Một số giải pháp hoàn thiện việc sắp xếp lại lao động và giải quyết lao động dôi dư khi thực hiện CPH DNNN ở Tổng công ty thép Việt Nam - Pdf 24

Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ nhiều năm nay doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) luôn giữ vai trò chủ
đạo, chiếm lĩnh hầu hết các lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế như: Bảo
hiểm, ngân hàng, tài chính, dầu khí, vận tải, bưu điện... Tuy nhiên DNNN vẫn
chưa thực sự phát huy hiệu quả, chưa phát huy tốt vai trò nòng cốt của mình,
nhiều DNNN làm ăn thua lỗ gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước. Do đó sắp
xếp, đổi mới để phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN là yêu cầu bức thiết
của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong tình hình hiện nay khi nước ta đang
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cùng với xu thế hội
nhập kinh tế thế giới và khu vực, nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ năng
lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết. Có
nhiều giải pháp đổi mới DNNN như bán DNNN, CPH DNNN, cho thuê DNNN,
cải cách cơ chế quản lý trong DNNN... Nhưng trong điều kiện nền kinh tế nước
ta hiện nay thì cổ phần hoá (CPH) là một trong những giải pháp được lựa chọn
là phù hợp nhất. Đây là giải pháp mang tính chiến lược khi đất nước ta đang
đứng trước những yêu cầu mới về phát triển kinh tế.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Tổng công ty thép
Việt Nam cũng đang từng bước triển khai hoạt động sắp xếp, đổi mới và phát
triển Tổng công ty. Trong kế hoạch định hướng giai đoạn 2006 - 2010 Tổng
công ty dự định sẽ chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - công ty
con, tiếp tục CPH các đơn vị thành viên tiến tới CPH hoàn toàn công ty mẹ (Nhà
nước nắm cổ phần chi phối). Mở rộng kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất
kinh doanh thép là nền tảng để đủ điều kiện trở thành tập đoàn thép Việt Nam.
Trong tiến trình thực hiện đổi mới DNNN để CPH thực sự phát huy hiệu
quả, bên cạnh việc hiểu rõ về CPH và áp dụng CPH, cùng với việc xây dựng
phương án tổ chức sản xuất kinh doanh và các giải pháp huy động vốn thì việc
sắp xếp lại lao động và giải quyết chế độ chính sách đối với lao động dôi dư
cũng là một nhân tố quan trọng. Trong mọi thời kỳ, mọi tổ chức, mọi doanh
nghiệp lao động hay nói chung là nguồn nhân lực luôn đóng vai trò chủ đạo đối

hành CPH ở Tổng công ty thép Việt Nam. Trên cơ sở đó phân tích những
mặt đã đạt được cũng như những tồn tại cần giải quyết để có những giải
pháp hợp lý khi thực hiện.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc sắp xếp lại lao động và
giải quyết chế độ chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện CPH
DNNN ở Tổng công ty thép Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
2
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về CPH, việc sắp
xếp lại lao động và giải quyết chế độ chính sách cho số lao động dôi dư theo quy
định của Nhà nước ở Tổng công ty thép Việt Nam. Trong đó phân tích và minh
hoạ sâu thêm bằng thực tiễn của Công ty kim khí Hà Nội (đơn vị thành viên của
Tổng công ty thép Việt Nam).
4. Nguồn số liệu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên tình hình thực tiễn về CPH DNNN ở Tổng
công ty thép Việt Nam, thông qua nguồn số liệu sẵn có ở phòng Tổ chức lao
động Tổng công ty và Công ty Kim khí Hà Nội. Đồng thời tham khảo trên báo
chí, internet và các phương tiện truyền thông khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài: Phương
pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống
kê - so sánh...
6. Kết cấu của đề tài
Nội dung của luận văn gồm 3 phần chính:
Phần I: Cơ sở lý luận về sắp xếp lại lao động và giải quyết chế độ chính
sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện CPH DNNN.
Phần II: Thực trạng việc sắp xếp lại lao động và giải quyết chế độ chính
sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện CPH DNNN ở Tổng công ty thép Việt

kết hợp đồng lao động.
Lực lượng lao động trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao
động làm việc cho doanh nghiệp đó. Lực lượng lao động trong doanh nghiệp
được xem xét về mặt quy mô (số lượng) và kết cấu (chất lượng). Việc sử dụng
lao động có hiệu quả sẽ mang lại thành công cho doanh nghiệp.
2. Phân loại lao động
Trong thực tế có rất nhiều tiêu chí để phân loại lao động nhưng để phục vụ
cho mục đích nghiên cứu đề tài thì lao động ở đây được chia thành lao động có
việc làm, lao động thiếu việc làm và lao động thất nghiệp.
2.1 Lao động có việc làm
4
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
Người lao động có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm
dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra:
+ Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền
hay hiện vật.
+ Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công, hay lợi nhuận
trong các công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình.
+ Đã có công việc trước đó song trong tuần lễ trước điều tra tạm thời không làm
việc và sẽ trở lại tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ việc.
2.2 Lao động thiếu việc làm.
Lao động thiếu việc làm bao gồm những người có việc làm bấp bênh hoặc
đang có việc làm nhưng thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn quy định cho người
đủ việc làm (làm việc 40 giờ trong 5 ngày trở lên trong tuần lễ), tham gia không
đủ thời gian trong ngày, trong năm và hưởng thu nhập rất thấp không đủ sống từ
việc làm đó.
2.3 Lao động thất nghiệp.
Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt
động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu

1. Những vấn đề chung về CPH DNNN
1.1 Khái niệm và mục tiêu của CPH DNNN
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã được hình thành và phát
triển tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ. Trước tình hình đó đòi hỏi các DNNN phải
đổi mới, sắp xếp lại để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường. Một
trong những giải pháp được lựa chọn khi sắp xếp, đổi mới DNNN là CPH
DNNN.
CPH là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu
thành công ty cổ phần, một loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu. CPH có
thể diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
liên doanh và tại các doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phần hoá sẽ làm đa dạng hoá
sở hữu tại doanh nghiệp.
CPH DNNN là việc chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;
huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và
ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức
quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
CPH DNNN khác với tư nhân hoá DNNN. Tư nhân hoá DNNN là quá trình
chuyển toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu tài sản trong DNNN sang các cá
nhân hay tổ chức khác không phải là Nhà nước. Quá trình tư nhân hoá có thể là
quá trình đa dạng hoá sở hữu cũng có thể không phải. Như vậy, CPH DNNN và
6
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
tư nhân hoá DNNN là hai quá trình khác nhau. CPH DNNN nhằm thực hiện các
mục tiêu sau:
Thứ nhất: Chuyển một phần quyền sở hữu tài sản của Nhà nước thành sở
hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Như vậy mục tiêu của cổ phần hoá là chuyển một phần quyền sở hữu
cho các cổ đông chứ không phải là quyền sử dụng và tài sản ở đây được thể hiện

phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường. CPH được coi là nhân tố kích thích sự phát triển của các thị trường vốn,
thị trường chứng khoán và khi thị trường vốn, thị trường chứng khoán phát triển
sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cổ phần phát triển từ đó làm nâng cao tính
năng động và hiệu quả của doanh nghiệp.
Đối với người lao động CPH có tác động rất lớn. Khi chuyển DNNN thành
công ty cổ phần người lao động sẽ trở thành người đồng sở hữu doanh nghiệp,
được tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp. CPH sẽ nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do đó thu nhập của người
lao động cũng được cải thiện Tuy nhiên CPH sẽ làm cho công việc của người
lao động bị xáo trộn do thay đổi hình thức sở hữu sẽ kèm theo việc bố trí, sắp
xếp lại lao động. Quá trình sắp xếp lại lao động sẽ dẫn tới một bộ phận lao động
bị dôi dư do doanh nghiệp không bố trí được việc làm. Bộ phận lao động này sẽ
phải dời khỏi doanh nghiệp điều này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người
lao động. Vì vậy khi thực hiện CPH doanh nghiệp phải đảm bảo giải quyết tốt
các chính sách cho cả người lao động tiếp tục làm việc tại công ty cổ phần và
người lao động dôi dư nhằm đảm bảo mục tiêu và phát huy hiệu quả của CPH.
2. Lao động dôi dư và các chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện
CPH DNNN
2.1 Lao động dôi dư
2.1.1 Khái niệm lao động dôi dư
Trong quá trình CPH nói riêng hay sắp xếp, đổi mới DNNN nói chung sẽ có
một bộ phận lao động bị dôi dư điều này là không thể tránh khỏi và là hậu quả
tất yếu. Vậy lao động dôi dư là gì và những đối tượng nào sẽ được xếp vào diện
dôi dư là điều chúng ta cần quan tâm.
Trước hết để hiểu thế nào là lao động dôi dư ta cần xác định được lượng lao
động dôi dư: Lượng lao động dôi dư là số lao động có tên trong danh sách của
doanh nghiệp lớn hơn số lao động cần thiết được sử dụng để sản xuất một lượng
hàng hoá nhất định tương ứng với công nghệ được áp dụng và được tính trên cơ
sở các định mức kinh tế kỹ thuật, trong đó có định mức lao động.

- Người lao động đang làm việc, khi sắp xếp lại, doanh nghiệp đã tìm mọi
biện pháp tạo việc làm, nhưng vẫn không bố trí được việc làm.
- Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp
nhưng không có việc làm, tại thời điểm sắp xếp lại, doanh nghiệp vẫn
không bố trí được việc làm.
- Người lao động trong doanh nghiệp bị giải thể, phá sản.
9
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
Tóm lại lao động dôi dư là lôgic của sự vận động các yếu tố đặc trưng cho
phát triển doanh nghiệp (đổi mới công nghệ, hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ
chức lao động, đổi mới chất lượng lao động…), lao động dôi dư là hậu quả tất
yếu của quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN, nghiên cứu vấn đề lao động dôi dư là
là cần thiết để thúc đẩy tiến trình CPH DNNN.
2.1.2 Phân biệt lao động dôi dư với thất nghiệp và thiếu việc làm
Chúng ta cần phân biệt giữa lao động dôi dư với thất nghiệp và thiếu việc
làm. Trước tiên, xét cho cùng lao động dôi dư cũng chính là một dạng của thất
nghiệp nhưng phạm vi mà thất nghiệp đề cập đến rộng hơn phạm vi người lao
động dôi dư. Thất nghiệp bao gồm cả lao động xã hội, những người muốn làm
việc nhưng không tìm được việc làm như sinh viên mới tốt nghiệp ra trường, bộ
đội xuất ngũ… Nhưng nếu xét trong phạm vi một doanh nghiệp thì lao động dôi
dư cũng đồng nghĩa với thất nghiệp.
Khi phân biệt lao động dôi dư với thiếu việc làm ta nhận thấy thiếu việc làm
không phải là lao động dôi dư nhưng thiếu việc làm chính là một nguyên nhân
dẫn đến dôi dư lao động khi sắp xếp lại lao động.
2.2 Các chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện CPH DNNN
2.2.1 Quan điểm giải quyết lao động dôi dư
Khi thực hiện chủ trương sắp xếp, đổi mới DNNN chúng ta không chỉ quan
tâm giải quyết những vấn đề kinh tế thuần tuý mà còn phải đảm bảo những yêu
cầu xã hội. Trong đó quan trọng nhất là giải quyết vấn đề lao động dôi dư. Lao

quy định đã có của pháp luật hiện hành, đồng thời có sự vận dụng linh hoạt một
số chế độ chính sách trong phạm vi pháp luật cho phép.
Thứ năm: Doanh nghiệp chịu trách nhiệm chính trong giải quyết quyền lợi
cho người lao động, nhưng những doanh nghiệp gặp khó khăn thì sẽ nhận được
sự hỗ trợ về tài chính của cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý, sau đó là Chính
phủ.
Thứ sáu: Người lao động không bố trí được việc làm do sắp xếp, đổi mới
doanh nghiệp được coi là người lao động bị mất việc làm theo quy định tại điều
17 Bộ luật Lao động.
Thứ bảy: Nhà nước cần có cơ chế quản lý việc tuyển dụng lao động đầu vào
đối với các doanh nghiệp đã giải quyết xong số lao động dôi dư để không lặp lại
tình trạng như cũ. Trong đó cơ chế tuyển dụng, định biên, định mức lao động,
quỹ lương phải gắn với năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.2.2 Chính sách đối với lao động dôi dư
Chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN được quy định tại
Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11/04/2002 của Chính phủ và sửa đổi bổ
sung tại Nghị định số 155/2004/NĐ-CP ngày 10/08/2004; được hướng dẫn thi
11
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
hành theo Thông tư số 19/2004/TT-BLĐTBXH ngày 22/11/2004 của Bộ lao
động - Thương binh và Xã hội và một số Thông tư khác như Thông tư số
18/2005/TT-BLĐTBXH ngày 11/05/2005 và Thông tư số 13/2005/TT-
BLĐTBXH ngày 25/02/2005. Quy định cụ thể như sau:
2.2.2.1 Đối với lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không
xác định thời hạn
a. Người lao động đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến
dưới 55 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở
lên được nghỉ hưu, không phải trừ phần trăm lương hưu trước tuổi theo

