TRƯỜNG ÐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ÐÀO TẠO SAU ÐẠI HỌC
Tiểu luận môn học
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
Đề tài
VẤN NẠN ”BÔI TRƠN" CƠ QUAN THUẾ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
GVHD : TS. Huỳnh Thanh Tú
Lớp : QT Ngày 2 – K22
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – Chủ thể
TP HCM, năm 2014DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM CHỦ THỂ - NHÓM 2
STT
MSHV
HỌ VÀ TÊN
1
7701220862 Lê Sơn Phát
2
7701221718 Đoàn Thị Thu Trang
3
7701221263 Nguyễn Thị Huệ Trinh
4
7701221740 Nguyễn Châu Hoàng Trương
5
7701221308 Nguyễn Minh Tuấn
6
7701221444 Phạm Thị Yên
7
7701221445 Huỳnh Như Yến
Nhận xét của Giảng viên
5
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ
1.1. Tìm hiểu sơ lược về quyết toán thuế
- Quyết toán thuế là gì?
Quyết toán thuế là công việc bắt buộc của một doanh nghiệp sau một thời gian thành lập (thông
thường là sau 5 năm, còn doanh nghiệp lớn thì có khi một năm quyết toán thuế một lần)
- Khi nào doanh nghiệp phải quyết toán thuế?
Sau khi đơn vị có quyết định thanh tra quyết toán của cơ quan thuế quản lý yêu cầu, và cơ quan
thuế thường hẹn doanh nghiệp sau hai tuần để chuẩn bị.
- Quyết toán thuế nhằm mục đích gì?
Mục đích của việc quyết toán thuế là truy thu thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp, thuế Giá Trị Gia
Tăng, thuế Thu Nhập Cá Nhân của doanh nghiệp.
- Quy trình quyết toán thuế được thực hiện như sau:
1. Thu thập thông tin là các hóa đơn, chứng từ, sổ sách của doanh nghiệp;
2. Khảo sát thực tế quy trình hoạt động của doanh nghiệp;
3. Kiểm tra chứng từ kế toán, phân loại và sắp xếp chứng từ kế toán;
4. Lọai bỏ, điều chỉnh, chỉnh sửa các chứng từ không phù hợp;
5. Lập các bảng phân bổ công cụ, dụng cụ, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển;
6. Tính và lập các bảng khấu hao tài sản cố định;
7. Hạch toán kế toán trên phần mền kế toán chuyên nghiệp;
8. Kết chuyển, tổng hợp thông tin để lập sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh
doanh, thuyết minh báo cáo tài chính;
9. Lập các báo cáo quyết toán thuế;
10. Trao đổi với doanh nghiệp các nội dung, nghiệp vụ có liên quan đến kết quả thực hiện;
11. Lập và in các loại báo cáo quyết toán thuế;
12. In báo cáo tài chính, sổ sách kế toán theo quy định;
13. Tư vấn cho doanh nghiệp các nội dung có liên quan trong quá trình tổng hợp thông tin để lập
quyết toán thuế. Tư vấn điều chỉnh, cân đối số liệu chứng từ kế toán, doanh thu, lãi lỗ. Tư vấn
xử lý các vấn đề sai phạm về thuế …
14. Đại diện doanh nghiệp giải trình với cơ quan thuế
khoản thuế này cho cơ quan thuế, ghi rõ số biên lai. Đến cuối năm tài chính, người được thuê sẽ đến cơ
quan thuế hoàn tất thủ tục thuế, nếu tổng mức thu nhập không quá 4tr thì được hoàn trả lại 10% đã trích,
còn nếu vượt thì cơ quan thuế sẽ tính thuế phải nộp và bù trừ với khoản đã trích.
1.2.6. Thuế xuất nhập khẩu
Nếu doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu.
1.2.7. Thuế môi trường
7
Doanh nghiệp phải đóng một khoản phí để sử dụng vào mục đích cải tạo môi trường, xử lý chất
thải
1.2.8. Thuế sử dụng đất
Doanh nghiệp hàng năm phải đóng khoản thuế này cho nhà nước, theo mức thuế do cơ quan thuế
ban hành. Nếu doanh nghiệp đóng ở các khu công nghiệp, khu chế xuất thì khoản thuế này đã được ban
quản lý tính trong chi phí thuê mặt bằng.
