Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành khoáng sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 33

BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

BÙI KHÁNH BÌNH

ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY
NGÀNH KHOÁNG SẢN ĐANG NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành:

Tài chính – Ngân hàng

Mã số :

60.34.02.01

GVHD : TS. BÙI HỮU PHƯỚC

TP.HCM, tháng 06/2015


Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc
vốn của các công ty ngành khoáng sản đang niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, với sự hướng dẫn,
hỗ trợ từ thầy TS.Bùi Hữu Phước.
Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2015

1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ..................... 5
1.6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN ................................................................... 5
Luận văn được thiết kế bao gồm 05 chương như sau .................................... 5
CHƯƠNG II : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN ............... 7
2.1. LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP ............ 7
2.1.1. Cấu trúc vốn ..................................................................................... 7
2.1.2. Lý thuyết M&M [20] ........................................................................ 8
2.1.3. Lý thuyết thông tin bất đối xứng (The Asymmetric Information
Theory) ..................................................................................................... 12
2.1.4. Lý thuyết chi phí đại diện (The Agency Theory) ........................... 14
2.2. TỔNG HỢP CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ............................... 16
2.2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài ......................................................... 16
2.2.2. Các nghiên cứu ở trong nước ......................................................... 18
2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN .................. 21
2.3.1. Quy mô doanh nghiệp (Size) .......................................................... 21
2.3.2. Khả năng sinh lời (Profitability) .................................................... 21
2.3.3. Rủi ro (Volatility) ........................................................................... 22
2.3.4. Cơ hội tăng trưởng (Growth Opportunity) ..................................... 23
2.3.5. Cấu trúc tài sản doanh nghiệp (Tangibility) ................................... 24
2.3.6. Hình thức sở hữu của doanh nghiệp ............................................... 25
2.3.7. Chính sách thuế (Tax) .................................................................... 25
2.3.8. Tính thanh khoản (Liquidity) ......................................................... 27
2.3.9. Một số yếu tố khác ......................................................................... 28
CHƯƠNG III : THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .................................................... 29
3.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH KHOÁNG SẢN VIỆT NAM ................... 29
3.2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ............................................. 31
3.2.1. Quy trình nghiên cứu ...................................................................... 31
3.2.2. Mô tả dữ liệu .................................................................................. 31





DANH MỤC B NG BIỂU
Bảng 12.1: Bảng thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam ..................................... 27
Bảng 23.1: Bảng tổng quan về đòn bẩy của toàn ngành Khoáng sản.............. 30
Bảng 33.2: Bảng tỷ suất sinh lời của toàn ngành Khoáng sản ........................ 30
Bảng 43.3: Bảng tổng hợp giả thiết nghiên cứu .............................................. 37
Bảng 54.1: Bảng thống kê mô tả biến phụ thuộc và biến độc lập ................... 42
Bảng 64.2: Bảng ma trận hệ số tương quan ..................................................... 44
Bảng 74.3: Bảng hệ số Vif của các biến độc lập trong mô hì ......................... 46
Bảng 84.4: Bảng kết quả kiểm định Wald ....................................................... 47
Bảng 94.5: Bảng kết quả mô hình OLS ........................................................... 48
Bảng 104.6: Bảng kết quả mô hình FEM ........................................................ 49
Bảng 114.7: Bảng kết quả mô hình REM ........................................................ 51
Bảng 124.8: Bảng kết quả kiểm định F ........................................................... 52
Bảng 134.9: Bảng kết quả kiểm định Hausman .............................................. 53
Bảng 144.10: Bảng tổng hợp kết quả hồi quy các yếu tố tác động đến cấu trúc
vốn ................................................................................................................... 55

