những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư giữa việt nam và nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào - Pdf 24

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Họ và tên: Sisavai
Lớp : Kế hoạch 48A
Khoa: Kế hoạch và phát triển
Đề tài:
“ Những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư giữa
Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu là mục đích của các doanh nghiệp Việt Nam
đang theo đuổi. Chúng ta không chỉ tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà
còn tích cực tiến hành đầu tư ra nước ngoài, tham gia vào một sân chơi mới mà các
quốc gia sẽ mở rộng cửa cho doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương
mại thế giới WTO. Đây là xu hướng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng
cạnh tranh cũng như tiến xa hơn trên trường quốc tế.
Lào là quốc gia gần gũi, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam và có mối
quan hệ đặc biệt với Việt Nam. Trong quá trình đầu tư ra nước ngoài, Lào là lựa
chọn hang đầu cho các doanh nghiệp mới tham gia vào kinh doanh quốc tế và trở
thảnh nhà đầu tư nước ngoài. Do vậy việc nghiên cứu về môi trường đầu tư của Lào
cũng như tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang Lào là rất cần thiết.
Từ nhu cầu đó em chọn nghiên cứu đề tài: “Những giải pháp chủ yếu để nâng cao
hiệu quả hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào”.
1. Mục đích nghiên cứu: Đánh giá chung nhất về hoạt động đầu tư của Việt
Nam ra nước ngoài, so sánh hoạt động đầu tư của Việt Nam sang Lào so với
hoạt động đầu tư ra nước ngoài nói chung và đề xuất một số biện pháp nhằm

1.1 Khái quát về đầu tư của Việt Nam sang Lào
1.1.1 Lịch sử quá trình đầu tư của Việt Nam sang Lào
Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương (Indochina) nơi liền nơi, sông liền sông,
có đường biên giới chung chạy dài hàng nghìn km, Việt Nam và Lào (cùng với
Campuchia) vốn có sự gần gũi, thân thiết cố hữu. Là điểm giao thoa, là cầu nối giữa
nhiều phần của đại lục châu Á được các nhà địa chính trị Pháp coi là góc của châu Á,
“một thế giới giữa hai thế giới” như cách nói của nhà xã hội học Pháp Paul Mus, hai
dân tộc Việt Nam và Lào đã có sự liên hệ trong lịch sử trường kỳ dựng và giữ nước.
Thế kỷ XV đã chứng kiến sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa nghĩa quân Lam Sơn và
nhân dân các bộ tộc Lào, cả về vũ khí, đạn dược, trang bị đến căn cứ chiến đấu. Sang
thế kỷ thứ XIX, vận mệnh của hai dân tộc lại gắn bó với nhau khi kẻ thù chung là thực
dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân
các bộ tộc Lào che chở, giúp đỡ mỗi lần bị truy đuổi. Phong trào Cần Vương của vua
quan triều đình Huế cũng đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ các bộ tộc Lào anh em
nơi vùng biên. Các nghĩa quân của các bộ tộc Lào chống Pháp cũng nhận được sự giúp
đỡ, phối hợp của các lực lượng yêu nước chống Pháp ở các tỉnh biên giới Việt Nam -
Lào. Sự hợp tác tự nguyện và tự giác ban đầu đó đã đặt nền móng vững chắc cho bước
phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc ở thế kỷ XX khi hoàn cảnh lịch
sử đặt ra cho mỗi dân tộc và cả hai dân tộc những thách thức hết sức khó khăn cần phải
vượt qua. Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930 là một bước đột phá trong
việc nâng cao ý thức tự giác của các dân tộc Đông Dương trong cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc và chống kẻ thù chung. Suốt giai đoạn dài hai dân tộc đấu tranh giành
độc lập và thống nhất, mối quan hệ gắn bó truyền thống giữa hai dân tộc Việt - Lào đã
có bước chuyển mới về chất. Từ những nhu cầu tự phát, các mối quan hệ giữa hai dân
tộc được nâng cao lên mức tự giác, tự giác trong nhận thức, tự giác trong hành động.
Sau năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời, hợp tác kinh tế,
văn hoá, khoa học kỹ thuật Việt Nam - Lào không ngừng được củng cố và ngày
càng được hoàn thiện cùng với quá trình phát triển và hội nhập của mỗi nước theo
từng giai đoạn.
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A

quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn này. Kinh nghiệm lịch sử trong
quan hệ hai nước cho thấy, nếu không có sự nhất trí về quan điểm, đường lối, không
có đường hướng chính trị phù hợp thì không thể xây dựng được mối quan hệ đặc
biệt giữa hai quốc gia, hai dân tộc. Một khi thống nhất về quan điểm, đường lối
chiến lược thì dự có một số khác biệt nào đấy, cũng có thể đi đến thống nhất để
cùng nhau xây dựng lên mối quan hệ tốt đẹp.
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Thành quả đạt được trong công cuộc đổi mới của Việt Nam vào những năm
1990-1992 đã trực tiếp tác động tới quan hệ hợp tác giữa hai nước. Hợp tác kinh tế
được quan tâm, phía Lào đánh giá cao những thành tựu kinh tế và quản lý của Việt
Nam thông qua các chương trình hợp tác chuyên gia, trao đổi kinh nghiệm trong
lĩnh vực quản lý kinh tế và nông nghiệp.
Các vấn đề liên quan đến quan hệ hợp tác ở tầm vĩ mô như: quản lý biên
giới, kiều dân, quản lý thương mại, thanh toán và du lịch, đào tạo cán bộ, chuyên
gia, lao động, xuất nhập cảnh, quá cảnh hàng hoá và chiến lược hợp tác về kinh tế,
văn hóa, khoa học kỹ thuật được đặt ra với sự chỉ đạo sát sao giữa hai nước.
Mặc dù có sự điều chỉnh, song kết quả hợp tác giai đoạn này còn rất hạn chế.
Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn lực kinh tế hạn hẹp của mỗi nước sau sự khủng
hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa và tình hình lạm phát của Việt Nam. Một số
chương trình hợp tác được hai bên thoả thuận vào những năm 1980-1985 đã tạm
hoãn hoặc chưa thực hiện trong giai đoạn này. Hai bên tập trung chủ yếu nguồn
viện trợ hàng năm vào đào tạo cán bộ, chuyên gia và cũng chính kết quả đào tạo của
nhiều năm qua đó tạo ra một đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, hiểu biết lẫn nhau
trong phối hợp hợp tác. Nhiều cán bộ đã giữ những cương vị chủ chốt trong nhiều
lĩnh vực của Lào.
- Từ năm 1992-2005: Với quyết tâm xoá bỏ cơ chế bao cấp, cải tiến cơ chế
hợp tác phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế trong giai đoạn mới và thông lệ quốc tế
trong quá trình hội nhập, đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi bên, có sự ưu tiên

