MỤC LỤC:
A./ ĐẶT VẤN ĐỀ:…………………… ………………………………………………… 2
B./ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:…………… …………………………………………………2
I. Khái niệm của các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội:……………………………2
II. Phân loại hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội:…………………………………….2
III. Các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội:…………………………… 4
IV. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn mực
xã hội đối với lĩnh vực pháp luật…………… …………………………………………… 6
C./ KẾT THÚC VẤN ĐỀ:………… ……………………………………………… 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:…………………………… ………………… 11
1
A./ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong cuộc sống, ta bắt gặp rất nhiều hành vi tuân theo chuẩn mực xã hội, bên cạnh
đó vẫn còn rất nhiều hành vi làm sai lệch chuẩn mực xã hội, chính vì vậy em xin được
chọn đề tài: “ Phân tích khái niệm, phân loại, các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn mực xã
hội? Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu các cơ chế đó đối với lĩnh vực pháp luật.”
B./ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Khái niệm của hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội.
Khái niện sai lệch chuẩn mực xã hội thường được hiểu ở hai góc độ sau: Ở góc độ
thứ nhất: sai lệch chuẩn mực xã hội là hanh vi của cá nhân hay nhóm xã hội vi phạm các
nguyên tắc, quy định của chuẩn mực xã hội( hành vi sai lệch). Sai lệch chuẩn mực xã hội
được hiểu là những tình huống, sự kiện cụ thể của cuộc sống đóng vai trò là những nhân tố
phá vỡ sự tác động của các chuẩn mực xã hội( tình huống sai lệch).
Trong nghiên cứu xã hội học tội phạm, các nhà nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu,
quan tâm về sự sai lệch chuẩn mực theo ý nghĩa thứ nhất- hành vi sai lệch.
II. Phân loại hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội:
Các hành vi sai lệch thường được phân loại theo hai tiêu chí sau:
Thứ nhất, căn cứ vào nội dung, tính chất của các chuẩn mực xã hộ bị xâm hại gồm
có hành vi sai lệch tích cực và hành vi sai lệch tiêu cực.
+ Hành vi sai lệch tích cực là những hành vi có thể là cố ý hoặc vô ý, vi phạm, phá
vỡ hiệu lực của các chuẩn mực xã hội đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với thực tế
3
là anh em ruột thịt, Như vậy, hành vi A lấy B là hành vi vô tình phá vỡ tính ổn định của
chuẩn mực xã hội, là hành vi loạn luân.
III. Các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội.
Các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội như sau:
Thứ nhất, sự không hiểu biết, hiểu biết không đúng hoặc không đầy đủ các nguyên
tắc, quy định của chuẩn mực xã hội là một cơ chế dẫn tới hành vi sai lệch. Trong trường
hợp này đa số các hành vi sai lệch xảy ra chủ yếu là do cá nhân, tập thể thiếu thông tin,
kiến thức, hiểu biết về các chuẩn mực xã hội, thiếu kinh nghiệm thực tế, do họ không hiểu
hoặc hiểu không đúng các quy tắc, yêu cầu của các chuẩn mực xã hội như pháp luật, đạo
đức,….do đó, họ đã thực hiện những hành vi sai lệch nhất định. Ví dụ: Người dân tộc thiểu
số không hiểu biết về pháp lệnh dân số nên việc sinh con thứ ba của họ diễn ra khá phổ
biến.
Thứ hai, trong hoạt động nhận thức, tư duy diến dịch không đúng, sự suy diễn của
một số chuẩn mực xã hội thiếu căn cứ logic cùng với việc sử dụng các phán đoán phi
logic…là cơ chế dẫn tới hành vi sai lệch. Điều đó có nghĩa là khi tham gia vào các lĩnh vực
cụ thể của đời sống xã hội do thói quen suy diễn sai nên các cá nhân và nhóm xã hội
thường nhầm lẫn hoặc cố ý áp dung các chuẩn mực ở lĩnh vực này vào lĩnh vực khác, do
đó vi phạm một chuẩn mực nào đó. Ví dụ; chuẩn mực đạo đức của người vợ Việt Nam xa
xưa là hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng. Quan niệm này còn ăn sâu vào nếp nghĩ của
đa số người dân nông thôn Việt Nam. Việc áp dụng chuẩn mực đạo đức này là vi phạm
pháp luật hôn nhân gia đình, vợ chồng bình đẳng.
Thứ ba, việc củng cố, tiếp thu các quy tắc yêu cầu của các chuẩn mực không còn
phù hợp nữa, không còn được cộng đồng xã hội thừa nhận hoặc không ăn khớp với các
nguyên tắc, quy định của pháp luật hiện hành…cũng là một cơ chế dẫn tới hành vi sai lệch.
Tức là, trong xã hội cũng có những chuẩn mực phong tục, tập quán…đã được hình thànhdo
nhu cầu điều chỉnh, điều hòa các quan hệ xã hội nhất định; đã thể hiện được vai trò hiệu
lực của nó. tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của các mối quan hệ xã hội, của các điều kiện
4
lịch sử - xã hội, có những chuẩn mực dần tỏ ra lạc hậu lỗi thời trái với các quy tắc đạo đức,
dụ: sự việc xảy ra vào khoảng 19h ngày 9/2/2011 khi anh Trịnh Tài Hà sinh năm
1965,quốc tịch Trung Quốc, tạm trú tại 102 bến xe phía Nam, ở tổ 16, phường Thịnh Liệt,
quận Hoàng Mai, Hà Nội mời anh Nguyễn Văn Cường, sinh năm 1981 cùng ở phường
Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội đến ăn cơm. Trong lúc ăn cơm, Cường đã dùng đũa
chọc thủng màng nhĩ anh Hà, làm anh Hà phải đi cấp cứu. Được biết,Cường là đối tượng
có tiền sử bệnh tâm thần. Như vậy do thần kinh không bình thường nên đối tượng Cường
đã thực hiện hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật.
Thứ sáu, cơ chế về mối liên hệ qua lại giữa các hành vi sai lệch. Đây là trường hợp
đi từ việc thực hiện một hành vi sai lệch này tới việc thực hiện một hành vi sai lệch khác
theo mối quan hệ nhân quả mà chủ thể không biết hoặc biết nhưng vẫn thực hiện. Trong
đó, hành vi sai lệch thứ nhất được coi là nguyên nhân dẫn tới kết quả là hành vi sai lệch kế
tiếp. Ví dụ: Nguyễn Văn A là người nghiện ma túy lâu năm, do hết tiền mua ma túy để
chích, Nguyễn Văn A đã đến nhà Nguyễn Văn B đề vay tiền, nhưng B không cho A vay.
Nguyễn Văn A liền dùng dao đâm chết B tại chỗ rồi lấy chiếc xe SH của B mang đi bán
lấy tiền chích ma túy. Như vậy, từ hành vi nghiện của A đã dẫn tới hành vi giết người cướp
tài sản. Như vậy ta thấy được mối liên hệ qua lại giữa các hành vi sai lệch này.
IV. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn
mực xã hội đối với lĩnh vực pháp luật.
1. Sự không hiểu biết, hiểu biết không đúng, không chính xác các quy tắc, yêu cầu
của chuẩn mực pháp luật.
Trong trường hợp này, đa số các hành vi sai lệch xảy ra chủ yếu là do cá nhân, nhóm
xã hội thiếu thông tin, kiến thức, hiểu biết về chuẩn mực pháp luật, thiếu kinh nghiệm thực
tế; do họ không hiểu hoặc hiểu không đúng nội dung, tinh thần các quy tắc, yêu cầu được
nêu trong chuẩn mực pháp luật. Từ chỗ thiếu hiểu biết pháp luật mà họ đã thực hiện những
hành vi sai lệch những chuẩn mực pháp luật nhất định.
6
Từ cơ chế này, vấn đề đặt ra là trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật xảy ra có
nguyên nhân là do người vi phạm thiếu thông tin, kiến thức, hiểu biết về pháp luật thì các
cơ quan chức năng khác cần phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng tổ chức các
hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật một cách sâu rộng tới các tầng lớp
chỉnh các quan hệ xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Tuy nhiên, cùng với sự
thay đổi của mối quan hệ xã hội, các điều kiện lịch sử xã hội, các chuẩn mực pháp luật đó
dần dần tỏ ra lạc hậu, lỗi thời , không còn đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn
xã hội.
