MỤC LỤC
Trang
Phần Mở Đầu
A. Giới thuyết
1. Lý do chọn đề tài
Cũng như văn học Nga, Pháp, văn học Trung Quốc đang được nghiên
cứu rất nhiều ở Việt Nam. Từ lâu, những vần thơ hàm súc ý tại ngôn ngoại
trong Kinh Thi, Đường Thi đến những tiểu thuyết như Đông Chu liệt quốc,
Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Hồng lâu mộng, Kim Bình Mai đã làm cho
biết bao thế hệ độc giả say mê, yêu thích. Theo dòng chảy thời gian, vườn
hoa văn học Trung Quốc càng thêm tỏa hương, khoe sắc với những Lỗ Tấn,
Vương Mông, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn, Trương Khiết, Trì Lợi Còn Thiết
Ngưng, một nhà văn trẻ của văn học đương đại Trung Quốc chưa thật sự
được quan tâm đúng mức. Có lẽ bởi người đọc cảm thấy lạ lẫm trước một
ngòi bút quá thẳng thắn và bản lĩnh. Tuy nhiên, với những gì thể hiện và
cống hiến cho văn chương, các sáng tác của Thiết Ngưng xứng đáng có một
vị trí quan trọng trong giai đoạn văn học Trung Hoa đương đại.
Trong tất cả những tác phẩm của mình, Thiết Ngưng kêu gọi lòng
khoan dung, sự hy sinh cao cả đến không cùng. Bà được xem là đại diện cho
văn học nữ tính, đề cao chủ nghĩa nữ quyền, đòi quyền bình đẳng với nam
giới một cách quyết liệt và mạnh mẽ. Điều đó góp phần lý giải vì sao rất
hiếm nhân vật chính là nam giới trong tác phẩm của nhà văn.
Với những phát hiện mới mẻ trong văn chương cũng như đóng góp
cho nền văn học nước nhà, ngày 12/11/2006, bà là nhà văn “mỹ nữ” đầu tiên,
sau Mao Thuẫn và Ba Kim được bầu làm chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc
với 7.690 hội viên.
Những người đàn bà tắm có giá trị khá lớn trong sự nghiệp sáng tác
của Thiết Ngưng cũng như trong dòng văn học Trung Quốc đương đại. Tác
phẩm được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Anh, Pháp, Đức,
Nhật, Nga, Tây Ban Nha, Áo, Đan Mạch, Nauy, Việt Nam
Nghệ thuật tự sự là nét đặc sắc trong toàn bộ sáng tác của Thiết Ngưng
* “Thiết Ngưng trở thành Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc” của
Nhuệ Anh.
* “Nhà văn “mỹ nữ” được bầu làm chủ tịch Hội Nhà văn Trung
Quốc” và “Cả làng văn Trung Quốc vui mừng vì chủ tịch Hội lấy chồng”
của Thu Thủy.
* “Nữ văn sĩ Thiết Ngưng – “Thiên vị” người cùng giới” của PGS.TS
Lê Huy Tiêu.
* “Cuộc chiến giữa lý trí và bản năng” của Đỗ Phước Tiến.
* “Thiết Ngưng: “Viết không phải là sứ mệnh” của Thanh Huyền.
* “Suốt đời cần nỗ lực học tập” của T.B.
* “Nữ nhà văn Trung Quốc đương đại” Bài trả lời phỏng vấn của Dịch
giả Sơn Lê.
* “Thiết Ngưng - Tiểu thuyết là những món quà tôi dành tặng độc giả”
của Mỹ Duyên.
* “Trung Quốc bình chọn các gương mặt văn học tiêu biểu”.
* Ngoài ra còn có bài viết của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn (Lời
bạt Những người đàn bà tắm) và hai khóa luận tìm hiểu về hình tượng
người kể chuyện của Vũ Thị Hạnh; quan hệ giữa dòng ý thức và kết cấu
trong Những người đàn bà tắm của Phạm Thị Thanh Huyền thực hiện. Như
vậy, ngoài những khái quát chung chung thì chưa có tác giả nào đi sâu
nghiên cứu về tác giả Thiết Ngưng và tiểu thuyết Những người đàn bà tắm
một cách cụ thể đặc biệt là ở phương diện nghệ thuật tự sự.
