Đề bài: Tại sao người ta lại xem hoạt động thực hành công tác
xã hội như một tiến trình giải quyết vấn đề.
Bài làm
Ngành Công tác xã hội đã bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người.
Nhưng ngành Công tác xã hội trên thế giới đã được biết đến từ đầu thế kỷ XX
để giải quyết những vấn đề của xã hội trong quá trình công nghiệp hóa của các
nước phương Tây. Đến giai đoạn cách mạng công nghiệp, hoạt động Công tác
xã hội trở nên rất cần thiết và đã có sự tổ chức khá chặt chẽ. Gần đây, các hoạt
động Công tác xã hội đã có sự tham gia chặt chẽ của các chính phủ và các tổ
chức phi chính phủ. Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) đã đưa Công tác xã hội
vào nội dung của bảo đảm xã hội. Sau khoảng 100 năm phát triển, ngành công
tác xã hội hiện tại đóng vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp các dịch
vụ xã hội của các nước phát triển. Vị thế của Nghề Công tác xã hội, cũng như
của các cán bộ xã hội trong các xã hội phát triển là hết sức quan trọng đối với xã
hội, gia đình và từng cá nhân. Cán bộ xã hội có mặt trong hầu hết các lĩnh vực
trong đời sống của người dân từ giáo dục, y tế đến tư pháp, hành pháp nhằm
đảm bảo quyền lợi cho các công dân.
Sự hình thành và phát triển Công tác xã hội ở Việt Nam cũng không nằm
ngoài quy luật hình thành và phát triển Công tác xã hội trên thế giới. Công tác
xã hội ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở tình cảm tốt đẹp giữa con người
và con người. Trải qua các giai đoạn lịch sử, tinh thần nhân đạo và lòng yêu
thương đồng loại luôn luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của
các chính sách xã hội, các luật lệ xã hội.
Không những thế ngành công tác xã hội còn được xem là một ngành nghề
chuyên nghiệp là một hoạt động thực tiễn manh tính tổng hợp cao, được thực
hiện từ các nguyên tắc và phương pháp chuyên môn đặc thù nhàm hỗ trợ cá
nhân, nhóm và cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội của họ, qua đó
công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội.
Đặc biệt là những năm trở lại đây, Công tác xã hội (CTXH) còn luôn là chủ
đề được nhiều người nhắc đến, bởi lẽ đó là ngành, nghề lien quan đến mọi lĩnh
vực trong cuộc sống. Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị và nguyên tắc nghề
hay điểm yếu, không xem xét đến hành vi của anh ta. Thái độ này có ý nghĩa rất
gần câu dạy của hầu hết các tôn giáo “Yêu người phạm lỗi, ghét hành vi tội”.
Nguyên tắc này diễn đạt thái độ thân thiên với thân chủ một sự rộng lượng và
mong muốn giúp đỡ. Sự thực hiện nguyên tắc này giúp cho nhân viên CTXH tạo
được lòng tin ở thân chủ, qua đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ của họ, đó là nền
tảng cho thiết lập mối quan hệ tương tác trong quá trình giúp đỡ.
2. Tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề
Nguyên tắc để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề là một trong những
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của nhân viên CTXH. Vấn đề là của thân
chủ, họ hiểu hoàn cảnh và khả năng của mình là hơn ai hết nếu được sự trợ giúp.
Và vì vậy họ cần là người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề đến gia
quyết định, lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả
của giải pháp đó. Việc thân chủ tham gia vào hoạt động giải quyết của vấn đề sẽ
giúp cho họ học hỏi cách thức từ đó họ sẽ tăng cường khả năng đối với tình
huống có vấn đề. Người nhân viên CTXH chỉ đóng vai trò tiếp xúc, vai trò định
hướng trong quá trình trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ
mà không làm thay, làm hộ chủ yếu khích lệ họ có niềm tin để tự giải quyết vấn
đề.
3. Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Mỗi cá nhân đều có quyền quyết định về các vấn đề thuộc cuộc đời, những
quyết định của người khác hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt cho họ. Trong
các tình huống, nhân viên CTXH không nên quyết định, chọn lựa hay lên kế
hoạch cho thân chủ, ngược lại thân chủ có thể được hướng dẫn và họ có khả
năng tự quyết định về mình. Trong một số trường hợp đặc biệt thân chủ không
tự ý quyết định được như trường hợp trẻ còn quá nhỏ, người có rối loạn tâm
thần thì nhân viên CTXH phải lấy ý kiến từ người bảo trợ của họ. Trong trường
hợp quyết định của thân chủ có nguy cơ tổn hại đến tình mạng của bản thân thân
chủ hay người khác thì nhân viên CTXH cũng không cần phải chấp thuận quyết
định của thân chủ mà cần thông báo cho thân chủ về quy định của pháp luật
Nguyên tắc tự quyết định, giống như sự tự do, cũng có những giới hạn của nó,
như: ngành luật, y tế, tài chính …Nó thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư
của thân chủ và không được chia sẻ những thong tin của thân chủ đối với người
khác khi chưa được sự đồng ý của thân chủ. Nếu nhân viên CTXH quán triệt tốt
nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện để thân chủ chân thành cởi mở, bộc lộ những
cảm xúc tâm trạng và những khó khăn của họ. Nhân viên CTXH chỉ chia sẻ
thông tin khi được thân chủ đồng ý. Đảm bảo tính riêng tư của trường hợp còn
thể hiện ở việc bảo mật lưu trữ hồ sơ. Nhân viên CTXH cần lưu trữ hồ sơ của
thân chủ cẩn thận, có khóa tủ hay mật khẩu trên máy tính. Khi tham vấn hay
phỏng vấn cần đảm bảo không gian yên tĩnh và riêng tư cho cuộc trò chuyện,
nhân viên CTXH tránh trao đổi hay hỏi chuyện về những vấn đề mang tính tế
nhị của thân chủ ở nững chỗ đông người. Trong hoạt động đào tạo hay trao đổi
thảo luận ca cần đảm bảo sự khuyết danh khi bàn luận và những trường hợp cụ
thể. Nhân viên CTXh tránh quay phim, chụp ảnh khi thân chủ không đồng ý,
cũng không nên sử dụng băng hình hay ghi âm trong khi trò chuyện với thân chủ
khi họ không chấp nhận.
Tuy nhiên trong một số trường hợp sẽ có ngoại lệ với nguyên tắc này nếu
như những hành vi của thân chủ đe dọa tính mạng của bản thân họ hay những
người khác thì nhân viên CTXH có quyền trao đổi thông tin với những người có
thẩm quyền. Trong một số trường hợp khi cơ quan có thẩm quyền như toàn án,
người quản lí có thẩm quyền …yêu cầu người nhân viên CTXH có thể cung cấp
thông tin mà không có sự đồng ý của thân chủ.
Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho thân chủ tin tưởng
vào nhân viên CTXH từ đó họ sẽ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác. Bên cạnh đó việc
đảm bảo bí mật của thân chủ còn là yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ
con người và quan hệ đồng nghiệp.
6. Tự nhận thức về bản thân
Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là đại điện của cơ quan xã hội nhân
viên CTXH cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn
đề. Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của nhân viên CTXH,vì vậy cần tránh lạm
dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân. Đồng thời nhân viên CTXH
Để có thể giúp các thân chủ của mình theo các nguyên tắc và đạo đức nghề
nghiệp, nhân viên CTXH là người cần có các yếu tố: thiện chí, quyết tâm,kiến
thức và các kĩ năng nghề nghiệp và sự trợ giúp.
Qua những ý kiến trên và các bước tiến hành thực hiện của nhân viên công
tác xã hội, ta nhận thấy rõ 1 điều rằng thực hành công tác xã hội không phải đơn
giản là sự giúp đỡ theo phương thức từ thiện mà đó là một ngành nghề chuyên
nghiệp, phải có tiến trình để giải quyết vấn đề mà thân chủ của mình gặp phải.
Và điều đó cũng chứng minh được rằng tại sao người ta lại xem hoạt động thực
hành công tác xã hội như một tiến trình giải quyết vấn đề.
Hết