Trên đây là những loại thuế doanh nghiệp phải nộp mới chỉ là các loại thuế chính Ngoài ra còn
tùy thuộc vào từng lọai hình kinh doanh mà doanh nghiệp còn phải đóng thêm các loại thuế như: thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế tài nguyên ….
1.3. Chậm kê khai thuế và nộp thuế
Căn cứ các quy định tại các Điều 2, Điều 3, Điều 4, Điều 9 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày
07/06/2007 của Chính phủ; Khoản 1, 2 Điều 1 Nghị định số 13/2009/NĐ-CP ngày 13/02/2009 của Chính
phủ; Mục II Phần A, điểm 2 Mục I Phần B Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài
chính.
1.3.1. Chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin so với thời hạn quy định
- Từ 10 đến 20 ngày:
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền 550.000 đồng
Mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 100.000 đồng
Mức tiền phạt tối đa không quá 1.000.000
- Quá thời hạn quy định từ trên 20 ngày trở lên:
Phạt tiền 1.100.000 đồng
Mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 200.000 đồng
Mức tiền phạt tối đa không quá 2.000.000
- Từ 10 đến 20 ngày làm việc:
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền 1.100.000 đồng
Mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 200.000 đồng
Mức tiền phạt tối đa không quá 2.000.000
- Từ trên 20 đến 30 ngày làm việc:
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền 1.650.000 đồng
Mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 300.000 đồng
Mức tiền phạt tối đa không quá 3.000.000
- Từ trên 30 đến 40 ngày làm việc:
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền 2.200.000 đồng
Mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 400.000 đồng
Mức tiền phạt tối đa không quá 4.000.000
- Từ trên 40 đến 90 ngày làm việc, nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn trên 90 ngày nhưng không phát sinh
số thuế phải nộp:
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền 2.750.000 đồng
Mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 500.000 đồng
9
Mức tiền phạt tối đa không quá 5.000.000
Sau đó trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, người nộp thuế nộp hồ sơ
khai thuế hợp lệ và xác định đúng số tiền thuế phải nộp của kỳ nộp thuế thì Số ngày chậm nộp tiền thuế
làm căn cứ xử phạt được tính từ ngày hết hạn nộp thuế của kỳ phát sinh số thuế phải nộp hồ sơ khai thuế,
đến ngày người nộp thuế nộp số tiền thuế chậm nộp. Đồng thời cơ quan thuế phải ra quyết định bãi bỏ
quyết định ấn định thuế.
1.4 Những sai sót thường gặp khi sử dụng hóa đơn
1.4.1. Cách viết hóa đơn
1. Quên ghi ngày hóa đơn.
2. Ghi sai thông tin người mua hàng.
3. Không gạch bỏ ô MST còn trống.
4. Số tiền bằng chữ không khớp với số tiền bằng số.
5. Không gạch bỏ nội dung còn trống trong phần diễn giải, số lượng, đơn giá, thành tiền.
9. Hạch toán, kê khai không đúng thời gian, quá thời hạn kê khai 6 tháng nhưng vẫn kê khai khấu trừ thuế
GTGT.
1.5.2. Kê khai thuế TNCN
1. Không xác định được khi nào khai thuế TNCN theo tháng và khi nào thì theo quý.
2. Không trừ các khoản nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp khi tính thuế TNCN.
3. Không trừ khoản phụ cấp tiền ăn mà Doanh nghiệp phải trả cho người lao động (Không vượt quá 620.000
đồng) khi tính thuế TNCN.
1.5.3. Kê khai thuế TNDN
1. Không thiết lập đầy đủ hồ sơ về tài sản cố định, mua sắm TSCĐ không có hoá đơn hợp lệ.
2. Thiếu bảng đăng ký tiền lương; hạch toán chi phí tiền lương nhưng thiếu hợp đồng lao động; bảng lương
không có người ký nhận.
3. Thiếu bảng kê hồ sơ quyết toán thuế (liệt kê danh sách hồ sơ đính kèm theo nhằm tránh thất lạc).
4. Doanh nghiệp được thụ hưởng chế độ miễn giảm do ưu đãi đầu tư nhưng quên hoặc không biết cách hạch
toán và báo cáo quyết toán với cơ quan thuế; hoặc chờ cơ quan thuế đến kiểm tra để xác định số thuế
được miễn giảm.