Qua những bài nghiên cứu của tác giả Việt Nam và Trung Quốc cùng
một số bài tự thuật của Thiết Ngưng, chúng ta có thể khái quát phong cách
sáng tác của bà như sau:
- Theo Thiết Ngưng, những tác phẩm văn học nước ngoài như Jean
Christophe của nhà văn Pháp Romain Rolland (1866 – 1944) có ảnh hưởng
rất lớn đến cách nhìn nhận đất nước và thế giới của nhà văn. Bà dành tình
cảm đặc biệt sâu sắc cho nông thôn Trung Quốc và cuộc sống của người
nông dân.
nề hơn” (Đỗ Phước Tiến).
- Năm 2003, Thiết Ngưng được độc giả tạp chí “Tiểu thuyết chọn lọc”
bầu chọn là một trong “Mười nhà văn nổi tiếng nhất thế kỷ”.
- Nhìn chung, những tài liệu trên đều nói về quan điểm sống, phong
cách nghệ thuật mạnh mẽ, dữ dội nhưng không kém phần nữ tính, quyến rũ
của nhà văn. Đó là những cuộc vật lộn hồi sinh nhằm khẳng định cái tôi một
cách trung thực, hết mình nhất. Bất cứ một kỳ tích nào cũng có thể thấy ở
Thiết Ngưng, bởi trong nhiều năm qua, bà như một thầy phù thuỷ có sức cảm
thụ nhạy bén, đầu óc tưởng tượng phong phú, khả năng khám phá sâu sắc,
trình độ hiểu biết và phân tích hiếm có cùng kỹ xảo tinh tế đã liên tiếp cho
người đọc những tác phẩm ưu tú với những sắc màu và vẻ đẹp khác nhau, có
sức hấp dẫn mạnh mẽ. Từ những sáng tác thời kỳ đầu như: Ôi Hương Tuyết,
Tấm áo đỏ không cài cúc, tiếp theo là Cửa hoa hồng, Thành phố không
mưa, Người đàn bà chửa và con bò và gần đây là Vĩnh viễn xa lắm,
Những người đàn bà tắm… Các tác phẩm đó được chuyển hóa thành các
series phim truyền hình ăn khách suốt hàng thập kỷ qua. Sáng tác của bà
được đông đảo độc giả đón nhận và đã dịch ra nhiều thứ tiếng, xuất bản tại
nhiều quốc gia. Trên văn đàn Trung Quốc hiếm thấy một nhà văn cuốn hút
người đọc lâu bền như Thiết Ngưng.
- Có thể xem sự bộc bạch sau đây như là tuyên ngôn trong sáng tác
của nhà văn “Với tôi, viết không phải là một sứ mệnh. Tôi không có sự lựa
chọn nào khác ngoài viết văn. Chỉ có được làm như thế, tôi mới cảm nhận
được sự thoải mái, niềm vui trọn vẹn và sự bình yên trong tâm hồn. Tiểu
thuyết là những món quà tôi dành tặng độc giả. Như người nông dân cày
sâu cuốc bẫm trên đồng ruộng, tôi cũng gắn bó sâu nặng với cuộc đời để
nuôi dưỡng tâm hồn mình. Tôi sẽ luôn trung thực với thời đại mà tôi sống,
với ngòi bút, với lương tâm và với những độc giả yêu thương”. [6, 6].
Như vậy, tìm hiểu Nghệ thuật tự sự trong Những người đàn bà tắm của
Thiết Ngưng không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với việc chiếm lĩnh thế giới
tác phẩm mà còn nắm bắt được những quan niệm, thủ pháp nghệ thuật mà
- In nghiêng: Phần trích dẫn, nhấn mạnh
- In nghiêng đậm: Tên tác phẩm
- In đậm: Các luận điểm được nhấn mạnh.
B.Tác giả, tác phẩm và giới thuyết khái niệm
1. Tác giả, tác phẩm
1.1.Tác giả Thiết Ngưng
Thiết Ngưng sinh năm 1957 trong một gia đình nghệ thuật tại Bắc Kinh
nhưng lại trải qua những năm tháng tuổi thơ ở Bảo Định (Hà Bắc). Khi còn
là một đứa trẻ, nhà văn cũng phải nếm trải mùi vị cay đắng của những biến
động lịch sử và thường tìm niềm an ủi cho mình ở trong sách vở. Năm 1975,
học xong trung học, cô gái trẻ Thiết Ngưng về “cắm rễ” ở nông thôn Hà Bắc.