nguyên tắc “ Hợp tác bình đẳng cùng có lợi, kết hợp thoả đáng tính chất quan hệ
đặc biệt với thông lệ quốc tế, ưu tiên ưu đãi hợp lý cho nhau”, kết hợp giữa các hình
thức hợp tác truyền thống với các hình thức hợp tác trong điều kiện hai nước
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và
bước đầu tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Trong 5 năm 1996 - 2000, Việt Nam đã dành cho Lào một khoản viện trợ
không hoàn lại 346.570 triệu VND, tương đương với 26,6 triệu USD, tăng 10,83%
so với Hiệp định khung ký kết giữa hai Chính phủ để thực hiện 31 dự án trực tiếp
trên đất Lào với số vốn chiếm 51,4% tổng vốn viện trợ và 46,29 % dành cho đào tạo
cán bộ, học sinh Lào tại Việt Nam. Đặc biệt trong 5 năm qua hai Bên đã có những
chuyển hướng trong việc sử dụng nguồn vốn viện trợ vào công tác điều tra cơ bản
và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên các vùng lãnh thổ cũng như
các ngành, lĩnh vực của Lào. 33,57% vốn viện trợ đã được dành cho công việc này,
trong đó quy hoạch nông nghiệp 6 dự án chiếm 36,5%, thuỷ lợi 2 dự án quy hoạch
cho 11 cánh đồng chiếm 25,2%, quy hoạch kinh tế xã hội 2 dự án chiếm 15,7% và
đo đạc bản đồ 2 dự án chiếm 22,6%.
Những nội dung hợp tác chủ yếu đạt được trong giai đoạn này là:
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
(i). Lần đầu tiên các nội dung hợp tác mang tính chiến lược tạo tiền đề cho
việc triển khai hợp tác những năm sau này được đặt ra.
(ii). Nhiều chương trình, dự án hợp tác tạm đình hỗn của giai đoạn 1985-
1990 được tiếp tục thực hiện trong lĩnh vực nông nghiệp và tạo cơ sở vật chất cho
giáo dục. Đặc biệt trong quy hoạch và phát triển lương thực 7 cánh đồng lớn, trọng
điểm, giúp Lào đảm bảo an ninh lương thực, đạt 400 kg/người và hoàn thành hệ
thống 04 trường dân tộc nội trú từ Bắc đến Nam Lào, tạo điều kiện học tập cho các
con em đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa của Lào.
Việc phối hợp chỉ đạo và điều chỉnh kịp thời hình thức hợp tác chuyển từ
viện trợ cụ thể sang nghiên cứu quy hoạch chiến lược, xác định mục tiêu, đã tạo

Việt Nam trong quan hệ hợp tác giữa hai bên.
Ngoài ra, hai bên đã sửa đổi bổ sung nhiều văn bản hợp tác khác, kịp thời
đáp ứng yêu cầu hợp tác hai nước trong tình hình mới như: sửa đổi bổ sung Hiệp
định về biên giới (1997); bổ sung Hiệp định hợp tác lao động (1999); sửa đổi, bổ
sung Hiệp định quá cảnh hàng hoá (2000) và ký kết những văn bản quan trọng,
giải quyết nhiều vấn đề thực tế, góp phần tăng cường thúc đẩy quan hệ giữa hai
nước như: Thoả thuận về việc tạo điều kiện cho người và hàng hoá qua lại biên giới
hai nước, còn gọi là “Thỏa thuận Cửa Lò 1999” nhằm tháo gỡ những khó khăn cho
người và hàng hoá qua lại giữa hai nước; Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư
song phương giữa hai nước được ký ngày 14 tháng 01 năm 1996; Hiệp định
Thương mại thời kỳ 1991-1995 chấm dứt hình thức ký Nghị định thư trao đổi hàng
hoá hàng năm và xoá bỏ tình trạng bao cấp của Nhà nước, đã mở ra một thời kỳ mới
trong quan hệ thương mại hai nước, cho phép mở rộng đối tượng trao đổi, không
hạn chế các tổ chức, cá nhân tham gia trao đổi hàng hoá, không hạn chế kim ngạch
trao đổi, mở rộng danh mục hàng trao đổi trừ các mặt hàng cấm xuất và cấm nhập
của mỗi nước.
Giai đoạn 2001-2005, ngoài ưu tiên cho đào tạo, đây là giai đoạn thực hiện
cam kết điều chỉnh việc sử dụng viện trợ không hoàn lại. Một sự chuyển biến từ tư
duy hợp tác giúp đỡ lẫn nhau theo khả năng và vụ việc sang hợp tác đồng bộ, có
trọng điểm, đảm bảo hiêu quả toàn diện cả về kinh tế lẫn hiệu quả tác động đến
quan hệ hai nước.
1.1.2 Các hình thức đầu tư của Việt Nam sang Lào
Hai hình thức đầu tư chính sang Lào đó là ODA(Official Development
Assistance), FDI(Foreign Depository Interest)
A, Hình thức đầu tư ODA
ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance,
có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính
thức. Năm 1972, OECD, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra khái niệm
ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao

một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng
buộc về chính trị. Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về
mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận
tài trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng
hóa và dịch vụ của nước mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu
cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu
cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp. Nhìn chung, 22% viện trợ
của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ.
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của
nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho
mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư
vấn vào nước tiếp nhận viện trợ.
- ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ: Vốn ODA không có khả năng đầu
tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất
khẩu thu ngoại tệ. Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả,
tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ.
B, Hình thức đầu tư FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn
đầu tư và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá
nhân nước ngoài (chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vốn
đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn tạo ra.
Đặc điểm của nguồn vốn FDI
- Đây là hình thức đầu tư sử dụng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư
tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận phụ thuộc vào
kết quả sản xuất kinh doanh và được chia theo tỷ lệ vốn góp. Đầu tư theo
hình thức này không có những giàng buộc về chính trị, không để lại gánh nợ

2010, do khó khăn của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, nguồn
ODA của hầu hết các nước trên thế giới có xu hướng giảm đáng kể. Tuy nhiên,
trong bối cảnh đó, năm 2007, Chớnh phủ Lào đó nhận được nguồn ODA từ các nhà
tài trợ cam kết dành cho Lào là 433 triệu USD, bằng 11% GDP của cả nước
(1)
.
B,Viện trợ không hoàn lại của Việt Nam vào Lào
Trong tổng thể chung, viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam dành
cho Chính phủ Lào chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng số viện trợ không hoàn
lại mà Lào nhận được từ các nước và các tổ chức quốc tế.
Theo số liệu tổng hợp 1994-2009 viện trợ không hòan lại của Việt Nam
chiếm khoảng 15,22% trong tổng số viện trợ không hoàn lại của các nước và các tổ
chức quốc tế dành cho Lào giai đoạn 1996-2005 (Biểu số 2), 6,66% trong năm tài
chính 2007-2008 và 7,68% năm tài chính 2008-2009.
Nếu so sánh với viện trợ không hoàn lại trong hợp tác song phương với các
nước dành cho Lào năm tài chính 2008-2009, Việt Nam hiện đứng thứ hai với 18,81
triệu USD chỉ sau Nhật Bản Là 59,98 triệu USD năm 2009. Ttiếp đến Thụy Điển,
Đức, úc và Pháp và những nước viện trợ không hoàn lại và cho vay dưới 1triệu
USD/năm là Na Uy, Đam Mạch, Niu-Zi-lơn, Lúc-Xăm-Bua và Phần Lan
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Biểu số 1: VIỆN TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI CỦA VIỆT NAM TRONG
TỔNG ODA HUY ĐỘNG CHUNG CỦA LÀO
Đơn vị triệu USD
Giai đoạn
Tổng vốn viện trợ chung các
nước và Tổ chức dành cho Lào
(1)
Viện trợ không hoàn lại của

2001-2005 574.04 44.16 8.83
2006-2009 1216.52 590 50.60 16.87
Trong đó:
2006-2007 433 180 12.86
2007-2008 417.05
133.0
2
284.0
3 180 18.93
(3)
6.66
2008-2009 366.47
111.4
8
244.9
9 230 18.81
(3)
7.68
Tổng số
8146.5
2
Nguồn: (1)- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế Bắc Lào 2008-2020, tháng 10
năm 2008.
(2)- Kế hoạch hợp tác với Lào hàng năm - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(3)- Cục Hợp tác quốc tế - phòng hợp tác ODA - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
CHDCND Lào năm 2008 (tính theo năm tài chính)
1.2.2 FDI
A, Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp của Lào từ những nước khác
Trong 5 năm 2001-2005, Lào đã thu hút được 585 dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài với tổng số vốn cam kết đạt khoảng 208 tỉ USD; trong đó khu vực

2,1 tỷ USD. Việt Nam vẫn đứng thứ 3 với 189 dự án có tổng vốn đăng ký là hơn 1,9
nghìn tỷ USD.
Lĩnh vực được đầu tư vào Lào nhiều nhất là cây công nghiệp, khai thác và
chế biến khoáng sản, xây dựng thủy điện. Cụ thể, Việt Nam có 27 dự án trồng cây
cao su, cây công nghiệp với tổng vốn đăng ký 501 triệu USD, chiếm 17% tổng vốn
đầu tư của Việt Nam sang Lào. Khai khoáng (bao gồm khảo sát và thăm dò) đạt
tổng vốn đầu tư 222,3 triệu USD. Thủy điện có 30 dự án, tổng công suất 4.726
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
MW, trong đó 3 dự án đã được triển khai (tổng công suất 650 MW) gồm Xekaman
III 250 MW, vốn đầu tư 273 triệu USD đã khởi công tháng 4/2006; Xekaman I công
suất 290 MW, vốn đầu tư 441,6 triệu USD; Nặm Mộ công suất 110 MW, vốn đầu
tư 142 triệu USD.
ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM SANG LÀO QUA CÁC NĂM
STT Năm Số dự án Vốn đăng ký
1 1993 1 -
2 1994 2 1,306,811
3 1998 1 1,500,000
4 1999 4 710,000
5 2000 9 5,189,370
6 2001 1 884,000
7 2002 1 392,000
8 2003 7 5,254,870
9 2004 5 3,367,928
10 2005 17 387,692,896
11 2006 14 55,160,960
12 2007 33 616,388,498
13 2008 51 448,630,718
Tổng số 146 1,526,478,051

Từ một nước nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên không chủ
động được về lương thực. Năm 1976 đất nước Lào chỉ sản xuất được 661.000 tấn
với diện tích canh tác là 524.600 ha trên tổng diện tích sản xuất lúa là 317.700 ha,
diện tích rẫy 204.100 ha và diện tích lúa vụ chiêm 2.700 ha, năng suất bình quân
1,26 tấn/ha, bình quân lương thực đầu người chỉ đạt 229kg/ người/năm cả nước còn
thiếu 204.900 tấn thúc.
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Mười năm sau, năm 1985 sản lượng lương thực đạt 1.395.000 tấn, gấp 2 lần
năm 1976. Năng suất bình quân đạt 2,1tấn/ha, bình quân lương thực đầu người
386kg/ người/ năm.
Sau 20 năm đất nước được giải phóng, năm 1995 sản xuất lương thực đã đạt
1.577.000 tấn, năng suất bình quân 2,58 tấn/ha, bình quân lương thực đầu người
được 344 kg/người/ năm.
Từ năm 1994 đến năm 2010 Việt Nam đã dành 11,89% tổng viện trợ không
hoàn lại cho 19 chương trình dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn của Lào,
trong đó tập trung chủ yếu từ năm 1997 đến năm 2000. Bằng nhiều hình thức từ hỗ
trợ giống vật nuôi cây trông, sự giúp đỡ chân tình của các chuyên gia trực tiếp tới
các bản làng đến quy hoạch và hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy lợi, trên 7 cánh
đồng lớn của Lào tại Viêng chăn, Xa-va-na-khét, Khăm muội, Chăm-pa-sắc, Xờ
pôn, At-ta-pư, Bơ-ly-khăm-xay, giúp Lào xây dựng chiến lược về an ninh lương
thực và xây dựng các hệ thống thủy lợi lớn phục vụ cho mục tiêu phát triển nông
nghiệp và nông thôn gồm: Hệ thống thủy lợi sông Nậm Ngừm - Hồng Sa, Hệ thống
thủy lợi Đông-phu- xỉ và Thà-phạ-nong-phông tỉnh Viêng chăn và Hệ thống thủy
lợi Nậm Long tỉnh Hủa phăn Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng và được
phía Lào đánh giá cao trong chiến lược an ninh lương thực của Lào.
Nhờ vào quyết tâm của Chính phủ và có sự hỗ trợ của nguồn vốn ODA của
nước ngoài và những đóng góp quan trọng của Việt Nam, năm 2008 năng suất
lương thực đạt 4,76 triệu tấn, bình quân lương thực đầu người đã tăng lên 806

huyện Xiềng-Ngân, Nặm-Bạc (Luông-pra-băng) và vùng trồng rau Văng viêng
(Viêng chăn); xây dựng mô hình thí điểm phục vụ nông nghiệp tại Phun sủng,
Chăm-pa-sắc, Lắc sao, và Hạt siều; Xây dựng bệnh viện tỉnh Bị Kẹo….
*Có những đóng góp thiết thực vào kế hoạch phát triển nguồn nhân lực
của Lào.
Lào là một nước đất rộng người thưa, nguồn nhân lực khan hiếm, nhất là lao
động có tay nghề và kỹ thuật cao. Đảng Nhân dân cách mạng Lào luôn coi trọng
việc phát triển toàn diện không chỉ về thể chất, trình độ hiểu biết về tri thức, nghề
nghiệp và đạo đức, xây dựng con người Lào mới có thế giới quan, nhân sinh quan
tiến bộ trong sáng, lành mạnh ngày càng được bổ sung và hoàn thiện ở nhiều mặt.
Nhờ nguồn ODA, tỷ lệ trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo, bậc phổ thông trung học
và ®ại học đến trường đã tăng từ 38% vào năm 1985 lên 54% năm 2005 và đến
năm 2007-2008 tỷ lệ trẻ em ở độ tuổi từ 6-10 tuổi đến lớp đạt 86,4%, tỷ lệ cấp học
phổ thông tiểu học đến trường đạt 53,3%, tỷ lệ cấp học phổ thông cơ sởđến trường
đạt 53,3% và tỷ lệ cấp học phổ thông trung học đạt 34,6%. Tỷ lệ học sinh trong dân
đã tăng lên từ 854.000 học sinh/100.000 dân năm 2005 lên 1.068 học sinh/100.000
dân năm 2007. Tỷ lệ biết chữ ở người lớn ở độ tuổi từ 15 tuổi trở lên đạt 78%.
Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2001 là 0,525, xếp thứ 135 trên thế
giới đã xuống thứ 133 vào năm 2005 và thứ 130 vào năm 2008 trong tổng số 177
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
nước. Lượng cung cấp Calo và Potein hàng ngày bình quân đầu người đã đạt định
lượng 2. 203 Calo và 60gam Protein.
Đây cũng là lĩnh vực hợp tác được hai Đảng và hai Nhà nước quan tâm và ưu
tiên hàng đầu trong chiến lược hợp tác giữa hai nước. Hai bên đã dành 43,25% viện
trợ không hoàn lại giai đoạn 1994-2010 cho đào tạo cán bộ, học sinh Lào tại Việt
Nam và 12,61% viện trợ để hình thành hệ thống Trường phổ thông dân tộc nội trú
U Đôm-xay, Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Viêng-chăn, Xa-va-na-khét, Chăm-pa-xắc,
At-ta-p từ Bắc tới Nam của Lào, xây dựng các cơ sở bồi dưỡng cán bộ và đào tạo