hiểm xã hội từ đủ 19 năm đến dưới 20 năm.
- Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 19
năm đến dưới 20 năm mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
- Người lao động (không phụ thuộc vào tuổi đời) có ít nhất 15 năm làm
nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, đặc biệt độc hại đã đóng bảo
hiểm xã hội đủ 19 năm đến dưới 20 năm mà bị suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên.
c. Người lao động dôi dư không thuộc đối tượng quy định tại điểm a và b
nêu trên, thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động và hưởng chế độ như sau:
- Trợ cấp mất việc làm được tính theo thời gian thực tế làm việc trong khu
vực Nhà nước, cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) được trợ cấp 1 tháng tiền lương
cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng nhưng thấp nhất
cũng bằng 2 tháng tiền lương, phụ cấp lương đang hưởng.
- Được trợ cấp thêm 1 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương
(nếu có) đang hưởng cho mỗi năm (đủ 12 tháng) thực tế làm việc trong
khu vực Nhà nước và được trợ cấp với mức 5 (năm) triệu đồng.
Thời gian thực tế làm việc trong khu vực Nhà nước là thời gian người lao
động thực tế làm việc tại DNNN, cơ quan, đơn vị thuộc khu vực Nhà nước, đơn
vị thuộc lực lượng vũ trang, được tính đến thời điểm có quyết định cho người
lao động nghỉ việc.
- Trợ cấp một lần đi tìm việc làm là 6 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ,
phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng. Nếu có nhu cầu học nghề thì được
học nghề miễn phí tối đa là 6 tháng. Cơ sở học nghề do Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội chỉ định.
Ngoài các chế độ quy định tại điểm c trên, người lao động còn được hưởng
chế độ chờ nghỉ hưu, bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; hưởng trợ cấp bảo
hiểm xã hội một lần theo quy định hiện hành.
- Người lao động còn thiếu tối đa 5 năm tuổi nghỉ hưu theo quy định của
Bộ Luật Lao động (nam đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ đủ 50 tuổi đến
13

2.2.3.1 Tại thời điểm DNNN chuyển thành công ty cổ phần
Doanh nghiệp lập phương án lao động và giải quyết chính sách đối với
người lao động theo quy định:
a. Đối với người lao động đủ điều kiện nghỉ hưu theo chế độ hưu trí thì giám
đốc doanh nghiệp CPH và cơ quan Bảo hiểm xã hội nơi doanh nghiệp
14
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
đóng bảo hiểm xã hội giải quyết mọi quyền lợi về bảo hiểm xã hội cho
người lao động theo quy định của pháp luật.
b. Các trường hợp hết hạn hợp đồng lao động thì giám đốc doanh nghiệp
giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định tại
điều 42 của Bộ luật Lao động và có trách nhiệm làm đầy đủ các thủ tục để
cơ quan Bảo hiểm xã hội giải quyết quyền lợi về bảo hiểm xã hội cho
người lao động theo quy định của pháp luật.
c. Đối với số lao động không bố trí được việc làm thì giải quyết như sau:
- Đối với doanh nghiệp CPH có quyết định CPH từ ngày 31/12/2005 trở về
trước:
+ Người lao động dôi dư thuộc đối tượng quy định tại Nghị định
41/2002/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung thì được hưởng chế độ chính sách theo
quy định tại Nghị định này và Thông tư số 19/2004/TT-BLĐTBXH ngày
22/11/2004 của Bộ Lao - động Thương binh và Xã hội hướng dẫn Nghị định
41/2002/NĐ-CP.
+ Người lao động không thuộc đối tượng của Nghị định số 41/2002/NĐ-CP
đã được sửa đổi bổ sung, thì được hưởng các chế độ trợ cấp thôi việc, mất việc
theo quy định của pháp luật lao động và được hỗ trợ từ tiền thu của Nhà nước do
CPH DNNN hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí để giải quyết
theo hướng dẫn của Bộ tài chính.
- Đối với DNNN có quyết định CPH sau ngày 31/12/2005 các quyền lợi
của người lao động không bố trí được việc làm được giải quyết theo quy

