HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VƯƠNG NGỌC THỊNH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 603801
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THIÊN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2010
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1
PLDC : Pháp lệnh dân chủ
QCDC: Quy chế dân chủ
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
MTTQ: Mặt trận Tổ quốc
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
2
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tư cách là một thiết chế chính trị - xã hội, một hình thức nhà
nước, dân chủ có mối quan hệ hữu cơ với pháp luật, bởi pháp luật là một
yếu tố cấu thành của nội dung dân chủ. Nền dân chủ chúng ta đã và đang
phấn đấu xây dựng là nền dân chủ triệt để, trong đó nội dung cơ bản nhất là
toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt khác, dân chủ phải đi liền với kỷ
cương, pháp chế. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hoà
giữa quyền và trách nhiệm, gắn lợi ích cá nhân với lợi ích của sự phát triển
xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ".
Câu nói toát lên sự đồng nhất, tính xuyên suốt của những vấn đề xoay xung
một cách tối đa. Các chủ thể thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở chưa
thực làm tròn vai trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ trong thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cơ sở.
Với những lý do đó, học viên xin chọn đề tài Thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Hoài Đức (Hà Nội) làm luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Sách
Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ
nghĩa”, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991; Nguyễn Khắc Mai: “Dân chủ - di sản
văn hóa Hồ Chí Minh”, NXB Sự thật, Hà Nội 1997; Nguyễn Đình Lộc: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; Lương Gia Ban:
“Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, NXB CTQG, Hà
Nội, 2003…
Các công trình này tập trung làm rõ giá trị nên tảng của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh về dân chủ, dân chủ xã hội chủ
nghĩa, đánh giá khách quan những thành quả, tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản
có được cũng như chỉ ra hạn chế do bản chất giai cấp tư sản quy định.
4
Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 7-1989; Nguyễn Tiến Phồn: “Dân
chủ và tập trung dân chủ - Lý luận và thực tiễn”, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2001
Những tác phẩm này đã nêu rõ thành công, hạn chế trong xây dựng và
thực hiện nền dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.
Nêu ra những nguyên nhân, hạn chế và giải pháp khắc phục.
2.2. Tạp chí
Hoàng Chí Bảo: “Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ:
Quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Thông tin lý
luận, số 9-1992; Trần Quang Nhiếp: “Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một hệ
pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức (Hà Nội) hiện
nay; trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị quan điểm, giải pháp nâng cao chất
lượng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của địa phương trong thời gian
tới.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đề tài tiến hành nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ
sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Qua phân tích những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cơ sở; từ việc đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên
địa bàn huyện Hoài Đức luận văn đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm
đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài
Đức (Hà Nội).
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Phân tích những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cơ sở cơ sở;
6
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn
huyện Hoài Đức (Hà Nội), thành công, hạn chế, nguyên nhân.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức (Hà Nội) trong
thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về nhà nước
và pháp luật, về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, trong đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ
thể, như: phân tích tổng hợp, thống kê và so sánh, phương pháp lịch sử và
1
.
Như vậy, dân chủ được coi là tiêu chí đánh giá cách thức, trình độ
tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước đảm bảo quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Song vấn đề dân chủ luôn là vấn đề phức tạp, có nội
dung rộng lớn, luôn luôn mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa
của loài người. Để nghiên cứu, hiểu rõ bản chất, tính chất và nội dung của
dân chủ phải xem xét nó dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau.
Bản thân thuật ngữ dân chủ được tiếp cận dưới nhiều góc độ: Triết
học, chính trị; dân chủ là một hình thái nhà nước; dân chủ là một hiện thực
chính trị;dân chủ là một hiện thực kinh tế, một hiện thực xã hội và dân chủ
là một trạng thái của hệ thống quan hệ quốc tế. Nếu xét theo trình độ phát
1
Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, 1995
8
triển của lịch sử nhân loại thì có các nền dân chủ: dân chủ chủ nô, dân chủ
tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Về mặt phạm vi, dân chủ rất toàn diện,
bao quát các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa
tư tưởng; từ các mối quan hệ giữa con người với con người đến quan hệ
giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với Nhà nước, giữa các tổ chức
và thể chế hiện hành, giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Hiện nay,
với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, dân chủ còn được hiểu như là
phương thức, cách thức tổ chức, là thước đo số cá thể (cá nhân, tổ chức)
tham gia vào quá trình xã hội hóa công nghệ, tài chính, thông tin, văn hóa.
Song, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì thực chất nội dung, tính chất và
khuynh hướng phát triển của dân chủ là hoàn toàn phụ thuộc vào chỗ quyền
lực chính trị thuộc về ai, phục vụ ai trong mối quan hệ, trong cộng đồng và
xã hội đó.
