúc đô thị
Môi trường đô thị.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
− Đô thị hoá theo chiều rộng:
Các chỉ tiêu định tính:
Tổng thu nhập xã hội / đầu người
Tỷ lệ diện tích đất đô thị / diện tích đất tự nhiên
Quy mô dân số đô thị
Quy mô và cơ cấu tổng sản phẩm xã hội (hoặc tổng giá trị sản
xuất)
Trình độ dân trí
trưởng ổn định trong dài hạn.
1.2.1.2. Bản chất của phát triển kinh tế
Hiện nay đích đến của các nước trên thế giới không phải là đích quá quá
trình tăng trưởng nữa mà là đích đến của quá trình phát triển. Phát triển kinh tế
được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Nếu như tăng trưởng
chỉ dừng lại ở mặt lượng thì phát triển đã chú trọng tới cả về mặt lượng và mặt
chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Như vậy, phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài
và do nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định.
Nội dung của phát triển kinh tế là:
− Một là, sự gia tăng tổng thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu
nhập bình quân đầu người. Đây là nội dung phản ánh sự tăng lên về mặt lượng
của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của mỗi quốc gia
và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển.
− Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu
thức phản ánh mặt chất của nền kinh tế hay so sáng với trình độ phát triển giữa
các vùng, nước trong khu vực và trên thế giới.
− Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. mục tiêu
cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng
kinh tế hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là biến đổi sâu sắc theo hướng ngày
càng tốt hơn của đời sống người dân. Cuộc sống của con người được cho là tốt
không chỉ dừng lại ở mặt vật chất mà nó còn bao gồm cả yếu ta tinh thần. Biểu
hiện rõ nét của nội dung này chính là việc xoá đói giảm nghèo, suy dinh dưỡng,
sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước
sạch, trình độ dân trí ngày một nâng cao….
1.2.1.3. Phát triển kinh tế bền vững
Như trên chúng ta đã đề cập về vấn đề tăng trưởng và đã nêu lên rằng đòi
hỏi của nền kinh tế bây giờ không phải là tăng trưởng nữa mà là tăng trưởng bền
vững, những chỉ tiêu đó được đề cập cụ thể qua những chỉ tiêu cụ thể sau:
1.2.2.1. Đánh giá tăng trưởng kinh tế
1/ Tổng giá trị xản xuất GO: là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong thời kỳ nhất định thường
là một năm. Chỉ tiêu này được tính theo hai cách sau: một là, dựa vào tổng doanh
thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân; hai là, tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và
giá trị gia tăng của sản phẩm và dịch vụ (VA).
2/ Tổng sản phẩm quốc nội: là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia
tạo nên trong một thời kì nhất định thường tính trong một năm.
Chúng ta có ba cách tính đó là: tiếp cận từ sản xuất thì đó là giá trị gia
tăng tính cho toàn bộ nền kinh tế; tiếp cận từ chi tiêu thì đó là tổng chi cho tiêu
dùng cuối cùng của các hộ gia đình, chi tiêu của chính phủ, đầu tư tích lũy tài
sản và chi tiêu thương mại quốc tế; tiếp cận từ thu nhập thì nó được xác định trên
cơ sở các khoản hình thành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, bao gồm:
thu nhập của người có sức lao động dưới hình thức tiền lương và tiền công, thu
nhập của người cho thuê đất, thu nhập của người có tiền cho vay, thu nhập của
người có vốn, khấu hao vốn cố định và thuế kinh doanh.
3/ Tổng sản phẩm quốc dân: đây là chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của
các công dân thuộc quốc gia mình. Cách tính đơn giản nhất là chúng ta có thể lấy
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tổng sản phẩm quốc nội trừ đi lượng tiền chuyển ra nước ngoài cộng với tổng
lượng tiền người nước mình chuyển về nước.
4/ Thu nhập bình quân đầu người: chỉ tiêu này phản ánh tăng trưỏng kinh
tế có tính đến sự thay đổi dân số của quốc gia mình. Quy mô và tốc độ tăng thu
nhập bình quân đầu người là những chỉ tiêu phản ánh quan trọng và là tiền đề để
nâng cao mức sống dân cư nói chun. Nếu chỉ tiêu này gia tăng liên tục với tốc độ
ngày càng cao thì đó là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn