tìm hiểu nguyên nhân và cách khắc phục tình trạng tệ nạn xã hội trong sinh viên - Pdf 24

A. Mở đầu
Trí thức nói chung và sinh viên nói riêng là lực lượng hung hậu có
sức khỏe, có trình độ học vấn, có tiềm năng sang tạo, có khả năng tiếp
cận và làm chủ khoa học hiện đại. Nhất là trong giai đoạn cách mạng
khoa học kĩ thuật hiện nay trong bối cảnh thế giới có rất nhiều biến động
phức tạp, trước những thách thức to lớn của xu thế toàn cầu hóa về kinh
tế, đặc biệt là kinh tế trí thức.
Đặc biệt ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề rất được quan tâm là lối
sống của sinh viên ngày nay. Nói đến sinh viên tức là nói đến thế hệ đang
nắm trong tay tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ xã hội nói chung
và sự phát triển đất nước nói riêng. Về mặt số lượng, sinh viên là một lực
lượng không nhỏ. Họ là lớp người đang được đào tạo toàn diện và đầy đủ
nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội,
khoa học…
Sinh viên là những tầng lớp trí thức tuong lai của đất nước, không
ai hết mà chính họ là những người đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thế kỉ XXI_thế kỉ của văn minh
trí tuệ, của sự phát triển khoa học kĩ thuật nên rất cần có những con
người trẻ tuổi, có trình độ và năng lực sang tạo cao, có khả năng tiếp
nhận cái mới rất nhanh và thay đổi nó một cách nhanh nhạy và sáng tạo,
thích nghi với sự thay đổi một cach nhanh chóng của xã hội hiện đại, đại
diện cho một thế hệ tiên tiến mới.
Tuy mang trong mình sứ mệnh to lớn như vậy nhưng một bộ
phận không nhỏ trong giới sinh viên lại đang thờ ơ, không những vậy họ
1
còn tham gia vào các tệ nạn xã hội khiến cho tình hình tệ nạn xã hội
trong những năm gần đây đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến ngày
càng phức tạp, tinh vi hơn. Điều này làm hủy hoại tinh thần và thể chất
của bản thân, gây thiệt hại cho gia đình và xã hội.
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và cách khắc
phục chúng ra sao? Để trả lời được hai câu hỏi trên sau đây em xin đưa ra

- Để lại gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội
1.2.3. Đối với xã hội
- Ảnh hưởng tới kinh tế, suy giảm sức lao động xã hội.
- Suy thoái giống nòi.
- Mất trật tự an toàn xã hội như: trộm cắp, cướp của, giết người
- Ảnh hưởng đến truyền thống văn hoá dân tộc.
3
Tuy nhiên, những số lượng này cũng đã nói lên rằng ngày càng nhiều
sinh viên, những trụ cột tương lai của đất nước, đang sống không có lý
tưởng, trượt dài trong những “cuộc vui suốt tháng, trận cười thâu đêm”. Họ
tưởng mình đang tận hưởng tuổi trẻ, nhưng thực ra chính họ đang tiêu phí
tuổi xuân một cách liều lĩnh.
Vùi mình vào những thú chơi vô bổ, vào rượu, vào sex, họ đang đánh đổi
sức khỏe, tương lai, hạnh phúc thậm chí là cả tính mạng của mình. Sự liều
lĩnh trong cách sống của một bộ phận những sinh viên này khiến người ta có
cảm giác họ sống mà không cần biết đến ngày mai. Không biết dừng lại,
những sinh viên này sẽ sớm nhìn thấy hậu quả của những gì mình gây ra.
4
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, GIẢI
PHÁP PHÒNG NGỪA TỆ NẠN XÃ HỘI TRONG HỌC SINH, SINH
VIÊN HIỆN NAY
2.1. Thực trạng về tệ nạn xã hội trong học sinh, sinh viên hiện nay.
Trong những năm gần đây tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội trong học
sinh, sinh viên (HS-SV) ngày càng có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp.
Theo số liệu thống kê chính thức của cơ quan chức năng, số người
mắc các tệ nạ xã hội, tội phạm chiếm tỷ lệ trung bình khoảng 70%. Trong đó
theo thống kê của vụ công tác HS-SV (Bộ giáo dục và đào tạo) số HS-SV
phạm tội, mắc tệ nạn xã hội ở hà nội chiếm khoảng 0,01% trong tổng số sinh
viên cả nước mỗi năm.
Song đáng lo ngại là HS-SV ở hà nội có mặt hầu hết trong các loại tội

+ Tình trang phạm tội phạm có tổ chức, tụ tập nhóm để trộm cắp,
cướp giật, đâm thuê, chém mướn, đua xe chém mướn, đua xe trái phép, tổ
chức sử dụng ma tuý, cờ bạc… khá phát triển trong các trường cao đẳng, đại
học ở nước ta, đặc biệt là Hà Nội.
Hơn nữa khảo sát 2006 của vụ văn hoá, ban tư tưởng của trung ương
cho thấy trong 13 biểu hiện chưa tốt của HS-SV đặc biệt là ở Hà Nội nói
riêng, đứng đầu là không chịu học hành, đua đòi, ma túy, lô đề, cờ bạc tiếp
đến là sống thử, mắc các tệ nạn xã hội.
+ Tội phạm, tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, lô đề….HS-SV vừa
là nạn nhân vừa là tội phạm.
Ví dụ: Theo thống kê năm 2004 có 600 HS-SV nghiện ma tuý
Thống kê từ năm 2005 - 2008: vi phạm hình sự trong HS-SV lên tới
8.000 vụ, trong đó có trên 800 vụ phạm tội liên quan đến ma túy.
Theo số liệu thống kê mới đây của các cơ quan chức năng, trên địa bàn
cả nước có hơn 146.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tuy nhiên,
đáng báo động là cứ 100 người nghiện thì có tới 70 người ở tuổi vị thành
niên.
Thực tế trên cho thấy, đang có một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên,
HS-SV thiếu kỹ năng sống, xuống cấp về đạo đức, xao nhãng việc học tập,
thích thể hiện bản thân một cách thái quá, thiếu kiến thức về pháp luật nên sa
đà vào tệ nạn xã hội.
Tình trạng học sinh phổ thông đã bỏ học, sống lang thang, thông qua
mạng Internet để kết thành băng nhóm sử dụng ma túy, gây ra nhiều vụ đánh
nhau, gây rối trật tự xã hội, cướp tài sản có xu hướng gia tăng hiện nay lên
tới khoảng 20.000 đối tượng.
7
Phần lớn các em đều có ý thức tu dưỡng đạo đức tốt, tích cực, chủ
động trong học tập và rèn luyện, năng động, tự tin, có ý thức vươn lên mạnh
mẽ, khát khao thể hiện bản thân. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ
HS-SV quá đề cao giá trị vật chất, lối sống hưởng thụ, coi việc sử dụng điện

nhau, gây mất an ninh, trật tự.
Tội phạm trong HS-SV ngày càng có xu hướng "Trẻ hóa", tính chất gây
án hết sức manh động và hung hãn. Những vụ trọng án mà Công an thành
phố Hà Nội khám phá trong thời gian qua có một điểm chung là: hung thủ
gây ra hàng chục vụ giết người, cướp của đều còn rất trẻ, từ khi chưa thành
niên, thậm chí có tên bị bắt khi đang học lớp 10.
Tháng 7/2004, Công an huyện Thanh Trì đã bắt giữ một nhóm 7 tội
phạm chưa đến 17 tuổi, trong đó có 2 nữ, là thủ phạm của nhiều vụ giết
người, cướp của. Ngày 25/8/2004, một HS lớp 8 đã bị một HS lớp 7 cùng
trường đâm chết do mâu thuẫn cá nhân. Đầu tháng 10 vừa qua, Công an
quận Cầu Giấy – Hà Nội bắt giữ một nhóm 6 tên tuổi từ 15 đến 19, chỉ trong
một thời gian ngắn đã gây ra gần 20 vụ cướp tài sản của HS
Nước ta hiện có tới gần 30 triệu HS-SV, Con số đó đủ nói lên ý nghĩa
quan trọng của công tác phòng, chống ma tuý học đường đối với toàn xã hội.
Tuy có nhiều nỗ lực phòng chống ma tuý trong trường học, nhưng những
năm qua, tệ nạn ma tuý vẫn gia tăng cả về số lượng và tính chất nguy hiểm,
gây ra những tác hại khôn lường cho HS-SV. Để có tiền hút chích, nhiều đối
tượng sẵn sàng trở thành tội phạm giết người, cướp của, vì đó mà tệ nạn xã
hội khác cũng gia tăng. Ma tuý còn là con đường dẫn tới căn bệnh thế kỷ
HIV/AIDS.
9
Không chỉ có đối tượng HS-SV, nhiều cán bộ giáo viên cũng trở thành
nô lệ của ma tuý. Gần đây nhất - ngày 8/5/2008, Phòng Giáo dục Đào tạo
huyện Tuần Giáo (Điện Biên) đã ra quyết định buộc thôi việc đối với 4 giáo
viên nghiện ma tuý nặng. Không chỉ sử dụng ma tuý, liều lĩnh hơn, nhiều đối
tượng HS-SV, cán bộ giáo viên còn tham gia tàng trữ, vận chuyển và buôn
bán trái phép các chất ma tuý như trường hợp của giáo viên Đỗ Thị Đông
(trường THPT 8/4 Mộc Châu, Sơn La), một giáo viên dạy giỏi, được học trò
quý mến, phụ huynh tin yêu trở thành “Bà trùm” buôn bán ma tuý và nhận
mức án tử hình.

bố mẹ cậu đang ở và đem đi “cắm”, tiếp tục “niềm đam mê” của mình. Liều
lĩnh đến mức này thì đúng là chỉ có một!
Không đam mê cờ bạc nhưng T.M.Q (ĐHM - ĐC) lại mê mẩn với thế
giới ảo trong Võ Lâm Truyền Kì. Trong thế giới đó, cậu không còn là một
sinh viên quèn tên Q. đến tiền ăn hàng ngày cũng phải ngửa tay xin bố mẹ
nữa mà là một “anh hùng”, một cao thủ võ lâm hành tẩu giang hồ, trừ gian
diệt bạo được người trong thiên hạ (ảo) kính nể. T.M.Q sống với thế giới ảo
nhiều hơn thế giới thật. Số giờ cậu lên giảng đường ngày càng thưa thớt,
thay vào đó là những đêm bạc mặt trước màn hình với những “chiêu thức”,
những “bí kíp” võ công đọc lên đã thấy méo cả miệng. Cậu làm tất cả để thể
11
hiện đẳng cấp của mình trong thế giới ảo. Q bỏ tiền thật để mua lấy những
“vũ khí” ảo nhằm trang bị cho nhân vật của mình thật tinh nhuệ. Số tiền chi
ra từ vài trăm nghìn đồng rồi lên đến vài triệu và hàng chục triệu lúc nào
chẳng hay. Nợ nần chất đống, Q bị các chủ nợ săn lùng và còn bị báo lên cả
ban giám hiệu nhà trường. Chỉ khổ cho bố mẹ nông dân của Q. Khi được
nhà trường gọi lên giải quyết chuyện nợ nần của con, hai bác đã không thể
hiểu nổi con mình nợ người ta hàng chục triệu để mua cái gì.
* Uống liều
Hiện tượng sinh viên uống rượu đã trở thành chuyện thường ngày đối
với nhiều người. Bất cứ một dịp nào: sinh nhật, lễ tết, ngày cuối tuần… thậm
chí là chả cần “nhân dịp“, các sinh viên cũng tụ tập chén tạc, chén thù.
Người viết bài này đã từng chứng kiến ba cậu sinh viên ĐHXD uống hết 3
chai rượu Lúa Mới (loại 1 lít một chai) trong buổi liên hoan chia tay một
đồng chí lên đường “về quê mẹ” (vì bị đình chỉ học một năm) mà đồ nhắm
chỉ có mấy củ lạc với vài quả khế. Uống xong, cả bọn say xỉn, nôn mửa ra
phòng khiến ai vô tình đi ngang qua sẽ cảm thấy kinh hãi với lối sống buông
thả của một bộ phận sinh viên hiện nay.
Ai cũng biết uống nhiều như vậy sẽ cực hại đến lục phủ ngũ tạng
nhưng tất cả đều phớt lờ và cho rằng “vui là chính, sức khỏe là thứ yếu”.

khả năng sinh con.
13
Nguy hiểm nhất là tình trạng “tình cho không biếu không”, những
cô gái có tiểu sử tình dục không rõ ràng tự động đến sống chung với các
nam sinh viên. Họ chỉ cần có chỗ ăn ở còn không cần yêu cầu gì khác. Đây
thực chất là những cô gái bán hoa đã hết thời tìm cách mồi chài, chèo kéo
những sinh viên vốn tò mò, thích của lạ. Đây là những đối tượng có nguy cơ
bị nhiễm HIV rất cao. Mới đây, cái chết của một nam sinh trường TL vì bị
nhiễm HIV từ những cô gái “cho không biếu không” này đã dấy lên dư luận
lo ngại trong xã hội về thực trạng nhức nhối này.
2.2. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng tệ nạn ma túy, cờ bạc trong học
sinh, sinh viên
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau khiến cho HS-SV nói riêng, cũng
như thanh niên nói chung mắc vào tệ nạn xã hội. Tuy nhiên chung ta co thể
chia chung s thành hai nhom nguyên nhân chính sau:
2.2.1. Nguyên nhân khách quan.
* Nguyên nhân từ sự tác động của nền kinh tế thị trường
Qua mấy thập kỷ sống theo kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nay
chuyển sang kinh tế thị trường. Sự đổi mới về cơ chế mang lại nhiều thành
tựu về kinh tế nhưng cũng bộc lộ nhiều mặt trái của xã hội như: Sự phân hóa
giàu nghèo ngày càng sâu sắc, sự chênh lệch quá lớn trong thu nhập, mức
sống của các tầng lớp nhân dân, sự xuống cấp của đạo đức xã hội, sự hình
thành lối sống thực dụng, trụy lạc, sự giáo dục của gia đình bị buông lỏng do
cha mẹ bị cuốn hút vào các hoạt động của tệ nạn xã hội.
* Nguyên nhân từ gia đình
14
Tội phạm, tệ nạn xã hội chịu ảnh hưởng của việc giáo dục gia đình, nó
ảnh hưởng đến lối sống của HS-SV.
Nếu mỗi cá nhân, mà cụ thể HS-SV được sinh ra, lớn lên, được sinh ra,
lớn lên, được sự giáo dục tốt từ phía gia đình thì tỉ lệ phạm tội, mắc các tệ