Cùng năm đó, tác phẩm đầu tay Chiếc liềm biết bay được in trong văn tập
dành cho thiếu nhi của NXB Bắc Kinh. Trong thời đại Internet, khi những
tên tuổi mới mọc lên như nấm sau mưa, Thiết Ngưng có thể không phải là
nhà văn nữ nổi tiếng nhất trên văn đàn nhưng các nhà phê bình cho rằng, bà
là người có được sự ái mộ lớn của độc giả lẫn dân trong nghề.
Sự nghiệp văn học của Thiết Ngưng được chia làm 3 thời kỳ:
* Thời kỳ đầu, với cái nhìn lạc quan trong sáng, tích cực, Thiết
Ngưng cho ra đời những tác phẩm như: Ồ, Hương tuyết (1982); Câu
chuyện tháng sáu (1984); Chiếc áo màu đỏ không có cúc (1985 – Tác
phẩm này được chuyển thể thành phim và đã giành giải Phim truyện hay
nhất trong năm của cả giải Trăm Hoa lẫn Gà Vàng). Cũng vào năm 1984, bà
chuyển về làm nhà văn chuyên nghiệp tại Hội Nhà văn Hà Bắc, sau đó được
bầu làm Phó chủ tịch Hội Nhà văn tỉnh, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Trung
Quốc, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Các tác
phẩm thời kỳ mới sáng tác của Thiết Ngưng phần lớn miêu tả chuyện và con
người thuộc tầng lớp bình dân. Nhà văn tập trung khai thác thế giới nội tâm
của nhân vật qua cái nhìn trong sáng, điềm đạm với ngôn ngữ uyển chuyển,
mới mẻ.
* Bước sang thời kỳ thứ hai, bên cạnh những Tử hình, Sắc biến, năm
Đến nay, gia tài văn học của Thiết Ngưng gồm có: bốn tiểu thuyết
(Thành phố không mưa, Cửa hoa hồng, Những người đàn bà tắm, Bát
hoa); bảy tập truyện vừa; sáu mươi truyện ngắn; hai tập kịch bản văn học
Điện ảnh cùng với nhiều bài văn xuôi.
Nói đến Thiết Ngưng, người ta không thể không nhắc đến Những người
đàn bà tắm. Tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt trong sự nghiệp văn chương của
nhà văn.
1.2. Tác phẩm Những người đàn bà tắm
Tiểu thuyết Những người đàn bà tắm xuất bản đầu tiên ở Việt Nam
vào tháng 3-2002 có tên là Khát vọng thời con gái. Năm 2006 tái bản và lấy
lại tên nguyên tác Những người đàn bà tắm. Tác phẩm này đã được đề cử
giải thưởng Mao Thuẫn - giải thưởng văn học lớn nhất của Hội Nhà văn
Trung Quốc.
Trong những năm qua, các tác phẩm của các nhà văn nữ Trung Quốc
đương đại đã có mặt đều đặn ở Việt Nam với các bản dịch gây ấn tượng như
Những người đàn bà tắm, Điên cuồng như Vệ Tuệ, Trường hận ca và
Quạ đen Trong đó, Những người đàn bà tắm được giới văn học Trung
Quốc đánh giá là “hiện tượng của năm”, được in ở mức cao: 200.000 bản
ngay trong lần phát hành thứ nhất.
Những người đàn bà tắm là tên một nhóm tranh của P.Cézanne, họa
sĩ người Pháp thuộc trường phái ấn tượng, mà Thiết Ngưng đã lấy làm tên
sách. Trên tranh, những tấm thân con gái màu nâu nhạt hòa quyện cùng cỏ
cây và đất đai, những cô gái mạnh khỏe, thản nhiên, an nhàn, chất phác,
không điệu đà mà cũng không có gì trái với lẽ thường. Những người con gái
này là giới hạn mà nhân loại hướng tới.
Có thể nói, Những người đàn bà tắm là tác phẩm xuất sắc trong sáng
tác của Thiết Ngưng. Nó không có chủ đề rõ ràng nhưng lại gợi ra rất nhiều
chủ đề mở, khiến người đọc phải giật mình. Có thể xếp Những người đàn
bà tắm vào Tiểu thuyết tâm lý; Tiểu thuyết ái tình và cũng có thể đây là
tiểu thuyết về sự trưởng thành của con người; về chủ nghĩa nữ tính Từ
Tiểu thuyết Những người đàn bà tắm miêu tả cuộc sống bình thường
của con người hiện đại Trung Quốc trong và sau “Cách mạng văn hóa”, qua
đó chúng ta thấy được bức tranh mang tính sử thi rộng lớn của một giai đoạn
lịch sử có nhiều biến chuyển của đại lục này.
Bạn đọc đã từng thích dòng văn học vết thương của Trung Quốc qua
các tác phẩm của Trương Hiền Lượng, Lý Nhuệ…chắc sẽ thích Thiết
Ngưng. Vì vết thương của Thiết Ngưng được nhìn lại theo một cách khác, ít
mặc cảm hơn mặc dù cũng nặng nề, cay đắng không kém.
Đến với Những người đàn bà tắm,Vương Trí Nhàn nhận định “Tác
phẩm này của Thiết Ngưng sẽ không bị phôi pha rất nhanh như nhiều cuốn
sách “nổi loạn” đương thời, mà, không biết chừng, sẽ gia nhập vào kho tàng
cổ điển của nền văn học Trung Hoa vốn giàu truyền thống lịch sử” (Lời bạt
trong Những người đàn bà tắm).
2. Giới thuyết khái niệm về tự sự học
2.1. Lược sử quan niệm về tự sự học
Theo Trần Đình Sử “Tự sự học (Narratology) là một lĩnh vực nghiên cứu
đặc thù của lý luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng, phần nào
đó tương ứng với “thi học” nghĩa hẹp, là lĩnh vực lấy nghệ thuật thi ca làm
đối tượng nghiên cứu. Thi học của Arixtote xuất hiện đã hơn 2300 năm, mà
“tự sự học” mãi đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX mới chính thức xuất
hiện. Điều đó chứng tỏ sự lĩnh hội về nghệ thuật tự sự muộn màng biết
chừng nào” [44, 7].
Hiện nay, tự sự học đang trở thành một lĩnh vực được đông đảo các nhà
khoa học trên thế giới quan tâm. Trong các vấn đề của văn học, vấn đề lý
thuyết tự sự ngày càng được quan tâm phổ biến. Từ chủ nghĩa hình thức
Nga, ngôn ngữ học Saussure, trường phái Praha, trường phái Tân Aristote,
triết học phân tích, kí hiệu học, hậu cấu trúc chủ nghĩa không trường phái
nào là không quan tâm tới vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết. Người ta càng
ngày càng nhận ra rằng nếu thiếu kiến thức cơ bản về tự sự học thì các phán
đoán trong các ngành nghiên cứu trên rất dễ phạm những sai lầm rất sơ đẳng
viết của mình theo hướng chú trọng cả cấu trúc sự kiện (kể cái gì) và cấu trúc
lời văn (kể như thế nào) qua hình tượng người kể chuyện, sự di chuyển giữa
các điểm nhìn, không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu của tác phẩm.
Trong luận văn của mình, người viết đi sâu tìm hiểu “nghệ thuật tự sự” là
một bộ phận hữu cơ của thi pháp học và áp dụng nó để nghiên cứu, phân tích
“cuốn tiểu thuyết đậm đặc chất nữ tính” là Những người đàn bà tắm của
Thiết Ngưng.
2.2. Tự sự học trong dòng chảy của văn học Trung Hoa
Trong thể thao, nếu nói bóng đá là môn thể thao “vua” thì trong văn học,
tiểu thuyết là thể loại chủ chốt, bởi tiểu thuyết có thể phản ánh đầy đủ nhất,
sinh động nhất hiện thực cuộc sống xã hội. Từ khi Trung Quốc bước vào thời
kỳ mở cửa, văn học đương đại, đặc biệt là tiểu thuyết đương đại đã gặt hái
được nhiều thành tựu rực rỡ, được bạn đọc Trung Quốc và thế giới đón nhận
nồng nhiệt.
Trước kia thủ pháp nghệ thuật và hình thái biểu hiện của chủ nghĩa hiện
thực cổ điển Trung Quốc, của chủ nghĩa hiện thực phê phán châu Âu, của
chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của Liên Xô trở thành phương pháp tự
sự chính thống trong văn tự sự cũng như thơ trữ tình của Trung Quốc và các
nước xã hội chủ nghĩa. Mãi đến thập niên 80 của thế kỷ XX, nhờ có sự giải
phóng tư tưởng, các nhà văn Trung Quốc mới thấy có nhu cầu đổi mới tư
duy tiểu thuyết nói riêng và tư duy văn học nói chung
Tiểu thuyết Trung Quốc có một lịch sử phát triển lâu dài với nhiều tiểu
loại tự sự. Từ thần thoại, tản văn Tiên Tần, đến Chí nhân – Chí quái thời
Ngụy Tấn, truyền kỳ đời Đường, thoại bản Tống Nguyên và đỉnh cao là tiểu
thuyết chương hồi Minh Thanh. Tuy nhiên do ảnh hưởng của quan niệm
“văn - sử - triết bất phân”, người kể chuyện chủ yếu là những người thiên về
“truyền kỳ”, “giảng sử” hay “ thuyết thư” nên truyền thống tự sự Trung Hoa
chủ yếu là tự sự ở ngôi thứ ba. Người kể chuyện là “người biết tuốt” với
“điểm nhìn toàn tri” đứng ra kể lại mọi chuyện.
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự cách tân về tiểu thuyết là sự ra đời
Từ đầu thế kỷ XX vấn đề người kể chuyện đã được các nhà hình thức chủ
nghĩa Nga (A.Veksler, I.Gruzdev, V.Shklovski, B.Eikhenbaum) và nhóm các
nhà nghiên cứu Bắc Âu viết bằng tiếng Đức (W.Dibelius, K.Friedemanm,
K.Forstreuter) đặc biệt quan tâm đến. Tuy nhiên phải qua công trình của
những nhà nghiên cứu thế hệ sau, những người đặt nền móng cho “ trần
thuật học” như P.Lubbock, N.Friedman, Tz.Todorov, P.Vanden Heuvel,
G.Genette “phương pháp hình thức” kết hợp với “mĩ học tiếp nhận” mới
đưa ra được quan điểm tương đối rõ ràng về người kể chuyện.
Tz.Todorov tuyên bố: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến
tạo thế giới tưởng tượng Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện”
[44, 116]. Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà
kể chuyện. Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể,
nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc
biệt. Trên cơ sở lý thuyết giao tiếp, lý thuyết “giọng” và “lời người khác”
của M.Bakhtin, qua thực tế nghiên cứu cấu trúc và chức năng của diễn ngôn,
vấn đề người kể chuyện được đặt ra trong mối quan hệ với người đọc giả
định, với vấn đề “điểm nhìn”, các loại hình, cấp độ và tình huống trần thuật.
[Dẫn theo Đỗ Hải Phong, 44, 117].
Chính vì thế, người kể chuyện có vai trò hết sức quan trọng trong tác
phẩm tự sự.
1.1.2. Vai trò của người kể chuyện
Nói như Michel Butor “Tiểu thuyết là một hình thức đặc biệt của trần
thuật”. Tam giác tự sự ba chiều “tác giả - nhân vật - độc giả” dần được
thay thế bởi sự huyền diệu và phức tạp hơn của tứ giác tự sự với “tác giả -
người tự sự - nhân vật - độc giả” [13, 32]. Ý kiến đó đã bao quát được tầm
quan trọng của nghệ thuật kể chuyện với các tác phẩm tự sự nói chung và
tiểu thuyết nói riêng. Mỗi tác phẩm đến với người đọc qua “vai trò trung
gian giữa chủ thể sáng tạo và tác phẩm đồng thời vừa là đại diện của tác
giả” – đó chính là hình tượng người kể chuyện, người tự sự hay còn gọi là
người trần thuật. Cho dù hiểu như thế nào thì đó cũng là hình tượng đóng vai
nữ, nhà văn phản ánh đúng bản chất của xã hội để từ đó đi đến tận cùng cái
gốc rễ của nhân sinh, của nhân tình thế thái. Chính phong cách này đã tạo
cho Thiết Ngưng luôn mới mẻ, bí ẩn, cuốn hút trong một loạt tiểu thuyết
như: Những người đàn bà tắm, Cửa hoa hồng, Thành phố không mưa
1.2. Người kể chuyện trong Những người đàn bà tắm
Những người đàn bà tắm của Thiết Ngưng là cuốn tiểu thuyết Trung
Quốc đương đại giàu tính cách tân. Tính cách tân trong tiểu thuyết thể hiện
rõ nhất ở phương thức tự sự của tác phẩm đó là lối tường thuật xen kẽ giữa
ngôi thứ nhất, thứ hai, thứ ba của nhân vật và sự di chuyển linh hoạt giữa các
điểm nhìn. Theo lối kể chuyện phức tạp và phong phú này, ý thức đạo đức
mạnh mẽ của tác giả (thay vì ý thức chính trị) làm thăng hoa ước vọng cá
nhân và hồi sinh lịch sử, quá khứ.
