MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… …1
I. Khái quát hiện tượng tội phạm và các hành vi sai lệch…………………… 1
1. Khái niệm hiện tượng tội phạm…………………………………………… 1
2. Khái niệm hành vi sai lệch…………………………………………………… 1
2.1. Định nghĩa……………………………………………………………… …1
2.2. Phân loại hành vi sai lệch………………………………………… ……….1
3. Một số hiện tượng , hành vi sai lệch có tính nguy hiểm cao cho xã hộị …… 2
3.1. Hiện tượng nghiện hút ma túy……………………………………………… 2
3.2. Hiện tượng say rượu………………………………………………………….3
3.3. Hiện tượng hooligan………………………………………………………….3
3.4. Hiện tượng tự tử………………………………………………………………3
3.5. Hiện tượng tha hóa về đạo đức……………………………………………… 4
II. Nội dung các biện pháp đấu tranh phòng chống hiện tượng tội phạm và các
hành vi sai lệch 4
• Biện pháp tiếp cận thông tin………………………………………………… 5
• Biện pháp tiếp cận phòng ngừa xã hội……………………………………… 7
• Biện pháp áp dụng hình phạt………………………………………………… 8
• Biện pháp tiếp cận y-sinh học………………………………………………….9
• Biện pháp tiếp cận tổng hợp và kế hoạch hóa xã hội………………………….10
III. Đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp ở nước ta hiện nay………… 11
KẾT THÚC………………………………………………………………………13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
Phòng chống hiện tượng tội phạm và các hành vi sai lệch luôn là nhiệm vụ
trọng tâm của nước ta trong bất kì giai đoạn nào của tiến trình lịch sử. Trong giai
đoạn hiện đại, phòng chống hiện tượng tội phạm và các hành vi sai lệch hơn lúc nào
hết cần đặc biệt được chú trọng bởi dưới tác động của công cuộc đổi mới mọi mặt
của nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, pháp luật…diễn biến của hiện
tượng tội phạm và các hành vi sai lệch là vô cùng phức tạp và có chiều hướng gia
• Hành vi sai lệch chủ động là hành vi có ý thức, có tính toán, cố ý (trực tiếp hay
gián tiếp) vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực xã hội, dù chuẩn mực đó đã
lạc hậu, lỗi thời hay còn đang tiến bộ.
• Hành vi sai lệch thụ động là hành vi vô tình, vô ý, không mong muốn vi phạm,
phá vỡ tính ổn định, sự tác động của các chuẩn mực xã hội.
3. Một số hiện t ượng, hành vi sai lệch có tính nguy hiểm cao cho x ã hội
3.1. Hiện t ượng nghiện hút ma túy
Nghiện hút ma túy là căn bệnh xã hội nguy hiểm gây nên tác hại xã hội khôn
lường, là biểu hiện của hành vi sai lệch nghiêm trọng. Nó là kết quả của một quá
trình sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày một tăng. Nó có mặt ở hầu hết các
lứa tuổi, đặc biệt là thanh thiếu niên như nhóm đối tượng lang thang, cơ nhỡ, bố mẹ
không quan tâm, sinh viên, diễn viên, viên chức… Tính nghiêm trọng của hiện
tượng này thể hiện ở chỗ nó là tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp phá hủy sức khỏe
người nghiện (gây rối loạn thần kinh, hô hấp, tai biến…),hủy hoại nhân cách con
ngươi (người nghiện thường thấy cuộc đời bế tắc, xử sự tiêu cực, bi quan, sống
gấp,cổ vũ cho lối sống thực dụng…), phá vỡ hạnh phúc gia đinh, tạo gánh nặng cho
xã hội (xã hội tốn kém tiền của để chạy chữa cho người nghiện,người nghiện sống
bám vào xã hội), ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội (tai nạn giao thông, mại
dâm, làm lan truyền HIV/AIDS). Nguy hại hơn nó còn là nguyên nhân làm phát sinh
các hành vi phạm tội: trộm cắp, cướp giật, giết người…
3.2. Hiện t ượng say rượu
Hiện tượng say rượu là trạng thái tinh thần bệnh hoạn, hình thành do kết quả
của việc sử dụng quá nhiều trong một lần hoặc có hệ thống các đồ uống có cồn
(rượu,bia); hậu quả là nồng độ cao làm cho người uống rơi vào trạng thái say, mất đi
lí trí và sự tỉnh táo. Say rượu thường là nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn giao thông
thảm khốc, bạo lực trong gia đình, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự khu phố,lối xóm…
Do trong trạng thái bị kích động mạnh, mất lí trí do say rượu, họ có thể gây ra các
hành vi tội ác.