1


DANH MỤ
Từ

Tên tiếng anh

viết tắt
EBIT



Chi phí sử dụng vốn bình quân

capital

OLS

Orginary least square

Ước lượng bình phương bé nhất

FEM

Fixed effects model

Mô hình ước lượng tác động cố định

REM

Random effects model

Ước lượng tác động ngẫu nhiên

GLS

General least square

Ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát

HNX


Ề TÀ

Trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng như hiện nay,
Việt Nam tham gia tổ chức thương mại thế giới đã mở ra nhiều hơn các cơ hội
giao thương buôn bán với đối tác nước ngoài cho các doanh nghiệp trong nước,
tiếp theo đó cũng là những thách thức rất lớn trong cạnh tranh kinh doanh mà đòi
hỏi doanh nghiệp cần phải đủ sức vượt qua. Một trong những yếu tố quan trọng
quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó chính là việc xây
dựng một cấu trúc vốn hợp lý nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp càng trở nên
cấp thiết.
Vì vậy, việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn từng
ngành và đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đó đến cấu trúc vốn cũng đóng
góp một phần quan trọng vào việc xây dựng cấu trúc vốn hợp lý.
Với lợi thế Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản được đánh giá
tương đối đa dạng với hơn 5.000 điểm mỏ thuộc 60 loại khoáng sản được phát
hiện và khai thác. Nếu tách riêng than và dầu khí, các công ty khoáng sản đang
niêm yết hiện nay chủ yếu khai thác các loại quặng kim loại (sắt, titan, mangan,
vàng, kẽm, đồng, antimon) và các khoáng sản phi kim - vật liệu xây dựng (đá,
cát, sỏi…). Tuy vậy, việc khai thác, kinh doanh tài nguyên khoáng sản ở Việt
Nam trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập và khó khăn, nhất là nhu cầu vốn
Trước bối cảnh thị trường tín dụng ngày càng bị thắt chặt và mặt bằng lãi suất
cho vay vẫn còn cao, các công ty ngành khoáng sản cần phải tìm cho mình một
cấu trúc vốn hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận và gia tăng giá trị doanh nghiệp.
Có thể nói không có một khuôn mẫu chung nào để gọi là một cấu trúc vốn
tối ưu cho các công ty. Để có thể xây dựng cấu trúc vốn thích hợp với doanh
nghiệp, trước tiên chúng ta cần phải xác định xem những yếu tố nào có tác động
đến cấu trúc vốn. Nói về vấn đề này, trên thế giới đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu trong nhiều ngành nghề và kết quả cho thấy cấu trúc vốn của mỗi



Đối tượng nghiên cứu từ các cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu trúc vốn,
tác giả hướng tới việc xác định và đánh giá các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn
của các công ty ngành khoáng sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu tác giả tập trung nghiên cứu vào cấu trúc vốn các
công ty ngành khoáng sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính hàng năm của các công
ty ngành khoáng sản đã được kiểm toán, công bố công khai trên Sở giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
1.4. PHƯ

G PHÁP GH Ê

ỨU

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm nghiên cứu tác
động của các yếu tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành khoáng sản
trên cơ sở xây dựng mô hình hồi quy dữ liệu bảng bao gồm: mô hình hồi quy
4


bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình những tác động cố định (FEM) và mô
hình những tác động ngẫu nhiên (REM).
Ngoài ra, tác giả còn áp dụng phương pháp thống kê, mô tả và giải thích
tác động của các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành
khoáng sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay.
1.5. Ý GHĨ KH

HỌ VÀ THỰ T Ễ

5


Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tác giả sử dụng phân tích hồi quy để đánh giá tác động của
các yếu tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành khoáng sản được niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và gợi ý
Chương này tác giả đưa ra kết luận và các gợi ý về chính sách chính dựa
trên kết quả của chương trước, cũng như những hạn chế của nghiên cứu này.

6




G II : TỔNG QUAN Ý THUYẾT
VỀ CẤU TRÚ VỐN

2.1. Ý THUYẾT VỀ ẤU TRÚ VỐ

Ủ D

H GH ỆP

2.1.1. Cấu trúc vốn
Vốn trong một doanh nghiệp thể hiện nguồn lực tài chính bên trong của
doanh nghiệp bao gồm vốn góp từ chủ sở hữu, từ nguồn lợi nhuận hoạt động để
lại của doanh nghiệp và các nguồn lực bên ngoài từ các nhà đầu tư bên ngoài có
thể là nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các

kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường
được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Trong khi đó,
cấu trúc vốn chỉ là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ
phần ưu đãi và vốn cổ phần thường”.
Như vậy, từ các quan điểm trên ta có thể hiểu cấu trúc vốn là một phần
của cấu trúc tài chính, nó bằng cấu trúc tài chính trừ nợ ngắn hạn. Hay cấu trúc
vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn dài hạn mà
doanh nghiệp có thể huy động được để tài trợ cho các dự án đầu tư.
2.1.2. ý thuyết M&M [20]
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại xuất hiện từ năm 1958, khi giáo sư Franco
Modigliani và Merton Miller (sau đây gọi là M&M) công bố.
Nội dung của lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề: Giá trị
doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn, với hai giả định được đưa ra: môi trường
có thuế và môi trường không có thuế thu nhập doanh nghiệp. Mô hình này nhằm
phân tích tác động của thuế và chi phí sử dụng vốn lên sự thay đổi cấu trúc vốn
của doanh nghiệp.
ý thuyết

&

trong trường hợp không có thuế

Các giả định:
(1) Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
(2) Không có chi phí giao dịch
(3) Không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính
(4) Lãi suất tiền vay của cá nhân và doanh nghiệp là như nhau
(5) Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo
Mệnh đề số 1: Trong điều kiện không có thuế giá trị công ty có vay nợ
( V L ) bằng giá trị của công ty không vay nợ ( VU ), nghĩa là V L = VU .


&

trong trường hợp có thuế

Được Modigliani và Miller công bố năm 1963. Các giả định của lý thuyết
M&M gần như không thay đổi. Duy chỉ có giả định môi trường không có thuế
chỉ đúng trong một số ít trường hợp chẳng hạn như công ty mới thành lập hay
được miễn thuế trong các năm đầu (ví dụ như công ty ở Việt Nam). Do đó, lý
thuyết được xem xét trong trường hợp giả định môi trường có thuế.
Mệnh đề số 1: Trong trường hợp có thuế thu nhập công ty, giá trị công ty
có vay nợ ( V L ) bằng giá trị công ty không vay nợ ( VU ) cộng với hiện giá của lá
chắn thuế. Phương trình lý thuyết của M&M như sau:
V L = VU + TC.D

Trong đó:

V L : Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ
VU : Tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ

D: Tổng sử dụng nợ
9


TC: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong trường hợp có thuế, khi công ty vay nợ thì tiết kiệm được thuế do
lợi ích tấm chắn thuế từ lãi vay. Do đó, giá trị công ty vay nợ sẽ lớn hơn công ty
không vay nợ nhờ phần tiết kiệm được.
Mệnh đề số 2: Trong trường hợp có thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ
phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ

tăng lên và chi phí sử dụng vốn trung bình giảm xuống khi công ty gia tăng tỷ số
nợ. Điều này có nghĩa, công ty nên sử dụng nợ càng nhiều càng tốt. Lý thuyết
M&M đã không tính đến động thái của công ty trên thực tế. Một số tác giả khác

10


phản bác lại rằng trên thực tế không phải giá trị công ty tăng mãi khi tỷ số nợ gia
tăng, bởi vì khi tỷ số nợ gia tăng làm phát sinh một loại chi phí, gọi là chi phí
khốn khó tài chính (Financial Distresss Costs), làm giảm đi sự gia tăng giá trị của
công ty có vay nợ. Đến một điểm nào đó của tỷ số nợ, chi phí khốn khó tài chính
sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế, khi ấy giá trị công ty có vay nợ bắt đầu giảm
dần. Lý luận tương tự, chi phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng
lên.
Việc ra đời sau đã giúp lý thuyết đánh đổi có cách nhìn nhận vấn đề đầy
đủ hơn so với lý thuyết M&M. Theo Jensen và Meckling (1976) [14], các doanh
nghiệp phải cân đối giữa chi phí khốn khó tài chính, chi phí đại diện và khoản lợi
từ thuế để xác định một cấu trúc vốn tối ưu. Cấu trúc vốn tối ưu được xác định tại
điểm mà khoản lợi từ thuế có được do tài trợ nợ cân bằng với chi phí do tài trợ
bằng nợ. Theo M&M, khoản lợi này chính là phần khấu trừ thuế của lãi vay, góp
phần khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động kinh

Giá trị DN

doanh.