1.2.1. Đa dạng người kể chuyện
Người kể chuyện trong các tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc luôn xuất hiện
với tư cách là người dẫn chuyện (thuyết thư nhân), đây là hình thức người
đứng bên ngoài kể chuyện. Nó tựa như một cuốn phim sống động xuất hiện
trước mắt độc giả nhưng họ lại không thể tham gia vào “bộ phim” đó. Bởi lối
kể chuyện này tuy nói rõ về thời điểm phát sinh của câu chuyện, nhưng lại
tạo ra khoảng cách giữa nhân vật và tác giả, giữa nhân vật trong tiểu thuyết
và người tự sự. Người dẫn chuyện tựa như một vị Thượng đế ngự trị phía
trên thế giới tiểu thuyết. Vị Thượng đế ấy hiểu rõ như lòng bàn tay mọi khía
cạnh, mọi tình huống của tiểu thuyết và ngoại hình, nội tâm của mọi nhân
vật. Để lôi cuốn độc giả, tác giả không ngay lập tức nói toạc ra tất cả những
điều mình đã biết. Chính vì thế, rất khó tránh khỏi sự công thức, rập khuôn
giữa các bộ tiểu thuyết. Ngày nay, trong tiểu thuyết hiện đại đã xuất hiện
những kết cấu, cách thức hết sức đa dạng và phong phú. Và để bộc lộ những
suy tư trăn trở, những vật lộn giằng xé, không gì hữu hiệu hơn bằng phương
thức “tự thể hiện”. Đó chính là người kể chuyện từ ngôi thứ nhất.
1.2.1.1. Người kể chuyện từ ngôi thứ nhất
Với những ai đã từng đọc Những người đàn bà tắm và chú ý đến từng
vật.
M. Jahn cho rằng: Trần thuật ngôi thứ nhất (first – person narrative)
được kể bởi một người kể chuyện hiện diện trong tác phẩm với tư cách một
nhân vật; đó là một câu chuyện về những sự kiện mà bản thân nhân vật ấy
trải nghiệm, một câu chuyện về sự trải nghiệm của cá nhân. Cá nhân hành
động như là một người kể chuyện (cái “tôi” kể chuyện), hoặc là một nhân vật
(cái “tôi” trải nghiệm) ở cấp độ hành động. Trong trần thuật ngôi thứ nhất,
đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất vừa chỉ người kể chuyện (cái “tôi” kể chuyện
hoặc người tự kể chuyện) hoặc một nhân vật trong câu chuyện (cái “tôi”
trong câu chuyện). Nếu người kể chuyện là nhân vật chính, thì đó là cái “tôi”
vai chính, nếu người kể chuyện là nhân vật phụ thì đó là cái “tôi” - chứng
nhân.
Xét về điểm nhìn trần thuật ở ngôi thứ nhất thì câu chuyện được kể
xuất phát từ nhận thức về cái “tôi” kể chuyện (quan điểm diễn ngôn điển
hình: Tôi từng biết khi đó tôi biết gì) hoặc từ cấp độ giản đơn và giới hạn
trong sự hiểu biết của cái “tôi” trải nghiệm (người quan sát bên trong). Về
mặt nhận thức luận, những người kể chuyện ngôi thứ nhất bị giới hạn bởi
những giới hạn con người: họ không thể ở hai nơi cùng một lúc, không biết
điều gì trong tương lai sẽ xảy ra, trong hoàn cảnh bình thường họ không thể
kể về cái chết của chính mình và họ có thể không bao giờ biết chắc chắn
những nhân vật khác nghĩ hoặc tưởng tượng những gì.
Khiêu là nhân vật “tôi” xuyên suốt từ đầu cho đến cuối tác phẩm -
chứng nhân cho mọi khổ đau và hạnh phúc của mọi người. Là cô gái xinh
đẹp và trưởng thành hơn so với các bạn cùng lứa, Khiêu có những suy nghĩ
chín chắn mang đậm tính triết lý. Bị ám ảnh bởi cái chết của bé Thuyên,
Khiêu nhìn cuộc đời với thái độ dè chừng, mặc cảm đặc biệt là trong mối
quan hệ nam nữ. Quen biết với những hạng đàn ông trong xã hội, Khiêu xây
dựng cho mình chức năng miễn dịch trước những lời cám dỗ. Trái tim cô chỉ
hướng về một người đàn ông. Đó chính là Trần Tại. Tình yêu của anh như
sợi dây nối cánh diều lòng Khiêu, dù bay đi đâu, đến phương trời nào thì
Vì thế, nếu xem xét thư tín trên góc độ kết cấu tác phẩm ta sẽ không thấy có
gì đặc biệt, bởi mọi dụng công nghệ thuật của Thiết Ngưng ở hình thức thư
tín này giành cả cho mục đích thể hiện cái “tôi” nhân vật.