3.3. Hiện t ượng hooligan
Hiện tượng hooligan là sự thể hiện của những hành vi sai lệch có tính chất hung
Điều nguy hiểm của hiện tượng này là ở chỗ,khoảng cách giữa hành vi tha
hóa về đạo đức và hành vi phạm tội chỉ gần nhau trong gang tấc. Để thỏa mãn các
nhu cầu bất chính và phi pháp của bản thân, một số người có thể hoặc sẵn sàng tham
gia vào các tệ nạn xã hội như ma túy,mại dâm;dính líu vào các hành vi phạm tội như
trộm cắp,cờ bạc tham ô, nhận hối lộ…Đây là những loại tội phạm có tính ẩn dấu rất
cao.
II. NỘI DUNG CÁC BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG HIỆN
TƯỢNG TỘI PHẠM VÀ CÁC HÀNH VI SAI LỆCH
Đấu tranh phòng chống hiện tượng tội phạm và các hành vi sai lệch được hiểu
là các hoạt động phát hiện và xử lí hiện tượng tội phạm. Hoạt động này chủ yếu do
các cơ quan điều tra,viện kiểm sát,tòa án và thi hành án thực hiện. Công tác phát
hiện và xử lí hiện tượng tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật nước ta trong
thời gian qua đã đạt được nhiều thành công. Nhiều vụ phạm tội nghiêm trọng đã
được phát hiện và xử lí. Tuy nhiên tỉ lệ tội phạm ẩn còn cao chứng tỏ hiệu quả hoạt
động của các cơ quan này còn chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm.
Kinh tế thị trường không chỉ tạo ra sự thay đổi lớn về mặt kinh tế mà còn tạo những
điều kiện vật chất cho hoạt động tội phạm. Người phạm tội đang cấu kết hình thành
các tổ chức xuyên quốc gia với sức mạnh kinh tế rất lớn. Nhiều tổ chức tội phạm còn
tìm mọi cách mua chuộc, liên kết hay bảo trợ cho các quan chức trong bộ máy Nhà
nước,từ đó khống chế họ để hình thành các tổ chức mafia có sự kết hợp giữa sức
mạnh kinh tế và chính trị. Kinh tế thị trường phát triển thì người phạm tội cũng như
các tổ chức phạm tội sẽ có điều kiện sử dụng các tiến bộ của khoa học kĩ thuật vào
thực hiện và che dấu tội phạm. Đấu tranh phòng chống hiện tượng tội phạm và hành
vi sai lệch đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật không chỉ phải nâng cao trình độ
nghiệp vụ,nâng cao hiểu biết các lĩnh vực chuyên môn sâu mà còn phải được trang
bị những công cụ, phương tiện và nguồn tài chính đủ mạnh mới có đủ khả năng phát
hiện và xử lí nhanh chóng,kịp thời và chính xác các hành vi phạm tội. Xã hội học
pháp luật nghiên cứu các biện pháp đấu tranh phòng chống hiện tượng tội phạm và
các hành vi sai lệch:
• Biện pháp tiếp cận thông tin
chỉnh các quan hệ xã hội trong xã hội. Pháp luật phải công bằng nghiêm minh để
mọi tầng lớp nhân dân tin tưởng và thực hiện. Lưu ý rằng, uy tín của pháp luật, tính
công bằng, nghiêm minh của nó không chỉ thể hiện ở “nội tại” các quy phạm pháp
luật, mà chủ yếu được thực hiện ra trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật,
đặc biệt là ở hành vi của các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật.
Thứ năm,cần cảnh giác, tích cực đâu tranh với những thông tin sai trái, những
luận điệu tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt của các thế lực thù địch về các giá
trị,chuẩn mực xã hội, về hệ thống pháp luật, làm lệch lạc nội dung và vi phạm áp
dụng của chuẩn mực pháp luật, gây tâm lí hoang mang, bất an trong một cộng đồng
dân cư nhất định.
Biện pháp tiếp cạn thông tin đòi hỏi chúng ta phải vạch trần các âm mưu, thủ
đoạn nói trên, làm phá sản “chiến lược diễn biến hòa bình”, làm thất bại các hoạt
đọng gây rối, chống phá Nhá nước của các thế lực thù địch.
• Biện pháp tiếp cận phòng ngừa xã hội
Phòng xã hội luôn luôn là biện pháp đấu tranh phòng chống sai lệch và tội phạm
mang lại hiệu quả cao, nó thường được đặt lên vị trí hàng đầu trong số các biện pháp
được áp dụng. Đây là biện pháp tiếp cận nhằm tìm hiểu, làm sáng tỏ các nguyên
nhân, điều kiện dẫn tới hành vi sai lệch và tội phạm, từ đó đề xuất các phương pháp
phòng ngừa cụ thể.
Phòng ngừa xã hội là theo đuổi mục đích phát hiện, xóa bỏ, vô hiệu hóa các
nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh hiện tượng tội phạm và các hành vi sai lệch.
Nó là tổng thể các biện pháp xã hội như tác động vào kinh tế, xã hội, chính trị, tư
tưởng, tâm lí, giáo dục, văn hóa, pháp luật…mà Nhà nước và xã hội áp dụng nhằm
loại trừ các nguyên nhân, điều kiện của hiện tượng tội phạm và các hành vi sai lệch;
góp phần định hướng để hình thành những hành vi cư sử hợp pháp, hợp đạo đức của
công dân.
Cơ sở khoa học của biện pháp phòng ngừa xã hội là sự nhận thức hành vi, hoạt
động của con người vốn mang bản chất tuân theo quy luật hướng thiện; mọi người
đều có khả năng trở thành những công dân tốt, có ích cho xã hội. Hành vi sai lệch,
hành vi phạm tội của họ, bên cạnh động cơ, ý chí cá nhân, còn xuất phát từ những
ngăn chặn tội phạm, quy định hai loại hình phạt là hình phạt chính và hình phạt bổ
sung.
• Các hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục
xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình.
• Các hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu
tài sản, phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính, trục xuất khi không áp dụng
là hình phạt chính.
Ví dụ: A bị bắt vì tội mua bán trái phép chất ma túy. Theo quy định tại khoản 1 điều
194 của Bộ luật hình sự năm 1999 thì A chịu khung hình phạt từ 2 năm tù đến 7 năm
tù.