Tìm hiểu cơ chế này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác thực hiện pháp
luật. Cần nhận thức rõ rằng, pháp luật phải luôn bám sát và phù hợp với thực tiễn xã hội.
Vì vậy, khi trong thực tế xã hội có những quy phạm pháp luật tỏ ra lạc hậu lỗi thời, không
còn phù hợp với thực tiễn xã hội hoặc đã hết hiệu lực thi hành thì nhà nước cần sớm thay
đổi, bổ sung hoặc chấm dứt hiệu lực của nó. Điều đó có tác dụng ngăn chặn, không tạo
những khe hở cho kẻ xấu lợi dụng.
4. Cơ chế đi từ quan niệm sai lệch tới việc thực hiện hành vi sai lệch chuẩn mực
pháp luật.
Trong quá trình vận động, phát triển của xã hội, có những quan điểm, quan niệm chỉ
có giá trị, ý nghĩa thực tiễn, chỉ được coi là đúng trong các xã hội cũ trước đây, còn trong
xã hội hiện nay chúng tỏ ra không còn phù hợp, bị coi là quan niệm sai lệch về cả nội dung
và tính chất. Tuy nhiên, vẫn có những cá nhân, nhóm xã hội nào đó làm theo các quan
điểm sai lệch dẫn đến sai lệch chuẩn mực pháp luật hiện hành.
Chẳng hạn, trong xã hội nông thôn truyền thống có quan niệm: “ phép vua thua lệ
làng” , quan điểm này chỉ phù hợp nhất định trong điều kiện xã hội phong kiến trước đây,
còn trong xã hội hiện nay, quan điểm này bị coi là sai lệch về cả nội dung và tính chất. Một
mặt quan niệm này đề cao vị trí của lệ làng( trong khi nhiều quy định của “ lệ làng” không
còn phù hợp với đạo đức hiện nay, trái với quy định của pháp luật hiện hành). Mặt khác
quan niệm: “ phép vua thua lệ làng” hạ thấp uy tín, vai trò của hệ thống pháp luật do nhà
nước ban hành, cản trở công tác thực thi, đưa pháp luật vào đời sống xã hội nông thôn, ảnh
hưởng tiêu cực đến ý thức pháp luật của người dân nông thôn. Nếu cộng đồng “ làng xã”
8
nào vận dụng quan điểm “ phép vua thua lệ làng” trong xã hội hiện nay thì rất có thể điều
đó sẽ đưa họ tới hành vi vi phạm pháp luật.
Cơ chế này cho thấy, khi phát hiện những quan niệm về đặc điểm , nôi dung, tính
chất hay phạm vi áp dụng của một bộ luật hay văn bản quy phạm pháp luật nào đó hoặc
Cơ chế cho thấy thông thường khi cá nhân nào đó thực hiện liên tiếp các hành vi
phạm pháp thì giữa các hành vi đó thường có mối liên hệ nhân quả nhất định. Vì vậy, khi
một hành vi vi phạm pháp luật nhất là phạm tội xảy ra, các cơ quan chức năng tùy từng
trường hợp cụ thể mà sớm áp dụng các biện pháp ngăn chặn kịp thời nhằm hạn chế đến
mức thấp nhất hậu quả xấu xảy ra.
C./ KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Như vậy, qua bài tiểu luận trên em đã trình bày khái niệm về sai lệch chuẩn mực xã
hội, phân loại cũng như các cơ chế của nó, đồng thời có những kiến thức liên hệ với lĩnh
vực pháp luật. Bài viết này đã cho chúng ta một cách nhìn nhận chính xác về sai lệch
chuẩn mực xã hội, phân loại và cơ chế của nó. Từ đó có biện pháp góp phần hạn chế những
hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, đặc biệt là sai lệch chuẩn mực pháp luật.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Tập bài giảng xã hội học- trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, 2009.
2. Xã hội học pháp luật, Nxb tư pháp, Hà Nội, 2010.
3. google.com.vn
11