5. Không chọn mục gia hạn nộp tiền thuế khi phát sinh thuế doanh nghiệp phải nộp khi có quyết định gia
hạn nộp thuế của tổng cục thuế.
1.6. Những sai sót thường gặp khi hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT)
Hoàn thuế GTGT là hoạt động mà trong đó các doanh nghiệp thường gặp phải những sai sót về các vấn
đề sau:
1.6.1. Hồ sơ chứng minh hàng xuất khẩu
1. Không thuyết minh sự sai biệt giữa hoá đơn và tờ khai Hải quan; giữa hoá đơn và chứng từ thanh toán.
2. Thiếu chứng từ thanh toán hợp pháp đối với hàng xuất khẩu .
3. Không có xác nhận của Hải quan tại ô 47 của tờ khai Hải quan
1.6.2. Văn thư đề nghị hoàn thuế GTGT (mẫu 10/GTGT)
11
Văn thư đề nghị không xác định mình thuộc đối tượng cụ thể nào được(xuất khẩu hay âm luỹ kế
3 tháng v.v…).
1.6.3. Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh
Bảng kê khai tổng hợp số phát sinh đề nghị hoàn không khớp với số thuế GTGT đã kê khai hàng
12
8. Khi có sự thay đổi những thông tin như: Địa chỉ kinh doanh , tài khoản và ngân hàng , điện thoại, kế toán
trưởng… không khai báo thay đổi kịp thời (sẽ bị xử phạt).
9. Các văn bản trong trong hồ sơ đăng ký thuế lần đầu, …. của các doanh nghiệp mới thành lập không phải
do người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh ký tên, đóng dấu.
13
Chương 2: CHÍNH KIẾN DOANH NGHIỆP VỀ VẤN NẠN ”BÔI TRƠN" CƠ QUAN THUẾ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Xét khía cạnh doanh nghiệp: Kế toán trưởng góp doanh nghiệp đóng thuế thấp nhất, nhưng vẫn
đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ với thuế.
Vì vậy, rõ ràng, doanh nghiệp chúng tôi không trốn thuế, mà là làm sao thực thi nghĩa vụ đóng
thuế với mức đóng thấp nhất. Sau đây là nhóm chúng tôi xin được trình bày vấn đề:
- Về việc nộp thuế ”đúng" quy định: Nộp đầy đủ các khoản thuế đáng lẽ phải nộp.
- Về việc nộp thuế thấp hơn quy định: Nộp thấp hơn các khoản thuế đáng lẽ phải nộp.
Ở đây, việc nộp thuế “đúng" quy định hay thấp hơn quy định hất là nếu chúng ta xét minh bạch công khai
các khoản thuế phải nộp, để đánh giá khoản thu chi sao cho đạt được mức thuế như trên.
2.1. Về việc nộp thuế “đúng” quy định
2.1.1. Thực trạng
Vấn đề nộp thuế ”đúng” quy định có cấn vần đề cần xem xét:
- Về quy trình nộp thuế: Doanh nghiệp phải tuân thủ 100% quy trình như đề cập ở Chương 1.
- Về các khoản thu chi: Doanh nghiệp phải ghi sổ, bút toán khoản thu chi đúng 100% các khoản mục theo
quy định.
- Về các loại thuế: Doanh nghiệp phải nộp đầy đủ 8 loại thuế như đã quy định (tùy theo đặc thù doanh
nghiệp)
1. Thuế môn bài
2. Thuế giá trị gia tăng
3. Thuế thu nhập doanh nghiệp
4. Thuế thu nhập cá nhân
+ Doanh nghiệp nhận được sự đào tạo đầy đủ về nghiệp vụ thuế từ cơ quan thuế. Cũng như doanh nghiệp
được tạo điều kiện tốt nhất để hoàn thành các nghiệp vụ liên quan thuế từ cơ quan thuế.
+ Sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.
2.2. Về việc nộp thuế mức thấp hơn quy định
2.2.1. Thực trạng
Dựa trên các thách thức đạt ra để nộp thuế ”đúng" quy đinh, doanh nghiệp xin trình bày các yếu tố chủ
quan lẫn khách quan, khiến doanh nghiệp chúng tôi dù muốn nộp ”đúng" quy định cũng
không thực hiện được trong bối cảnh hiện nay:
2.2.1.1 Yếu tố chủ quan
15
- Về việc doanh nghiệp phải đảm bảo trình độ ngay từ khi thành lập doanh nghiệp về các vấn đề liên quan
hoá đơn chứng từ, các loại thuế, quy trình thuế nói riêng các vấn đề liên quan thuế nói chung.
+ Ngay từ đầu, khi thành lập, doanh nghiệp còn nhiều bở ngỡ các vấn đề liên quan về nghiệp vụ thuế.
Đây là điều tất yếu khó trách khỏi.
⇒ Đồng thời, nhận được hạn chế từ doanh nghiệp, cơ quan thuế đặt vấn đề “bôi trơn” ngay từ ngày khai
trương doanh nghiệp: kiểm tra các thủ tục đăng ký thuế (thuế khoán hoặc thuế kê khai…), trong buổi làm
việc đầu tiên, cơ quan thuế giới thiệu về cách làm việc, về chi trả tiền thuế như thế nào, v.v…
+ Trong quá trình hoạt động, nhiều hóa đơn chứng từ cho hoạt động trong tổ chức phát sinh. Doanh
nghiệp không khỏi thiếu sót.
Đồng thời, với những thiếu sót, doanh nghiệp tốn nhiều thời gian để bổ sung, chỉnh lý hồ sơ.
Thông thường, những hóa đơn đã xa từ vài tháng trước, muốn hiệu chỉnh rất khó khăn; đồng thời tốn thời
gian hiệu chỉnh. Từ đó, khả năng không kịp hạn thời gian quyết toán thuế rất cao; khả năng bị phạt do trễ
quyết toán rất cao, cũng như nguy cơ bị phạt rất cao. Doanh nghiệp dính líu đến thuế, sẽ ảnh hưởng đến
uy tín, công việc kinh doanh của doanh nghiệp rất nhiều, có thể nói, “không còn đất sống”.
⇒ Cơ quan thuế bắt được điểm yếu khó khắc phục đó của doanh nghiệp, cơ quan thuế đưa ra cách xử lý
trong vụ việc: có nhiều thang xử lý phạt như chương 1, nếu “bôi trơn” sẽ được đặt khoản phạt nhẹ nhất
hoặc nếu nhẹ nhất, sẽ xem như không bị phạt tùy khoản bôi trơn.
- Về việc doanh nghiệp phải tính toán được cân bằng chi phí + thuế và lợi nhuận đảm bảo hiệu quả hoạt
động kinh doanh.
Với tư cách là một chủ doanh nghiệp, chúng tôi luôn phải đối mặt với những áp lực về chi phí
phạt.
Ví dụ:
Như Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ 01/7/2007, nhưng các văn bản hướng dẫn lại được xây
dựng rải rác từ cuối năm 2007 đến năm 2008 và trong 6 tháng đầu năm 2009 mới tạm coi là đủ. Chính sự
không đồng bộ này đã dẫn đến hiện tượng chồng chéo trong chỉ đạo và tổ chức thu thuế, do vừa phải theo
cái mới, vừa theo cái cũ gây khó khăn cho doanh nghiệp
+ Về việc những khoản thu, chi quy định không rõ ràng, bản thân doanh nghiệp ghi mục nào cũng “đều
đúng hoặc đều sai”.
⇒ Việc “đều đúng hoặc đều sai” do cơ quan thuế thanh tra thuế quyết định, vì vậy, “Ba lần cửa khóa
cũng chỉ phòng người ngay chứ phòng sao được kẻ gian”. Điều này làm bản thân doanh nghiệp muốn làm
đúng, cũng không thể được nếu không “bôi trơn” cơ quan thuế.
17
- Về việc doanh nghiệp muốn nhận được sự đào tạo đầy đủ về nghiệp vụ thuế từ cơ quan thuế. Cũng như
doanh nghiệp để được tạo điều kiện tốt nhất để hoàn thành các nghiệp vụ liên quan thuế từ cơ quan thuế.
+ Doanh nghiệp được đào tạo đầy đủ các nghiệp vụ liên quan về quy tắc thuế hiện tại, nhưng bản thân các
doanh nghiệp đều biết rằng cơ quan thuế mới là người thông qua vấn đề liên quan đến thuế.
⇒ Buổi huấn luyện nghiệp vụ là buổi ngầm hiểu “răn đe”.
