ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRONG VIỆC CHO
VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN ĐANG NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
NCS. Nguyễn Thành Cường – Khoa Kế toán – Tài chính – Trường Đại học Nha Trang
ThS. Phạm Thế Anh – Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Mục đích chủ yếu của bài viết này là ứng dụng mô hình điểm số Z của E.I.Altman để đo lường rủi
ro tín dụng của các ngân hàng trong việc cho vay đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản đang niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đưa ra một số đề xuất nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đồng thời
giúp cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam thận trọng hơn trong việc sử dụng vốn vay nợ.
Từ khóa: Mô hình điểm số Z.
ABSTRACT
This paper essentially aims at applying Z – Score model by E.I.Altman to evaluate credit risks of
banks in offering business loans to seafood processing enterprises currently listed on Vietnam stock
market. The findings will serve as a basis to make several recommendations in order to enhance credit
risk management efficiency in the banking business, and simultaneously to help raise caution of Vietnam’s
seafood processing enterprises in their debt using practice.
Key words: Z – Score model.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong kinh doanh ngân hàng việc các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng là điều không thể
tránh khỏi. Vấn đề là làm thế nào để các ngân hàng hạn chế rủi ro này ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp
nhận được. Trả lời câu hỏi này, các nhà quản trị ngân hàng thường vận dụng các mô hình lượng hoá rủi ro
tín dụng như: mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng, mô hình chất lượng, mô hình Moody’s và Standard &
Poor’s, mô hình điểm số Z.
Mục đích của bài viết này là ứng dụng mô hình điểm số Z cho điểm tín dụng đối với các doanh
nghiệp chế biến Thủy sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam làm cơ sơ sở cho các nhà
quản trị ngân hàng có những quyết định đúng đắn trước khi cấp tín dụng cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh
vực này. Đồng thời, kết quả nghiên cứu này cũng hỗ trợ cho các doanh nghiệp chế biến Thủy sản Việt
Nam thận trọng hơn trong việc sử dụng vốn vay nợ để giảm thiểu nguy cơ phá sản.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Theo cách tiếp cận này, chúng tôi đã thu thập số liệu của 11 doanh nghiệp chế biến thủy sản niêm
yết trên thị trường chứng khóa Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 – 2009, sử dụng công cụ thống kê toán
với sự hỗ trợ của phần mềm EXCEL để tính toán và phân tích các chỉ tiêu trong mô hình. Vì vậy, mô hình
được tác giả sử dụng trong bài viết này là mô hình 1 – mô hình áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc ngành
sản suất đã cổ phần hoá.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả,
2
không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Mặt khác, rủi ro tín dụng có thể coi là khả năng
vỡ nợ của khách hàng. Vì vậy, các ngân hàng cần thấy được thực trạng khả năng vỡ nợ của các doanh
nghiệp vay vốn càng rõ, càng kỹ sẽ càng tốt.
Trên cơ sở số liệu là các báo cáo tài chính của 11 doanh nghiệp chế biến thủy sản niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007 - 2009, chúng tôi đã tiến hành xử lý số liệu liên quan đến
các chỉ tiêu sử dụng trong mô hình điểm Z. Kết quả tính toán các chỉ tiêu được thể hiện qua các bảng sau:
Bảng 1: Mô hình điểm Z đối với các doanh nghiệp chế biến Thủy sản năm 2007
Chỉ tiêu
Công ty
X1 X2 X3 X4 X5 Z
Công ty CP XNK Thủy sản Bến Tre 0.4193 0.0944 0.1141 2.2519 1.0339 3.3968
Công ty CP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 0.7497 0.1828 0.2161 1.5314 1.7700 4.5575
Công ty CP XNK Thủy sản An Giang 0.4268 0.0450 0.0622 2.7948 1.4614 3.9186
Công ty cổ phần BASA (*) 0.4434 0.0471 0.0790 0.9379 1.0269 2.4483
Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta 0.7292 0.0718 0.0982 0.7399 2.6093 4.3526
Công ty CP Đầu tư Thương mại Thủy Sản (*) 0.5939 0.0629 0.0803 0.7581 0.9699 2.4906
Công ty Cổ phần Thủy hải sản Minh Phú 0.6581 0.1044 0.1144 1.0843 1.1116 3.0757
Công ty Cổ phần Thủy sản Số 1 0.9278 0.0682 0.0765 4.5448 1.7030 5.8911