Tìm hiểu Những người đàn bà tắm nhận thấy rằng, nhân vật luôn tự
nói với bản thân, tự ngẫm nghĩ về những “màu sắc’’, “âm thanh” của cuộc
sống. Đó là dấu hiệu tự truyện hết sức quan trọng thường xuất hiện trong
trần thuật ngôi thứ nhất. Chẳng hạn khi thấy Mạnh Do Do nói về cách mạng
với thái độ hồn nhiên, trẻ thơ, Khiêu thầm nghĩ “Do Do ơi, đằng ấy thông
minh và đáng yêu quá!”, hay khi thấy Phi tự nhận mình hạnh phúc như
những diễn viên trên màn ảnh, Khiêu ngỡ ngàng, lạ lẫm “Mình đã sống như
trên phim ảnh rồi, thật là to gan, ngang tàng, trên đời này không có gì làm
Đường Phi phải sợ. Những người con gái có người yêu, phải chăng đều
ngang tàng, bất chấp tất cả như Đường Phi?” [5, 144]. Ngay cả khi có
những giây phút rạo rực bên Mark ở xứ người, Khiêu vẫn không thôi chất
vấn bản thân “Mark không hiểu, làm sao anh có thể hiểu được. Tất cả của
tôi làm sao anh hiểu nổi”.
Đôi khi giữa ngôi thứ nhất và ngôi ba chỉ là ranh giới hết sức mong
manh. Nhưng xét theo kết cấu tâm lý của nhân vật thì có thể hiểu rằng, đây
là những thắc mắc, những nghi vấn mà nhân vật đã đặt ra cho mình “Quá
mức giữ gìn có trở thành tàn nhẫn vô nhân đạo không? Khiêu cần được bù
đắp, có quyền được bù đắp, bù đắp không phân biệt phải trái trắng đen,
thoát khỏi những toan tính bản thân, nắm lấy không gian, không gian có thể
cho mình tự do, có thể chú ý đến mình. Ở đâu? Ở đây, ở xứ người, ở mảnh
đất xứ người. Ở nước khác, ở đất nước người mới tìm thấy không gian của
mình. Lẽ nào kết luận này không chút vô lý sao?” [5, 328] .
Không chỉ đa dạng bằng các phương thức mà người kể chuyện còn
xuất hiện ở những nhân vật khác nhau. Khi “tôi” là Khiêu, khi “tôi” là Trần
Tại, khi “tôi” là Phàm, khi “tôi” là Phi…
Phàm là nhân vật trốn chạy với nỗi cô đơn không thể ngỏ cùng ai. Cô
ghen ghét, hằn học với tất cả mọi người nhất là với Khiêu. Phàm không bao
các nhân vật khác. Tuy với tần suất khác nhau, nhưng các nhân vật được góp
“tiếng nói riêng” vào sự hoàn chỉnh cho bức tranh của tác phẩm. Sự “hỗ
trợ”của các nhân vật trong quá trình tự sự đã làm cho hình tượng người kể
chuyện trong Những người đàn bà tắm hiện lên sinh động và đa dạng hơn.
Các nhân vật như Khiêu, Phàm, Đường Phi đều được dành một
khoảng thời gian để suy ngẫm về cuộc sống, con đường mình lựa chọn. Đặc
biệt trích đoạn tự truyện giữa Khiêu và Trần Tại là minh chứng thuyết phục
nhất để khẳng định Những người đàn bà tắm được trần thuật ở ngôi thứ
nhất (thông qua hình thức tự truyện, nhân vật trực tiếp xưng “tôi” để kể về
những trải nghiệm của mình). Tuy không được thể hiện thông qua hình thức
thư nhưng nội dung của những lời thổ lộ ấy như là một bức thư. Nhân vật
xưng “tôi” và hướng đến đối tượng tiếp nhận là một nhân vật mà mình nói
đến.