Lao động; hoặc trợ cấp thôi việc theo khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động.
- Trường hợp người lao động từ công ty Nhà nước chuyển sang công ty cổ
phần bị mất việc làm hoặc thôi việc trong thời gian từ năm thứ 2 đến hết
năm thứ 5 kể từ ngày công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh thì người lao động được trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi
việc theo quy định của Bộ luật Lao động.
b. Chính sách đối với người lao động thuộc diện đào tạo lại nghề để tiếp tục
làm việc ở công ty cổ phần.
- Trong thời gian đào tạo lại nghề công ty cổ phần tiếp tục trả lương cho
người lao động theo mức mà hai bên thoả thuận nhưng không được thấp
hơn 70% mức lương ghi trong hợp đồng lao động đã được ký kết.
- Công ty cổ phần tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động trong
thời gian đào tạo nghề theo quy định của pháp luật
- Sau thời gian đào tạo lại nghề công ty cổ phần có trách nhiệm bố trí việc
làm cho người lao động.
16
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
2.3 Nguồn kinh phí giải quyết lao động dôi dư
Nguồn kinh phí giải quyết lao động dôi dư được lấy từ “Quỹ hỗ trợ lao động
dôi dư do sắp xếp lại DNNN”. Quỹ này được hình thành từ các nguồn:
- Ngân sách Nhà nước
- Viện trợ của các tổ chức cá nhân
- Các nguồn khác (nếu có)
Nguồn chi trả cho người lao động mất việc hoặc thôi việc được hỗ trợ từ tiền
thu của Nhà nước do CPH doanh nghiệp hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh
nghiệp Nhà nước.
3. Sự cần thiết phải sắp xếp lại lao động và giải quyết lao động dôi dư khi
thực hiện CPH DNNN
3.1 Thực trạng lao động trong các DNNN và sự cần thiết phải sắp xếp lại

của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội số lao động không có việc làm thường
xuyên và mất việc làm ở các doanh nghiệp khoảng 20%, có doanh nghiệp lên tới
40%. Theo lộ trình sắp xếp lại DNNN đến hết năm 2003 sẽ có 150000 lao động
bị mất việc làm, đưa tổng số lao động không có việc làm trong các doanh nghiệp
quốc doanh lên tới gần 400000 người. Lao động nữ, lao động không có trình độ
chuyên môn kỹ thuật và lao động có trình độ trung cấp chịu tác động mạnh của
cuộc cải cách, có tỷ lệ dôi dư cao. Ngoài ra còn một loại lao động bằng 9,4%
tổng số lao động trong các doanh nghiệp chưa thất nghiệp, nhưng là dạng tiềm
năng của thất nghiệp, đó là số lao động vẫn có việc làm nhưng không thật sự cần
thiết, nếu cắt giảm đi cũng không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Do đó, nếu tính cả số lao động thất nghiệp tiềm năng này thì
tỷ lệ thất nghiệp của DNNN rất cao, khoảng 18,5%.
Một vấn đề nữa của thực trạng lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước
là chất lượng lao động trong DNNN. Thực tế trong những năm qua cho thấy
trình độ nghề nghiệp của lao động trên lĩnh vực công nghiệp (vốn được coi là
ngành có số lao động được đào tạo cao nhất) vẫn còn ở trình độ thấp. Phần lớn
lao động trong các DNNN không được đào tạo và đào tạo lại. Nhiều doanh
nghiệp thiếu nguồn nhân lực có chất lượng. Trình độ của đội ngũ quản lý cũng
chưa cao, chưa theo kịp trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Với thực trạng lao động trong các DNNN như trên khi doanh nghiệp thực
hiện đổi mới, sắp xếp lại cần tinh giảm đội ngũ lao động đồng thời các thiết bị
và công nghệ được trang bị mới, hiện đại người lao động sẽ không đủ khả năng
và trình độ để có thể tiếp tục làm việc do đó cần thiết phải sắp xếp lại lao động.
Việc sắp xếp lại lao động là tất yếu để giúp doanh nghiệp giữ lại những lao động
có trình độ và tuyển dụng thêm lao động mới để đáp ứng được yêu cầu trong
tình hình mới nhằm mục tiêu phát triển doanh nghiệp.
18
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
3.2 Trình tự sắp xếp lại lao động và giải quyết chế độ chính sách đối với