phòng ngừa các em vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, nhiều nơi nhà trường
cũng có những yếu kém, sai lầm góp phần làm gia tăng tệ nạn ma tuý trong
HS-SV, ở nhiều trường các tổ chức đoàn, đội chưa thực sự là nơi để các
thành viên trao đổi với nhau các quan điểm về cuộc sống, về hoài bão, về
tâm tư, nguyện vọng để hoàn thiện bản thân. Tổ chức và kỷ luật của Đoàn,
của Đội còn lỏng lẻo, không có chiều sâu về cả mặt nội dung và hình thức,
nặng về thành tích mà lẩn tránh các vấn đề gai góc trong HS-SV hiện nay
như hỗ trợ HS-SV nghèo vượt khó, HS-SV với các tệ nạn xã hội (ma túy,
mại dâm, cờ bạc…) Điều này sẽ dẫn các em đến hoạt động tiêu cực, tụ tập
chơi bời từ đó dễ bị tệ nạn ma tuý lôi kéo, quyến rũ.
Sự quan tâm chỉ đạo của nhà trường, các cấp các ngành chức năng chưa
hết trách nhiệm, chưa tạo phong trào rộng khắp chưa quản lý chặt chẽ HS-
SV, để họ nâng cao cảnh giác, tích cực phòng ngừa tham gia phòng, chống
tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội.
Bên cạnh tính ưu việt của nền kinh tế thị trường thì mặt trái của nó tác
động ảnh hưởng không nhỏ đến bộ phận SV ở nước ta đặc biệt là Hà Nội
hàng năm có hàng triệu SV ra trường không xin được việc làm, để đảm bảo
cuộc sống các em đã tự phải bươn trải và không ít trong số đó bị lôi kéo vào
con đường phạm tội và tệ nạn xã hội.
16
Trong khi trình độ khoa học công nghệ phát triển nhanh, đặc biệt là tin
học thì chưa có cơ chế quản lý phù hợp, vì vậy những văn hóa đồi trụy, phản
động, kích động tình dục, kiếm hiệp bạo lực thông qua internet… được một
bộ phận HS-SV không được định hướng.
Cơ quan chức năng buông lỏng quản lý các tụ điểm vui chơi, quán bar,
karaoke, dịch vụ Internet. Phía gia đình thì thiếu sự quan tâm, chăm sóc,
chưa kịp thời nắm bắt đặc điểm tâm lý của các em.
Giáo dục toàn diện có chiều sâu không chỉ ở các môn học, giờ học trong
trường mà gồm cả cách ứng xử của thầy, trò. Nhân cách của học trò phát
triển theo hướng tích cực hay không tích cực có sự đóng góp của cả gia đình,

cuối cùng sa vào con đường nghiện ngập, phạm tội như: trộm cắp, cướp giật,
trấn lột…
Từ những nhận định trên chúng ta có thể thấy rằng ranh giới giữa sự
nghèo nàn, sự hạn chế về nhận thức là nguy cơ dẫn đến tình trạng nghiện ma
tuý.
* Nguyên nhân từ chính cá nhân
Một số HS-SV xuống cấp về lối sống đạo đức, sa sút về phẩm chất
chính trị, không xác định được động cơ mục dích, lý tưởng phấn đấu, sống
18
buông thả, sống gấp, sống thực dụng, sống không lao động và chạy theo cám
dỗ đời thường.
Ví dụ: tình trạng sống thử trước hôn nhân của SV theo khảo sát tiến
hành trên 300 SV nội thành Hà Nội, hơn 165 nam SV và 15 nữ SV từng có
quan hệ tình dục.
Do nhận thức pháp luật còn hạn chế theo ý kiến của cán bộ cảnh sát
điều tra và nhiều nhà nghiên cứu thì HS-SV không ý thức được mối nguy
hiểm và hậu quả hành động vi phạm phạm tội của mình mà chỉ hành động
theo bản năng cảm tính có một số HS-SV khi bị bắt mới biết mình phạm tội
nghiêm trọng.
Một số HS-SV do thiếu ý thức rèn luyện không chủ động phòng tránh
những nguy cơ tấn công của các tệ nạn xã hội.
* Nguyên nhân do tâm lý lứa tuổi
Về mặt tâm lý HS-SV là lứa tuổi hình thành và phát triển mạnh mẽ
những phẩm chất, nhân cách bậc cao có ý nghĩa rất lớn đối với sự tự giáo
dục và hoàn thiên bản thân theo hướng tích cực như khả năng tự đánh giá
lòng tự trọng, tự tin, tự ý thức
Tuy nhiên theo kết quả điều tra của viện nghiên cứu thanh niên về các
nguyên nhân chủ yếu các thanh niên phạm tội và mắc tệ nạn xã hội thì
nguyên nhân còn nông nổi đua đòi được số người được hỏi xếp vào thứ hạng
cao nhất chiếm 75,6%.

hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
- Hà Nội và kỷ niệm các ngày lễ lớn khác trong năm 2010.
b. Kiềm chế, làm giảm dần việc vi phạm pháp luật, đẩy lùi cơ bản tệ nạn ma
túy trong cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên. Phòng, chống hiệu quả
hành vi bạo lực trong các nhà trường và các hành động tự phát của học sinh,
sinh viên làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.
2. Yêu cầu
a. Phát huy sức mạnh của các tổ chức đoàn thể, huy động toàn thể lực lượng
trong các nhà trường tích cực tham gia phong trào đấu tranh phòng, chống
tội phạm. Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với địa phương và
gia đình học sinh, sinh viên.
b. Chủ động phòng ngừa, phối hợp đấu tranh, trấn áp tội phạm trong học
sinh, sinh viên và tội phạm bên ngoài xâm nhập vào trường học.
c. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết và ý
thức trách nhiệm của cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên, tự giác, tích
cực tham gia vào phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc.
II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
1. Tổ chức thực hiện hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Giáo
dục và Đào tạo và của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an về công
tác bảo đảm an ninh, trật tự nhà trường:
21
a. Thông tư số 31/2009/TT-BGDĐT ngày 23/10/2009 ban hành Quy định về
công tác phòng, chống ma túy trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo
dục quốc dân;
b. Thông tư liên tịch số 34/2009/TTLT/BGDĐT-BCA ngày 20/11/2009 giữa
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an hướng dẫn phối hợp thực hiện công
tác đảm bảo an ninh, trật tự tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân.
2. Tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức cảnh
giác với âm mưu của các thế lực thù địch hoạt động chống phá Nhà nước.

tệ nạn ma túy trong trường học giai đoạn 2006 - 2010:
a. Các sở giáo dục và đào tạo, các đại học, học viện, trường đại học, cao
đẳng và trung cấp chuyên nghiệp tổ chức tổng kết và gửi báo cáo về Bộ Giáo
dục và Đào tạo trước ngày 30/9/2010.
b. Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết
09/CP, Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm giai đoạn 1998 - 2010
và tổng kết công tác phòng chống tệ nạn ma túy trong trường học giai đoạn
2006 - 2010 vào tháng 11/2010.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
23
1. Căn cứ vào nội dung tại Kế hoạch này, yêu cầu Giám đốc các sở giáo dục
và đào tạo, Hiệu trưởng (Giám đốc) các đại học, học viện, trường đại học,
cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức
thực hiện.
2. Thường trực Ban Chỉ đạo 138 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ Công tác
học sinh, sinh viên) phối hợp với Bộ Công an tổ chức các đoàn kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện công tác đảm bảo an ninh, trật tự trường học và triển
khai thực hiện Kế hoạch này tại một số sở giáo dục và đào tạo, nhà trường
(thời gian tiến hành từ tháng 4/2010 đến tháng 9/2010). Các cơ quan quản lý
giáo dục ở địa phương cần tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn thực
hiện, kịp thời phát hiện, khen thưởng những cách làm hay, hiệu quả và xử lý,
chấn chỉnh các vi phạm.
3. Các sở giáo dục và đào tạo, các đại học, học viện, trường đại học, cao
đẳng và trung cấp chuyên nghiệp thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định
kỳ theo học kỳ, năm học và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu việc thực hiện
Kế hoạch này tại cơ quan, trường học của mình.
Việc phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội là hệ thống nhiều mức độ các
biện pháp mang tính nhà nước và xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân
và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và
bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội.

điều kiện hình thành nhân cách.
25

Trích đoạn Những tồn tại và hạn chế trong việc phòng, chống tệ nạn xã hội trong học đường hiện nay.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status