Công ty Cổ phần Thủy sản Số 4 0.4606 0.0520 0.0582 3.5547 1.2002 4.1507
Công ty CP CB và XNK TS CADOVIMEX (*) 0.8423 0.0253 0.0696 0.3402 1.0932 2.5733
Công ty CP XNK Lâm Thủy sản Bến Tre (*) 0.6351 0.0260 0.0669 0.3609 0.5872 1.8229
Chỉ tiêu
Công ty
X1 X2 X3 X4 X5 Z
Công ty CP XNK Thủy sản Bến Tre
0.6991 0.1693 0.1939 4.5620 1.0129 5.4661
Công ty CP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang (*)
0.7339 0.0775 0.1128 0.4075 1.1730 2.7788
Công ty CP XNK Thủy sản An Giang (*)
0.5487 0.0119 0.0472 1.0755 1.1028 2.5791
Công ty cổ phần BASA (**)
0.3530 -0.0187 0.0129 0.8670 0.4201 1.3803
Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta (*)
0.8112 0.0224 0.0564 0.3225 1.5080 2.8923
Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Thủy Sản
0.5441 0.0787 0.1168 1.0862 1.2071 3.0074
Công ty Cổ phần Thủy hải sản Minh Phú (*)
0.6308 0.0425 0.0515 0.9510 0.4629 2.0198
Công ty Cổ phần Thủy sản Số 1
0.7154 0.0976 0.1299 2.4631 1.4898 4.3913
Công ty Cổ phần Thủy sản Số 4 (*)
0.3794 0.0732 0.0845 0.8877 0.7909 2.1603
Công ty CP CB và XNK TS CADOVIMEX (**)
0.6387 0.0019 0.0077 0.1821 0.2554 1.1592
Công ty CP XNK Lâm Thủy sản Bến Tre (*)
0.6693 -0.1488 -0.1234 0.6686 1.3780 1.9667
(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2009 của các công ty & Tính toán của tác giả)
Qua bảng 3 cho thấy, trong năm 2009, có 6 doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có
nguy cơ phá sản đó là công ty CP XNK Thủy sản Cửu long An Giang (Z = 2.7788), công ty CP XNK Thủy
sản An Giang (Z = 2.5791), Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta (Z = 2.8923), công ty Cổ phần Thủy hải
sản Minh Phú (Z = 2.0198), công ty Cổ phần Thủy sản Số 4 (Z = 2.1603), công ty cổ phần xuất nhập khẩu
trước khi cấp tín dụng.
• Đề xuất 2: Áp dụng các chính sách tín dụng linh hoạt đối với các doanh nghiệp chế biến
Thủy sản Việt Nam
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp chế biến Thủy sản đều gặp rủi ro
trong kinh doanh và có khả năng rơi vào trạng thái có nguy cơ phá sản. Do đó, khi quyết định tín dụng đối
với doanh nghiệp này, các ngân hàng cần thận trọng hơn trong việc xem xét kỹ lưỡng thực trạng tài chính
và khả năng phá sản của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp có vốn hoạt động,
các ngân hàng nên có chính sách tín dụng ưu đãi hơn đối với các doanh nghiệp thuộc ngành này như chính
sách lãi suất ưu đãi, hạn mức tín dụng ưu đãi,…
5
Đối với các doanh nghiệp chế biến Thủy sản:
• Đề xuất 1: Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản của doanh nghiệp
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ tiêu Z phụ thuộc chủ yếu vào tổng tài sản. Do đó, việc quản
lý và sử dụng hiệu quả tài sản của doanh nghiệp sẽ góp phần giảm thiểu khả năng phá sản của doanh
nghiệp. Muốn vậy, các doanh nghiệp đang rơi vào trạng thái có nguy cơ phá sản cần phải phân loại và xác
định tài sản nào không hoạt động, tức là những tài sản không góp phần trực tiếp hay gián tiếp tạo ra doanh
số và thanh lý ngay những tài sản này. Bởi vì, khi thanh lý các tài sản này, doanh nghiệp sẽ chuyển hóa tài
sản cố định thành tài sản ngắn hạn làm cho X1 sẽ tăng lên. Bên cạnh đó chi phí khấu hao cũng sẽ giảm
xuống, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận tăng, tức là X2 và X3 sẽ tăng theo và làm cho Z tăng lên, tức là giảm
thiểu được khả năng phá sản.
• Đề xuất 2: Tái cấu trúc tài chính theo hướng gia tăng vốn chủ sở hữu
Qua kết quả phân tích cho thấy, chỉ tiêu X4 của hầu hết các doanh nghiệp rơi vào trạng thái nguy
cơ phá sản đều có giá trị nhỏ hơn 1. Do đó, việc tái cấu trúc tài chính theo hướng gia tăng vốn chủ sở hữu
sẽ góp phần giảm thiểu khả năng phá sản của các doanh nghiệp. Muốn vậy, các doanh nghiệp rơi vào
trạng thái có nguy cơ phá sản cần phải để ý đến chính sách phân chia cổ tức cho nhà đầu tư. Cổ tức chia ít
đi thì lợi nhuận giữ lại sẽ tăng lên làm vốn chủ sở hữu săng tăng lên và X3 sẽ tăng theo và làm cho Z tăng,
tức là giảm thiểu được khả năng phá sản. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể giảm cổ tức đến mức quá thấp
vì khi đó nhà đầu tư sẽ phản ứng, dẫn đến giá cổ phiếu thấp, lúc này sẽ gây ra tác động ngược lại sẽ làm
giảm cả X3 và X4 sẽ kéo theo làm cho Z giảm xuống, tức là khả năng phá sản sẽ tăng.
Mặt khác, tái cấu trúc tài chính theo hướng này, doanh nghiệp nên hạn chế việc vay nợ, thay vào đó