1 Cơ sở vật chât
đào tạo tại Lào
10 12.61 274,997 4,000 51,237 63,000 156,760
2 Nông nghiệp,
thuỷ lợi
19 11.89 259,374 7,900 79,075 136,499 35,900
3 Văn hoá, y tế, xã
hội
13 14.31 312,111 8,000 65,570 34,783 203,758
4 Điều tra cơ bản,
đo dạc bản đồ
9 5.57 121,530 5,800 31,623 65,107 19,000
5 Hỗ trợ giao
thông, biên giới,
cửa khẩu
10 2.82 61,515 21,015 40,500
6 Hỗ trợ kỹ thuật
các ngành
20 8.75 190,872 800 11,043 17,637 161,392
7 Quy hoạch 5 0.79 17,300 500 8,300 8,500
Nguồn: Kế hoạch hợp tác Việt Nam Lào hàng năm - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực là một trong những mục tiêu ưu
tiên của nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nói chung cho Lào. Trong đó
viện trợ không hoàn lại của Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong lĩnh vực
này so với các nước. Trong 5 năm số học bổng được cấp sang học tập tại Việt Nam
là 3.518 suất, với kinh phí là 520 tỷ VND, tương đương với 30 triệu USD. Riêng
năm 2009 là 115 tỷ VND, tương đương với 7 triệu USD. Con số này cao hơn 7 trên

dựng các tuyến đường 18B (Nam Lào) và tuyến đường 2E (Bắc Lào) và dành 2,8%
viện trợ không hoàn lại trong những năm 2001-2005 để giúp Lào nghiên cứu khảo
sát các tuyến đường sắt, đường bộ và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các cửa khẩu
của Lào thông thương với Việt Nam.
Kết quả này đã tạo điều kiện cho Lào trong những năm gần đây thu hút được
một khối lượng lớn nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo thống kê của Cục Khuyến khích đầu tư nước ngoài Bộ kế họach và đầu
tư Lào trong giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 3 năm 2008 trên địa bàn của cả nước
có 1.045 dự án đầu tư của nước ngoài, giá trị vốn đầu tư đạt 6,461 tỷ USD gồm 37
quốc gia vùng và lãnh thổ có dự án đầu tư vào Lào . Trong đó, đứng đầu là Thái
Lan 179 dự án, với giá trị vốn đầu tư đạt 1.380 triệu USD. Trung Quốc được xếp
thứ hai, 259 dự án, với giá trị vốn đầu tư đạt 1.285 triệu USD và thứ 3 là Việt Nam
129 dự án với vốn đầu tư 574,7 triệu USD.
Trong đó, tính đến tháng 8 năm 2009, đã có 190 dự án của các doanh nghiệp
Việt Nam được cấp phép đầu tư vào Lào với tổng vốn đầu tư là 2,167 tỉ USD, đứng
đầu các nước đầu tư vào Lào, ở những lĩnh vực thương mại - dịch vụ, năng lượng,
khoáng sản, nông nghiệp, viễn thông, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, tài
chính, bảo hiểm… Được tập trung nhiều nhất là lĩnh vực thương mại - dịch vụ
chiếm 53,52%, tiếp theo là khai khoáng chiếm 15,6%, thủy điện chiếm 12,74% và
trồng cây công nghiệp chiếm 12,57% so với tổng vốn đầu tư.
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Chỉ tính riêng hơn 2 năm, từ 2006 đến tháng 3 năm 2008, Lào đã thu hút
được 418 dự án, bằng 40% số dự án trong suốt thời kỳ từ 2000 đến 3/2008 với vốn
đầu tư là 4,028 tỷ USD, bằng 62,34 % tổng số vốn trong thời kỳ này (xem biểu số
2). Điều này đó cho thấy nước ngoài đầu tư vào Lào ngày càng tăng, là cơ hội để
Lào khai thác những tiềm năng tiềm ẩn của mình vào mục tiêu phát triển kinh tế,
sớm đưa Lào ra khỏi các nước chậm phát triển trên thế giới.
1.3.2 Hạn chế