Đoạn tự truyện này tập trung nhất ở chương hai (Thời của những cái
gối). Đây là một cuộc đối thoại ngầm và bằng phương thức tự truyện. Qua
phương thức này, câu chuyện của nhân vật mới được hé lộ. Chuyện tình giữa
Khiêu và Trần Tại là câu chuyện đẫm nước mắt. Yêu nhau trong suy nghĩ,
trong giấc mơ và hơn thế cũng chỉ qua ánh mắt nhưng dường như họ sinh ra
là để cho nhau. Lời tự bạch của Doãn Tiểu Khiêu (trang102) và Trần Tại
(trang 107) ở hai thời điểm khác nhau nhưng có thể xâu chuỗi lại thành một
cuộc đối thoại đầy đặn, súc tích bằng cặp phạm trù Tôi – Anh và Tôi - Em
Doãn Tiểu Khiêu Trần Tại
Tại sao tôi gặp anh toàn vào những
lúc không may nhất? Khi tôi không
muốn gặp ai thì lại phải gặp anh.
Những lúc tươi tỉnh, hãnh diện, vui
vẻ nhất thì anh không có mặt. Tối
hôm ấy tôi đứng bên vỉa hè đấm vào
cái thùng thư quyên rằng người khác
Tại sao những lúc em có điều không
nhìn rõ mặt em, nhưng trên con
người em, bóng đen trên người em,
thật lạ kỳ tôi cảm nhận được nỗi đau
sâu sắc chưa từng gặp ( ). Nỗi đau
chân chính không bao giờ bộc lộ ra
ngoài, nỗi đau thật sự có thể chỉ là
của một cô bé đứng ôm lấy thùng thư
dưới ánh đèn mờ ảo. Tôi không thể
không xúc động bởi nỗi đau của em,
nỗi xúc động ấy sẽ theo tôi suốt đời.
Đã có lúc tôi nghĩ rằng, lời thề thốt
kia chỉ là sự bồng bột nhất thời của
tuổi trẻ, chỉ là bản năng đồng cảm
với cái nhỏ yếu. Lúc đó tôi chưa phải
là người lớn, tuy tôi hơn em năm
tuổi. Nhưng tôi đã nhầm, tình yêu bất
diệt của tôi đối với em bắt đầu từ khi
em mới mười hai tuổi, bắt đầu từ
buổi tối em đứng ôm thùng thư kia.
Vào buổi trưa hè, tôi một mình chơi
nhảy dây chun ở trước cửa ( ).Tôi
vươn nhẹ chân, vươn nhẹ chân phải
lên sợi dây nhưng động tác quá
mạnh, mất thăng bằng, tôi ngã ( ).
Mặt tôi đập xuống đất, rách cả đầu
gối. Tôi là người sĩ diện, ngã đau
như thế còn cố nhìn chung quanh
Buổi trưa hè năm ấy, buổi trưa mà
em nhảy dây bị ngã, kì thực tôi cũng
cố ý đi xe qua đó. Tôi mong thấy em
dự cảm xa vời, em làm tôi cảm nhận
thật đầy đủ em sẽ là bất động sản
trong tim, trong cốt tủy tôi.
Nhiều năm sau về sau, tôi đã thành
người lớn. Vào mùa đông Phương
Kăng bỏ tôi mà đi, tôi viết thư bắt
anh ta phải trở lại gặp tôi ở Phúc
An. Anh ta đồng ý, nhưng lại nói rất
bận, chúng tôi chỉ có thể nói chuyện
với nhau ở ga xe lửa ( ). Cuối cùng
anh ta nói, em yeu anh là một sai
lầm, em hãy bình tĩnh bắt đầu lại
cuộc sống của mình. Anh ta vênh vác
tự đắc, nói rồi đứng dậy bỏ đi ( ).
Im lặng nhưng sóng cuộn dâng. Tôi
không biết anh ta đi từ lúc nào ( ).
Tâm trí tôi yếu đuối đến cực điểm,
ngu xuẩn đến cực điểm. Tôi giận anh
ta nhưng cũng nhớ anh ta. Tôi ngồi
lại nơi đó không chịu đi, bởi Phương
Kăng vừa ngồi đây xong, nơi đây
Nhiều năm qua tôi không ra công tìm
kiếm cơ hội để nói với em về cảm
tưởng của mình, tôi không nghĩ rằng
trong phòng đợi tàu bỗng nhiên em
lại nói với tôi mọi chuyện của em.
Tôi không ngờ em lại tin cẩn tôi mà
không giữ lại chút gì, niềm tin ấy tàn
nhẫn quá, nó vô tình đẩy tôi xa em
hơn. Tôi không thể bày tỏ tình yêu