người lao động từ DNNN chuyển sang không bố trí được việc làm thì
được xác định là lao động không có nhu cầu sử dụng.
19
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
Bước 3: Lập danh sách lao động cần sử dụng, số lao động không có nhu cầu sử
dụng
- Danh sách lao động đủ điều kiện nghỉ hưu theo chế độ hiện hành
- Danh sách lao động sẽ chấm dứt hợp đồng lao động
- Danh sách lao động không bố trí được việc làm
- Danh sách lao động sẽ chuyển sang làm việc tại công ty cổ phần, bao gồm:
+ Số lao động mà hợp đồng lao động đang còn thời hạn
+ Số lao động đang nghỉ theo 3 chế độ Bảo hiểm xã hội (ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) mà hợp đồng lao động đang còn thời hạn.
+ Số lao động có điều kiện về tuổi đời, sức khoẻ thuộc diện đi đào tạo lại
nghề để tiếp tục làm việc ở công ty cổ phần theo nhu cầu của công ty.
Bước 4: Doanh nghiệp phối hợp với Ban chấp hành công đoàn tổ chức Đại hội
công nhân viên chức để đại hội cho ý kiến về danh sách lao động
Bước 5: Trên cơ sở ý kiến của Đại hội công nhân viên chức, doanh nghiệp hoàn
chỉnh phương án sắp xếp lao động và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Hồ sơ trình duyệt làm thành 6 bộ, mỗi bộ gồm có:
- Văn bản đề nghị phê duyệt phương án sắp xếp lao động
- Phương án sắp xếp lại lao động
- Danh sách số lao động đã được phân loại
c. Trả trợ cấp cho người lao động dôi dư.
Trong thời hạn 15 ngày (ngày làm việc), kể từ ngày được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt phương án sắp xếp lao động, đơn vị thực hiện trả trợ cấp cho
người lao động như sau:
- Ký quyết định cho từng người lao động dôi dư nghỉ việc theo các
nhóm chính sách đã được quy định

lao động nhằm tạo điều kiện ổn định tăng trưởng kinh tế và làm lành mạnh hoá
các vấn đề xã hội. Quan điểm giải quyết lao động dôi dư của Bộ xây dựng là giải
quyết lao động dôi dư trên cơ sở, chế độ, các chính sách hiện hành, các doanh
nghiệp chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết việc làm cho người lao
động, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho lao động dôi dư ổn
định cuộc sống, tạo được việc làm mới và phần nào giải quyết khó khăn cho
doanh nghiệp. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2002/NĐ-CP về
chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN Bộ xây dựng đã thí
điểm giải quyết lao động dôi dư cho 2 đơn vị thuộc Bộ. Để thực hiện có hiệu
quả công tác sắp xếp lao động theo tinh thần Nghị định 41-CP và căn cứ vào
điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, Bộ xây dựng chủ trương “ổn định để
phát triển, tăng cường chế độ trách nhiệm và phân cấp triệt để”. Theo đó nhiều
biện pháp được triển khai như: hệ thống hoá các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư
hướng dẫn của các Bộ, Ngành có liên quan; tổ chức các cuộc họp chuyên đề về
sắp xếp lao động để kịp thời chấn chỉnh và giải quyết những vướng mắc. Bên
cạnh đó, Bộ đã tăng cường phân cấp, giao trách nhiệm cho Chủ tịch Hội đồng
21
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
quản trị các Tổng công ty thành lập Hội đồng thẩm định phương án sắp xếp lao
động, phương án tài chính hỗ trợ lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN. Nhờ đó
đã khai thác được năng lực tiềm tàng của doanh nghiệp trong việc sắp xếp lao
động, tiến hành một cách đồng bộ với công tác CPH.
Từ năm 1998 đến nay thực hiện chủ trương sắp xếp lại DNNN, Bộ xây
dựng đã phê duyệt phương án CPH cho 142 doanh nghiệp và bộ phận doanh
nghiệp trong đó có 108 đơn vị thuộc đối tượng thực hiện Nghị định 41-CP.
Trong 108 đơn vị này có 93 doanh nghiệp thực hiện CPH. Tại thời điểm sắp xếp
lại số lao động được phân loại như sau: Hợp đồng lao động không xác định thời
hạn chiếm 56,64%; hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 1-3 năm chiếm
27,86%; hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng và thời vụ chiếm 14,38%;