phát triển sản xuất hàng hóa không theo kịp với phát triển kết cấu hạ tầng; điển hình
là công suất sử dụng các công trình thủy lợi, giao thông, bến cảng, sân bay còn rất
thấp gây lãng phí cho nền kinh tế và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
• Các cân đối vĩ mô và ổn định kinh tế:Các cân đối vĩ mô chưa thực sự vững
chắc, dễ bị phá vỡ bởi những tác động từ những yếu tố khách quan, trong đó
thể hiện rõ nhất là trên một số măt:
Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư so với GDP tuy đã có bước cải thiện đáng kể,
nhưng còn thấp so với tiềm năng và yêu cầu phát triển. Chênh lệch giữa tiết kiệm
trong nước và đầu tư xã hội khá cao đòi hỏi phải nhập khẩu vốn nước ngoài. Việc
huy động nguồn tiết kiệm của dân cư vào đầu tư còn thấp do Nhà nước chưa tạo
thêm dược các nguồn thu và do các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế
chưa phát triển. Trong khi đó, vẫn chưa có chính sách, cơ chế cụ thể để biến đất đai
và các tài nguyên khác thành vốn đầu tư. Đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng còn
dàn trài; thời gian thi công các công trình kéo dài. Nợ xây dựng cơ bản lớn, gây áp
lực không nhỏ đối với cân đối ngân sách và ổn định giá cả.
Tỷ lệ thu ngân sách thấp và liên tục không đạt kế hoạch. Tình trạng thất thu
lớn. Mặc dù còn thấp so với yếu cầu, song chi đầu tư vẫn chiếm tỉ trọng cao trong
tổng chi ngân sách, làm cho chi tiêu thường xuyên thấp, không đáp ứng được yêu
cầu, ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả và hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà Nước,
đến phát triển các lĩnh vực xã hội và dịch vụ công cộng.
Bội chi và nợ của Chính phủ vẫn còn lớn và kéo dài nhiều năm; do đó vẫn có
nguy cơ trở thành nguyên nhân gây lạm phát cao, đe dọa sự ổn định kinh tế- xã hội.
Việc điều hành chính sách tiền tệ vẫn còn nhiều bất cập. Các công cụ chính
sách tiền tệ vẫn còn quá ít và chưa hoàn thiện, vẫn chủ yếu dựa vào các công cụ dự
trữ bắt buộc và phát hành tín phiếu ngân hàng; các nghiệp vụ cho vay tái cấp vôn,
nghiệp vụ thị trường mở chưa được sử dụng
Thị trường tiền tệ vẫn còn phát triển ở mức hạn chế. Tín dụng cho vay thấp;
chưa đáp ứng được nhu cầu; thời gian cho vay ngắn gây áp lực với các hoạt động
của các doanh nghiệp và khả năng thu hồi vốn của các ngân hàng thương mại. Nợ
tồn đọng của hệ thống ngân hàng lớn, tập trung chủ yếu của các ngân hàng thương

kế hoạch đào tạo dài hạn nhằm phân bố lại lực lượng lao động và dân cư hợp lý.
• Về hoạt động kinh tế đối ngoại: Đầu tư trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
vào các địa bàn khó khăn còn rất hạn chế; khả năng thu hút vốn đầu tư vào
khu vực công nghiệp còn thấp. Việc cấp phép đầu tư trong nhiều trường hợp
vẫn còn chậm và có nhiều thủ tục phức tạp. Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài còn gặp nhiều khó khăn do môi trường đầu tư chưa đủ thông thoáng,
thuận lợi, nhất quán và ổn định. Giá một số yếu tố đầu vào của nền kinh tế
như xăng, điện, cước viễn thông nhìn chung còn cao hơn nhiều nước trong
SV: Sisavai CHANTAPHOME Lớp: Kế hoạch 48A
25

Trích đoạn Xây dựng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đầu tư Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn viện trợ không hoàn lại dành cho Lào giai đoạn 2011-2020. Nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án đầu tư. Giải pháp về cơ chế, chính sách hợp tác;
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status