Sự phát triển của dân chủ phụ thộc vào trình độ phát triển kinh tế -
xã hội, năng lực nhận thức của công dân và chính quyền, truyền thống lịch
của dân chủ xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người, để con người có thể
thực hiện được những quyền tự nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh và
quyết định những vấn đề xã hội. Theo C.Mác, dân chủ xã hội chủ nghĩa
thực chất là chế độ “do nhân dân tự quy định Nhà nước”, nhân dân là chủ
thể tối cao của quyền lực Nhà nước. Nhân dân tự tổ chức quyền lực nhà
nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng,
kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước thông qua hình thức dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện. Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh
vực chính trị của dân thành ba nội dung lớn: quyền bầu cử, quyền tham gia
quản lý các công việc của Nhà nước và quyền bãi miễn.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc
điểm cơ bản sau:
+ Dân chủ cho nhân dân lao động
+ Dân chủ thực sự
2
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr 51
3
Lênin toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matsxcova, 1978, tr 101
10
+ Dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng,
văn hóa…thực chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tham gia một cách
thực sự bình đẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào
quản lý công việc Nhà nước và xã hội. Thống nhất được quyền và nghĩa vụ
của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Vì vậy, nó trở thành mục
tiêu và động lực của sự phát triển xã hội.
- Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ:
Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Hồ Chí
Minh lý giải khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, hết sức cô đọng và dễ
hiểu, dễ thực hiện và kiểm soát. Người nói: “ Chế độ ta là chế độ dân chủ,
tức là dân làm chủ”
“dân là chủ, dân làm chủ” đấy chính là thực hiện sứ mệnh lịch sử, vai trò to
lớn của quần chúng nhân dân, bởi vì quần chúng nhân dân là lực lượng cơ
bản của mọi cuộc cách mạng, là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất
và sáng tạo ra những giá trị tính thần, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát
triển của nhân loại.
b) Khái niệm dân chủ cơ sở:
Quần chúng nhân dân là những người trực tiếp sản xuất ra những
giá trị vật chất và sáng tạo ra giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh sống,
nhân dân luôn gắn bó mật thiết với một đơn vị, một tổ chức, một địa bàn
dân cư nhất định. Bất cứ một tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng
bao gồm hệ thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn. Những cấu trúc nhỏ nhất trong
một hệ thống có tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập,
là nền tảng cho toàn bộ hệ thống được gọi là cơ sở. Cơ sở là “tế bào” của
hệ thống. Bất cứ một công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều
gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ
thống. Đó chính là xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ
sở…nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân. Hệ
thống chính trị của nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được
tổ chức thành 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối
cùng. Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước, là nơi kiểm nghiệm một cách chính xác
nhất đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong
thực tiễn khách quan. Dân chủ, với ý nghĩa tối cao nhất là quyền tự nhiên
của con người được thực hiện trước hết là ở cơ sở. Nhân dân có quyền
được biết, được bàn và được tham gia giải quyết và kiểm tra giám sát mọi
hoạt động diễn ra ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức
12
gián tiếp và dân chủ trực tiếp ,là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm
chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng đối với
và các trào lưu chính trị của mỗi nước ở một thời kỳ lịch sử nhất định.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và
đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là
nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật và Nhà nước là hai thành
tố của thượng tầng chính trị- pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng khít
không thể tách rời nhau. Cả hai hiện tượng pháp luật và Nhà nước đều có
chung nguồn gốc cùng phát sinh và phát triển. Nhà nước là một tổ chức đặc
biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai
và phát huy có hiệu quả trên cơ sở của pháp luật. Pháp luật là hệ thống các
quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm và
đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực Nhà nước và đảm bảo
cho quyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên quy mô toàn xã hội.
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân,vì dân, do đó pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông
đảo nhân dân lao động, là pháp luật thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự
do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Nó khác biệt căn bản về chất
so với các kiểu pháp luật trước đó như pháp luật chủ nô, pháp luật phong
kiến, pháp luật tư sản.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý
chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và đảm bảo thực hiện bằng
sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi
người tôn trọng và thực hiện.
Pháp luật giữ vai trò quan trọng, là phương tiện để nhân dân phát
huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Pháp luật là
nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng rất
mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội trong đó có các quan hệ giữa các cá nhân
14
công dân với Nhà nước, giữa công dân với nhau trong đời sống xã hội.
Pháp luật đảm bảo thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền
pháp luật đó được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật bao gồm: Hiến pháp,
luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân,
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật đất đai, Luật
Thương mại, Luật khiếu nại tố cáo, Luật phòng chống tham nhũng…Pháp
lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Nghị định 71/1998 quy định
về quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính và Nghị định 07/1999
quy định về quy chế dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước, Nghị định 87/2007
quy định về thực hiện quy chế dân chủ trong công ty trách nhiệm hữu hạn
và công ty cổ phần. Nhưng được quy định và thể hiện tập trung, chủ yếu tại
các Nghị định 79,07,71,87 của Chính phủ quy định quy định về quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ sở và Nghị định 79/ NĐ được hoàn thiện thành
Pháp lệnh số 34/2007 thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Các văn bản
pháp luật này nhằm thể chế phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra” trên các lĩnh vực đời sống xã hội diễn ra ở cơ sở, nơi mỗi công
dân đều gắn bó, sinh sống, lao động, học tập, nơi họ có quyền làm chủ.