+ Khi nào doanh nghiệp còn hoạt động thì còn làm việc cơ quan thuế, trong khi đó, văn bản hướng dẫn,
mẫu biểu trong báo cáo thuế, thay đổi thường xuyên, doanh nghiệp cần sự hướng dẫn trực tiếp từ cơ quan
thuế, do đó, doanh nghiệp chúng tôi phải mối quan hệ để nhận được sự hướng dẫn tận tình và đầy đủ của
cơ quan thuế.
⇒ Văn hóa “quà tặng” của Phương Đông nói chung Việt Nam nói riêng: Để tạo được mối quan hệ bản
thân doanh nghiệp phải thể hiện lòng thành với cơ quan thuế bằng các khoản “bôi trơn”.
- Về việc sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt
Nam.
Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều theo chính sách thu hút FDI
của nhà nước, việc này đã làm cho các doanh nghiệp nhỏ chúng tôi đã khó khăn nay càng gặp khó khăn
hơn nữa.
Mặt khác, các doanh nghiệp có vốn FDI thường là những doanh nghiệp có nguồn lực tài chính
mạnh, khi đầu tư vào Việt Nam những doanh nghiệp này lại được hưởng nhiều chính sách ưu đãi thuế của
Dù bộ trưởng Y tế không liên quan • đến thuế, nhưng cho thấy phương châm tố cáo tình trạng phong bì
như thế này có khả thi chăng.
+ Vấn đề sau khi doanh nghiệp nghiệp tố cáo việc nhận “phong bì” cơ quan thuế:
Gần đây có 1 doanh nghiệp tố cáo 1 nhân viên thuế nhận phong bì, được nhận bằng khen, tuyên dương;
nhưng khắp các cộng đồng, diễn đàn bàn bán với nhau rằng:
o Sẽ sống không yên, chết không xong thôi.
o Hoan hô, tinh thần ôm bom cảm tử.
o …
Đời thay đổi khi ta thay đổi, ta không thay đổi được đời ta thay đổi ta.
Doanh nghiệp chúng tôi để xóa bỏ tình trạng này bản thân doanh nghiệp chúng tôi hành động là không
đủ. Nó phải là sự phối hợp toàn bộ xã hội, đặc biệt từ cơ quan có thẩm quyền.
+ Về đường dây nóng tố cáo tiêu cực trong tham nhũng, khi gọi thửy, được trả lời: Không tiếp nhận
những thông tin về tham nhũng của cán bộ trong ngành. Trong lĩnh vực thuế, doanh nghiệp thường xuyên
phải trả phí bôi trơn, cán bộ thuế đề nghị cố ý khai báo giảm nghĩa vụ thuế để được hối lộ.
19
Trước độ nóng tham nhũng, tiêu cực trong ngành thuế, hải quan, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai
nói: “Chúng tôi tiếp tục cam kết, nỗ lực thực hiện các biện pháp phòng thống tham nhũng; đơn giản, minh
bạch hóa, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp”.
Bà Mai cho biết, ngành thuế, hải quan áp dụng kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Có quy định về trách nhiệm
của người đứng đầu, cán bộ; có ban phòng chống tham nhũng trong tài chính. Đấy vẫn là những lời hứa
của cơ quan chức năng, bản thân doanh nghiệp chúng tôi vẫn tiếp tục chịu hệ quả từ nó, trước khi mong
đợi những chuyển biến tích cực trong thời gian tới.
+ Nghiệp đoàn chúng tôi cũng tích cực tham gia các hoạt động góp phần trưng bày ra ánh sáng các doanh
nghiệp ”ma", không thực sự tạo ra các hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ kinh doanh ảo, bằng việc tạo ra
các hoá đơn chứng từ giả để tạo ra các khoản chi phí để được hoàn thuế.
- Bản thân doanh nghiệp chúng tôi duy trì được hoạt động thông suốt để tạo của cải vật chất cho xã hội,
công việc việc làm cho người lao động; góp phần tham gia vào các hoạt động cộng đồng
- Một số ý kiến khác cho rằng, các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam “không nộp đồng thuế nào”?
Về vấn đề này, doanh nghiệp chúng tôi là doanh nghiệp toàn cầu, chúng tôi hướng phạm vi toàn cầu, về
mặt danh nghĩa, ở Việt Nam chúng tôi không đóng thuế nhưng xét trên phạm vi toàn cầu, chúng tôi đã