Giá trị DN có sử dụng
nợ với thuế, các chi phí

Giá trị DN có vay

quệ tài chính, tại đó, doanh nghiệp đạt được cấu trúc vốn tối ưu.
Lý thuyết đánh đổi cân nhắc lợi ích của tấm chắn thuế từ nợ vay với chi
phí kiệt quệ tài chính. Nếu doanh nghiệp không đánh giá được mức chi phí kiệt
quệ tài chính sẽ dẫn đến vay mượn quá mức, doanh nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro
mất khả năng chi trả. Vì vậy, doanh nghiệp nên có cấu trúc vốn hợp lý để tối đa
hóa giá trị doanh nghiệp và tối thiểu hóa chi phí tài chính. Khi doanh nghiệp cố
gắng tăng tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn, lợi ích đạt được cân bằng với giá trị hiện
tại của tấm chắn thuế. Lợi ích này giúp nâng cao giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên
nó cũng đồng thời nâng cao chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp và do đó
rủi ro phá sản tăng lên. Bên cạnh đó, chi phí kiệt quệ tài chính làm giảm lợi ích
của tấm chắn thuế.
Lý thuyết này thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa
các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu
nhập chịu thuế để được khấu trừ thuế nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Các doanh
nghiệp có khả năng sinh lời thấp hơn, có tỷ trọng tài sản vô hình nhiều hơn (rủi
ro hơn) nên chủ yếu sử dụng tài trợ bằng vốn cổ phần. Tuy nhiên, lý thuyết đánh
đổi không thể giải thích được mối liên hệ giữa một tỷ suất lợi nhuận cao với một
tỷ lệ đòn bẩy tài chính thấp (khả năng sinh lợi cao nghĩa là khả năng vay nợ cao
và lợi ích tấm chắn thuế càng lớn).
ý thuyết thông tin bất đối xứng (The Asymmetric Information

2.1.3.
Theory)

Một trong các giả thuyết của mô hình M&M là các nhà đầu tư và nhà quản
trị có cùng thông tin về triển vọng tương lai của doanh nghiệp. Tuy nhiên, so với
các nhà đầu tư bên ngoài, các nhà quản trị thường có thông tin đầy đủ hơn về
triển vọng tương lai. Hiện tượng này gọi là sự bất cân xứng về thông tin.

12

Trật tự phân hạng trên phản ánh chi phí tương đối của các nguồn lực tài trợ là có
sự khác nhau. Do vậy, Myers và Majluf (1984) cho rằng sẽ không có một cấu
trúc tài chính tối ưu đối với các doanh nghiệp. Lý thuyết này về sau được mở
13


rộng bởi nhiều nhà nghiên cứu khác như Krasker (1986), Brennan và Kraus
(1987), Noe (1988).
Bên cạnh đó, lý thuyết này giúp giải thích vì sao các doanh nghiệp có khả
năng sinh lời nhiều hơn thường là có tỷ lệ nợ vay thấp hơn (điều mà lý thuyết cân
bằng không giải thích được). Lý giải đơn giản lý thuyết này cung cấp là bởi vì
không phải doanh nghiệp đó có tỷ lệ nợ mục tiêu thấp mà vì họ không cần tiền
bên ngoài. Các doanh nghiệp có khả năng sinh lời ít hơn thì phát hành nợ vì họ
không có đủ nguồn vốn nội bộ cho các dự án đầu tư và vì nợ đứng đầu trong trật
tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài.
Cũng trong lý thuyết này, sự hấp dẫn của tấm chắn thuế từ nợ vay được
xếp hạng thứ hai. Một doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao đồng thời có nhiều cơ
hội tăng trưởng sẽ dùng nợ vay từ bên ngoài nhiều hơn bởi vì lúc này nguồn lợi
nhuận giữ lại mặc dù nhiều nhưng không đủ để tài trợ cho tất cả.
Như vậy, lý thuyết trật tự phân hạng không cung cấp một công thức để
tính cấu trúc vốn tối ưu nhưng nó giúp giải thích các mô hình quan sát đối với
các thứ tự ưu tiên trong tài trợ.
2.1.4. ý thuyết chi phí đại diện (The Agency Theory)
Lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên chí phí đại diện được đề cập đầu tiên trong
một nghiên cứu của Fama và Miller năm 1972. Về sau, lý thuyết chi phí đại diện
được phát triển sâu hơn trong nghiên cứu của Jensen và Meckling năm 1976 và
sau đó là nghiên cứu của Jensen năm 1986 [15].
Lý thuyết này cho rằng, hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan
đến các giới hữu quan khác nhau. Trong đó chủ yếu là cổ đông, nhà quản lý và
các trung gian tài chính. Giữa họ có sự khác nhau về lợi ích và cách tiếp cận nợ.