Trong đó Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là văn bản
pháp luật quy định cụ thể những việc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân cấp xã phải thông tin kịp thời và công khai để dân biết, những việc dân
bàn và quyết định trực tiếp, những việc nhân dân tham gia ý kiến trước khi
cơ quan Nhà nước quyết định, những việc dân giám sát, kiêm tra và các
hình thức thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn bao gồm cả dân chủ đại
diện và dân chủ trực tiếp.
1.1.2. Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa các quyền,
các giá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp. Đó là các quyền
về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có quyền tự do bầu cử và
ứng cử (Điều 54), quyền của nhân dân lao động được tham gia vào quản lý
16
Nhà nước (Điều 53), quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin (Điều
69), quyền của nhân dân được kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy và
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải
quyết các công việc của nhân dân.
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo
chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng
góp.
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất,
xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay
vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ
bảo hiểm y tế.
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả
lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch
và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn
đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra
lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này.
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do
chính quyền cấp xã trực tiếp thu.
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các
công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực
hiện.
- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.
Hai là, những nội dung nhân dân được bàn và quyết định trực
tiếp:
18
“Dân bàn” là khâu thứ hai đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.
Bàn là tôn trọng quyền tự do ngôn luận của nhân dân, người dân được phát
+ Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý
kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.
Ba là, những nội dung, hình thức mà nhân dân bàn, biểu quyết,
tham gia ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định:
Ngoài việc người dân được “bàn” và quyết định những vấn đề cụ thể
nêu trên, còn những vấn đề việc quyết định cuối cùng phải do chính quyền
xã hoặc cấp trên thực hiện thì người dân cũng được tham gia bàn bạc, đóng
góp ý kiến để giúp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan Nhà nước
cấp trên có những quyết sách đúng đắn và sáng suốt. Thực tế đã chứng
minh có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được xuất
phát từ sáng kiến của quần chúng ở cơ sở. Vì vậy, việc nhân dân bàn và
tham gia ý kiến một số việc chủ yếu là thủ tục bắt buộc trước khi chính
quyền xã hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Những nội
dung, hình thức mà nhân dân bàn, tham gia ý kiến để cấp có thẩm quyền
quyết định gồm:
- Về những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết, Pháp lệnh quy định các lĩnh
vực sau:
+ Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
+ Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu
tư của cộng đồng.
- Về hình thức nhân dân bàn, biểu quyết, nhân dân bàn và biểu quyết những
vấn đề trên bằng một trong các hình thức dưới đây:
+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn
từng thôn, tổ dân phố;
+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.
20
+ Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì
việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín;
hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa
tổ chức thành viên cấp xã
Đối với những việc cụ thể(công khai thông tin, tổ chức họp thôn…),
Pháp lệnh quy định trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân( UBND xã,
chủ tịch UBND, trưởng thôn…)
Trên đây là những nội dung trong pháp lệnh dân chủ cơ sở. Dựa vào
nội dung này chúng ta có thể đánh giá những mặt đạt và chưa đạt được
trong quá trình thực hiện Quy chế DCCS của mỗi địa phương. Pháp lệnh
dân chủ cơ sở là một công cụ mạnh để thúc đẩy tính minh bạch và sự tham
gia của người dân. Đây là những giá trị mà các tổ chức xã hội dân sự
thường hay đề cao và vận động thực hiện.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân. Pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền
làm chủ của nhân dân và có vị trí tối cao trong cách ứng xử của cả công
dân, các tổ chức và Nhà nước. Song mục đích đó có đạt được hay không,
pháp luật có triển khai thực hiện trong thực tế cuộc sống hay không phụ
thuộc vào hiệu quả thực hiện pháp luật của các chur thể.
Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động)
của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Dưới góc độ của
pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Thực hiện pháp luật là
một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật
đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể
pháp luật.
22
Chủ thể pháp luật có thể là cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức.
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là hoạt động có mục đích làm
cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đi vào cuộc
sống nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân
Phạm vi thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở diễn ra giữa các chủ
thể mà một bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hành chính
lãnh thổ hoặc những đơn vị quần cư nhỏ nhất.
Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp
luật về dân chủ cơ sở vừa mang tính chất quản lý hành chính vừa mang tính
chất tự quản.
Tính chất, mức độ của các chế tài xử phạt vi phạm chung chung,
mang tính định tính chứ chưa phải định lượng.
Nội dung thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở rất rộng lớn, có liên
quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú, được thực
hiện theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, trong
đó các việc biết, bàn, làm, kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ và chất lượng
thực hiện nội dung này ảnh hưởng quyết định đối với việc thực hiện nội
dung tiếp theo.
1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà các chủ thể tiến hành
các hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc
sống. Các quy phạm pháp luật rất phong phú nên hình thức thực hiện chúng
cũng rất phong phú và khác nhau. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực
hiện pháp luật, có thể xác định thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức
tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp
luật. Trong đó, thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, các
chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích
cực. Sử dụng pháp luật là hình thức trong đó các chủ thể pháp luật thực
hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho
24
phép), ở hình thức này các chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không
thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình. Thực hiện
pháp luật về dân chủ cơ sở được thực hiện chủ yếu ở hình thức sử dụng
pháp luật (đối với chủ thể là công dân) và áp dụng pháp luật (đối với chủ