Đối với tội giết người khung hình phạt cũng được quy định tại điều 93 Bộ luật
hình sự năm 1999, tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ luật hình sự 1999)…
• Biện pháp tiếp cận y-sinh học
Trong công tác phòng chống đấu tranh các hành vi sai lệch và tội phạm,
biện pháp tiếp cận y-sinh học thường do các nhân viên cơ quan nghiệp vụ như y tế,
điều tra giám định, chuyên gia tâm thần học thực hiện đối với những người có hành
vi sai lệch và hành vi phạm tội. Mục đích của biện pháp này là nhằm tìm hiểu, phát
hiện ở họ những khuyết tật về thể chất: mù, câm, điếc…; những khuyết tật về trí lực,
như mắc các chứng bệnh hoang tưởng, bệnh tâm thần hoặc phạm tội trong các trạng
thái say rượu, nghiện ma túy… Những khuyết tật đó làm cho người vi phạm không
có hay bị mất đi một phần hay toàn bộ khả năng kiềm chế, kiểm soát hành vi của bản
thân, do đó bị mất năng lực chịu trách nhiệm hành vi. Còn từ chỗ bị mất năng lực
trách nhiệm hành vi mà có bị truy cứu trách nhiệm hoặc áp dụng các biện pháp tư
pháp khác hay không còn tùy thuộc vào các nguyên tắc, quy định của pháp luật hình
sự.
Biện pháp tiếp cận y-sinh học có ý nghĩa rất quan trọng, nó góp phần làm sáng
tỏ nguyên nhân, điều kiện của hành vi sai lệch và hành vi phạm tội, giải thích cơ chế
tâm lí của những hành vi đó.
• Biện pháp tiếp cận tổng hợp và kế hoạch hóa xã hội
phạm và các hành vi sai lệch. Chú trọng nâng cao trình độ hiểu biết về văn hóa, trình
độ học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp
luật.
Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng các biện pháp và
kết quả đấu tranh với các vụ việc vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa để các tầng lớp
nhân dân được biết và thêm tư tưởng vào hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Đồng thời thường xuyên tổ chức thăm dò dư luận xã hội đối với những vấn đề cụ thể
của cuộc sống để có phương hướng điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung pháp luật và đề ra
các biện pháp giải quyết kịp thời.
Dựa trên cơ sở các dự báo về diễn biến của tình hình phạm tội để xây dựng các
kế hoạch đấu tranh có hiệu quả với từng loại tội phạm ở các khu vực và trong
khoảng thời gian nhất định.
Trong điều kiện ngày nay, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cần được
mở rộng hơn nữa sự kết hợp trên phạm vi quốc tế. Sự tham gia ngày càng đầy đủ,
sâu rộng của Việt Nam vào các tổ chức quốc tế, như ASEANAPOL, INTERPOL…
chính là nhằm đáp ứng đòi hỏi này; đặc biệt, nó góp phần nâng cao hiệu quả của
công tác phòng,chống tội phạm xuyên quốc gia.
III. ĐÁNH GIÁ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CÁC BIỆN PHÁP Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
Tính hiệu quả của các biện pháp đấu tranh phòng chống hiện tượng tội phạm và
các hành vi sai lệch phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: bản chất giai cấp của nhà nước
và xã hội; những quan điểm chính trị, đạo đức, pháp luật đang thịnh hành và giữ vai
trò chủ đạo trong xã hội; mặt bằng trình độ dân trí; khả năng về nguồn tài chính,
kinh tế và các điều kiện về trang thiết bị kĩ thuật; sự hoạt động của các phương tiện
thông tin đại chúng như báo trí, phát thanh, truyền hình…; sự hoạt động của các cơ
quan lập pháp, hành pháp, tư pháp…
Ở nước ta, nhìn chung việc áp dụng các biện pháp đấu tranh phòng chống hiện
tượng tội phạm và các hành vi sai lệch ở trên mang tính hiệu quả cao, tỉ lệ những
người phạm tội có xu hướng giảm. Biện pháp tiếp cận thông tin góp phần cung cấp
cho con người những kiến thức, những hiểu biết nhất định về pháp luật, phần nào
đạt hiệu quả cao đòi hỏi trước hết phải luôn luôn tiến hành đồng bộ các biện pháp
đấu tranh phòng chống hiện tượng tội phạm và hành vi sai lệch.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng xã hội học, Nxb. CAND, Hà Nội,
2010.
• TS. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010.
• Tạp chí Luật học, số 1/2010, Đại học Luật Hà Nội
•