có động cơ tiến hành những hoạt động có lợi cho bản thân họ hơn là cố gắng
nâng cao giá trị doanh nghiệp và có thể làm nguy hại đến quyền lợi của cổ đông.
Chi phí đại diện phát sinh vì mâu thuẫn về lợi ích giữa những người sở hữu và
nhà quản lý. Các cổ đông mong muốn nhà quản lý vận hành doanh nghiệp theo
cách làm tăng giá trị của họ. Trong khi đó, các nhà quản lý lại điều hành doanh
nghiệp theo hướng có lợi cho họ cả về mặt quyền lực và lợi ích cho dù đó không
phải là lợi ích của cổ đông. Lợi ích của cổ đông tăng lên khi doanh nghiệp tăng
huy động nợ cho những dự án đầu tư, trong khi người quản lý không được nhận
lợi ích này. Bên cạnh đó, họ phải điều hành hoạt động kinh doanh để tránh các
rủi ro phá sản bởi các khoản nợ đã huy động và trách nhiệm của người quản lý
15


cũng tăng lên đối với các chủ nợ. Vì mối quan hệ giữa người quản lý và người sở
hữu mang tính đối kháng về lợi ích nên tạo ra chi phí đại diện ảnh hưởng xấu lên
giá trị doanh nghiệp.
Một người quản lý có sở hữu cổ phần của doanh nghiệp sẽ làm việc nỗ lực
hơn so với một người quản lý không phải là cổ đông của doanh nghiệp vì lợi ích
của doanh nghiệp gắn liền lợi ích của cổ đông. Do đó, để giảm chi phí đại diện
của vốn phần cần tăng cường số cổ phần của người quản lý tại doanh nghiệp. Về
phía cổ đông, chấp nhận bỏ ra chi phí đại diện để có thể ít tốn kém hơn như các
khoản chi để giám sát hoạt động, chi tái cấu trúc tổ chức nhằm hạn chế các hành
vi không mong muốn, và các chi phí cơ hội khi các cổ đông áp đặt các giới hạn
cho ban quản lý doanh nghiệp.
Nhìn chung, lý thuyết chi phí đại diện giải thích vì sao các công ty có quy
mô lớn, có dòng tiền tự do càng nhiều thường có khuynh hướng sử dụng nhiều
nợ hơn trong cấu trúc vốn của mình. Giải thích của lý thuyết này, là do các điều
khoản trong hợp đồng vay nợ sẽ kiểm soát được phần nào các hành vi của các
nhà quản lý.
Tóm lại, đã có khác biệt trong sự gánh chịu rủi ro của chủ nợ và cổ đông.

định bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận trước thuế và lãi vay), tài sản hữu hình (tỷ
số tài sản cố định trên tổng tài sản), sở hữu thuộc các định chế (tổng số cổ phần
nắm giữ của nhà quản trị, giám đốc và các cơ quan giám sát) có quan hệ tỷ lệ
thuận với đòn bẩy tài chính của công ty, các yếu tố: khả năng sinh lời (tỷ số lợi
nhuận trước thuế và lãi vay trên tổng tài sản), các cơ hội tăng trưởng (tỷ số giá trị
thị trường trên giá trị sổ sách của tổng tài sản), tấm chắn thuế phi nợ (tỷ số khấu
khao trên tổng tài sản) lại tương quan nghịch với đòn bẩy tài chính của công ty.
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy các công ty Trung Quốc dựa vào sự tài trợ từ
bên ngoài nhiều hơn mà chủ yếu là từ nợ vay hơn là phát hành vốn chủ sở hữu.
Bởi vì đa số các công ty của Trung Quốc đều thuộc sở hữu của Nhà nước, mà
Nhà nước vừa là chủ công ty vừa là chủ các tổ chức tài chính trung gian nên việc
đi vay của các công ty này là rất thuận lợi.
Nghiên cứu của B.Prahalathan vào năm 2010 [10]. Tác giả thực hiện
nghiên cứu các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn thông qua việc sử dụng số liệu
của 19 công ty sản xuất chế tạo niêm yết trên thị trường chứng khoán Colombo ở
Srilanka trong giai đoạn 2003-2007 với phương pháp bình phương bé nhất OLS
làm cơ sở để kiểm định cho bài nghiên cứu. Kết quả thực nghiệm cho thấy biến
lợi nhuận, tấm chắn thuế phi nợ tương quan ngược chiều cấu trúc vốn trong khi
biến tài sản cố định tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn. Biến quy mô công
ty tương quan ngược chiều với nợ dài hạn và nợ ngắn hạn. Biến cường độ vốn
(CAPINT) tương quan ngược chiều với nợ ngắn hạn.
Cũng trong năm 2011, Sarbapriya Ray [20] cũng đã nghiên cứu những
yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của công ty Ngành sắt và thép tại Ấn Độ.
Nghiên cứu này đã phân tích sự tác động của chín yếu tố quyết định đến cấu trúc
vốn bao gồm: tỷ lệ tài sản cố định, tỷ lệ thế chấp tài sản, khả năng sinh lời, quy
17