I. Đặc điểm tình hình hoạt động của Tổng công ty thép Việt Nam.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty thép Việt Nam
Tổng công ty thép Việt Nam hiện nay kế tục sự nghiệp của các Tổng công ty
trước đây thuộc Bộ công nghiệp. Tổng công ty được hình thành qua các thời kỳ,
gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước và của ngành công nghiệp luyện kim.
Đó là sự kết hợp, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị trong ngành
sản xuất thép và kinh doanh kim khí của Nhà nước trong những thập kỷ qua.
Đầu tiên là việc thực hiện nghị định số 27- HĐBT ngày 22 tháng 3 năm
1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức lại xí nghiệp quốc
doanh. Ngày 30 tháng 5 năm 1990 Bộ công nghiệp nặng có quyết định số
128/CNNg - TC thành lập Tổng công ty thép Việt Nam. Tổng công ty lúc đó
được hình thành trên cơ cở tổ chức sắp xếp các đơn vị khai thác, tuyển luyện các
loại khoáng sản kim loại đen và các đơn vị nghiên cứu, đào tạo, dịch vụ về lĩnh
vực luyện kim đen thuộc Bộ công nghiệp nặng
Để thống nhất việc quản lý sản xuất và kinh doanh thép thuộc Bộ công
nghiệp nặng, ngày 4 tháng 7 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số
334/TTg hợp nhất Tổng công ty thép Việt Nam và Tổng công ty kim khí thành
Tổng công ty thép Việt Nam. Đồng chí Ngô Huy Phan được bổ nhệm làm Tổng
giám đốc. Quyết định của Thủ tướng nêu rõ: “Sau khi hợp, nhất Bộ công nghiệp
nặng cần tiến hành các thủ tục thành lập lại Tổng công ty thép Việt Nam theo
đúng nghị định số 388 của Hội đồng Bộ trưởng”.
Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước nhu cầu phát triển của đất
nước đòi hỏi cần phải hình thành một Tổng công ty mạnh thuộc ngành sản xuất
và kinh doanh thép trong phạm vi toàn quốc, đủ khả năng huy động vốn đầu tư
quản lý và sử dụng những công trình trọng yếu có quy mô lớn, công nghệ hiện
đại để nâng cao năng lực sản xuất, có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường.
Vì vậy, ngày 7 tháng 3 năm 1994 Thủ tướng chính phủ có quyết định số
91/TTg thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh ở một số Bộ quản lý, ngành kinh
23

doanh nghiệp Nhà nước. Điều lệ tổ chức và điều hành của Tổng công ty được
Chính phủ phê chuẩn tại nghị định số 03/CP ngày 25 tháng 1 năm 1996 và giấy
phép kinh doanh số 109621 ngày 5 tháng 2 năm 1996 do Bộ kế hoạch và đầu tư
cấp. Vốn của Tổng công ty do Nhà nước cấp. Tổng công ty có bộ máy điều hành
và các đơn vị thành viên, có con dấu theo mẫu quy định của Nhà nước, tự chịu
24
SV: Lăng Thị Hạnh - QTNL 44B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế Lao động và dân số
trách nhiệm tài sản hữu hạn trong phạm vi số vốn Nhà nước giao cho quản lý và
sử dụng, được mở tài khoản bằng đồng Việt Nam và đồng ngoại tệ tại các ngân
hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Tổng công ty thép Việt Nam chịu sự quản lý của Nhà nước, của Chính phủ
trực tiếp là các Bộ: Bộ công nghiệp, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội và các Bộ, Ngành, cơ quan thuộc Chính phủ phân cấp
quản lý theo Luật doanh nghiệp Nhà nước. Các cơ sở quản lý ở địa phương
(tỉnh, thành phố trực thuộc TW) với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước trên
địa bàn lãnh thổ được chính phủ quy định và phân cấp quản lý một số mặt hoạt
động theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc điểm sản phẩm
2.1 Phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh
Tổng công ty thép Việt Nam là một Tổng công ty Nhà nước được Chính phủ
thành lập và hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91 - Mô hình tập đoàn công
nghiệp lớn của Nhà nước. Các đơn vị thành viên của Tổng công ty được phân bổ
hoạt động hầu hết trên các thị trường trọng điểm trên lãnh thổ Việt Nam như: Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải phòng, Đà Nẵng,
Vũng Tàu và một số tỉnh khác, bao trùm hầu hết các công đoạn từ khai thác
nguyên liệu, vật liệu sản xuất thép và các sản phẩm khác cho đến khâu phân
phối và tiêu thụ sản phẩm.
Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Tổng công ty:
- Khai thác quặng sắt, than mỡ, nguyên liệu trợ dung liên quan đến công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status