mô hoạt động, số năm hoạt động, rủi ro kinh doanh, tấm chắn thuế từ khấu hao,
tính thanh khoản và tốc độ tăng trưởng. Bằng cách sử dụng phương pháp bình



của lợi nhuận trước thuế), khả năng sinh lời (logarit tự nhiên của lợi nhuận trước
thuế trên doanh thu), qui mô công ty (logarit tự nhiên của số lao động), sở hữu
công ty (yếu tố này là biến giả với 0 là công ty tư nhân và 1 là công ty nhà nước),
quan hệ với ngân hàng (được đo lường theo thang đo 5 bậc Likert từ rất ít đến rất
rộng), mạng lưới (được đo lường theo thang đo 5 bậc Likert từ rất yếu đến rất
mạnh). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố tăng trưởng, rủi ro kinh doanh,
qui mô công ty, sở hữu công ty, quan hệ với ngân hàng và mạng lưới có tương
quan thuận với tỷ số nợ trên tổng tài sản. Yếu tố tài sản hữu hình tương quan
nghịch với tỷ số nợ và tỷ số nợ ngắn hạn của công ty. Trong khi đó, yếu tố khả
năng sinh lời có tương quan nghịch đến tỷ số nợ và tỷ số nợ ngắn hạn nhưng lại
không có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh đó nghiên cứu còn cho thấy các công ty
vừa và nhỏ sử dụng chủ yếu là nợ ngắn hạn với tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài
sản là 41,98% trong khi tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản là 1,93%. Các công ty
Nhà nước có tỷ số nợ 63,3% cao hơn các công ty khác 34,9%. Các công ty tư
nhân và công ty cổ phần sử dụng nợ cao hơn các công ty trách nhiệm hữu hạn và
công ty độc quyền.
Võ Thị Thúy Anh, Bùi Phan Nhã Khanh (2012) [2], với đề tài nghiên cứu
“Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu thực
nghiệm trên các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế tạo niêm yết trên sàn giao
dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh”. Đề tài nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến cấu trúc tài chính có vai trò sống còn trong công tác quản trị tài chính
doanh nghiệp thông qua mô hình nghiên cứu, khảo sát 55 công ty trong giai đoạn
2007-2011. Nghiên cứu này đo lường ba biến phụ thuộc: Nợ ngắn hạn, Nợ dài
hạn và Tổng nợ. Tác giả sử dụng mô hình FEM để xác định mức độ ảnh hưởng
của các biến độc lập lên đòn bẩy bao gồm: tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp, quy
mô của công ty, tài sản cố định, tính thanh khoản, tốc độ tăng trưởng. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra yếu tố quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng và tính thanh
khoản có mối tương quan cùng chiều với đòn bẩy. Biến lợi nhuận và tài sản cố

cùng chiều còn lợi nhuận thì tương quan ngược chiều. Bên cạnh đó, các tác giả
còn chỉ ra rằng các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các nguồn nợ
ngắn hạn, các công ty do nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối vẫn có lợi thế dễ
tiếp cận nguồn vốn vay và các công ty tăng trưởng cao vẫn chủ yếu dựa vào
nguồn vay chứ không phải phát hành cổ phiếu.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status