BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DIỆP THANH TÙNG
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, THÁNG 10 NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DIỆP THANH TÙNG
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN VĂN TỨ
NGHỆ AN, THÁNG 10 NĂM 2013
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCGD: Cải cách giáo dục
ĐC: Đối chứng
PPDH: Phương pháp dạy học
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
TN: Thực nghiệm
SGK: Sách giáo khoa
GV: Giáo viên
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 12 TP HỒ CHÍ MINH 45
2.2. Những nguyên tắc chung của việc sử dụng phương pháp tích cực
trong dạy học văn học dân gian ở các trường THCS Quận 12 46
2.2.2. Sử dụng phương pháp tích cực trong dạy học văn học dân
gian ở các trường THCS Quận 12 phải đảm bảo thực hiện những yêu
cầu cơ bản của phương pháp dạy học tích cực 46
2.2.3. Sử dụng phương pháp tích cực trong dạy học văn học dân
gian ở các trường THCS Quận 12 phải phù hợp với đối tượng học sinh
và điều kiện dạy học của các trường THCS Quận 12 47
2.3. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học văn học dân
gian ở trường trung học cơ sở Quận 12 48
2.3.1. Sử dụng phương pháp tích cực qua việc xây dựng hệ
thống câu hỏi trong dạy học văn học dân gian theo khối lớp ở trường
THCS 48
2.3.2. Sử dụng phương pháp tích cực trong thiết kế câu hỏi phù
hợp với dạy học văn học dân gian theo thể loại (tục ngữ, truyện, ). 50
2.3.3. Sử dụng phương pháp tích cực trong tổ chức hoạt động
ngoài giờ lên lớp và dạy học tự chọn về văn học dân gian ở trường
trung học cơ sở 54
2.3.3.1. Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp phần văn học
dân gian theo khối, lớp học sinh 55
2.3.3.2. Tổ chức trò chơi “Giải đáp ô chữ” 55
2.3.3.3. Sử dụng phương pháp tích cực trong việc tổ chức hoạt
động ngoài giờ lên lớp bằng chuyên đề về văn học dân gian 59
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Bước sang thế kỉ XXI, công cuộc xây dựng và phát triển của đất
nước ta trong bối cảnh mở cửa hội nhập với thế giới đã đặt ra những yêu cầu
môn học đang đối đầu với những vấn đề thuộc về chất lượng dạy học và kết quả
đào tạo. Là môn học có vị trí quan trọng trong việc mở mang trí tuệ, tâm hồn
cho thế hệ trẻ, từ lâu nay, chúng ta từng nói đến sức cuốn hút lớn lao của môn
học vừa là khoa học lại vừa có tính nghệ thuật cao này. Chúng ta cũng từng tự
hào về truyền thống yêu mến, quý trọng nền văn chương dân tộc đã hun đúc nên
những tài năng, những thế hệ học sinh tài hoa, biết giữ gìn và phát huy bản sắc
tiếng nói dân tộc, nêu cao lòng nhân ái và trân trọng các giá trị thẩm mỹ. Môn
văn chưa bao giờ rời xa mục tiêu góp phần tạo nên phẩm chất nhân văn cao quý
trong những con người sẽ trở thành chủ nhân tương lai của đất nước. Tuy nhiên,
có một thực trạng của nhà trường hiện nay là khá nhiều học sinh chưa thật hào
hứng trong việc học môn văn, chưa chú tâm vào việc trau dồi đối với môn học
vốn là điểm gặp gỡ giữa lí trí và cảm xúc, giữa khoa học và nghệ thuật, giữa
trang sách và cuộc sống. Đã có nhiều ý kiến trao đổi, tranh luận bày tỏ sự quan
tâm trước những vấn đề đặt ra từ thực tế nói đó. Nỗ lực của dư luận trong và
ngoài nhà trường trong việc tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục đã hé lộ
nhiều điều suy nghĩ quý báu, bổ ích. Và hiện nay, theo sự chỉ đạo từ Nghị quyết
quốc hội khóa X, ngành giáo dục đang nổ lực khắc phục những thiếu xót, hạn
chế nhằm đưa môn văn trở lại vị trí vốn có trong quá trình đào tạo con người.
Chúng ta đã rút ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn dạy học khá sâu sắc, mới
mẻ và xác thực, từ đó có những cơ sở đáng tin cậy để tạo ra bước chuyển đổi
của việc dạy học môn văn trong nhà trường. Đó là các vấn đề về mục tiêu dạy
học, vấn đề xây dựng nội dung chương trình cho đến các vấn đề bức bách là đổi
thay cách dạy học đối với môn ngữ văn.
3
1.3. Đến nay, sau một thời gian chuẩn bị, Bộ Giáo dục- Đào tạo đã hoàn
thành việc triển khai, thay đổi chương trình và sách giáo khoa môn Văn ở bậc
phổ thông với tên gọi chính thức là Ngữ văn dựa trên nguyên tắc tích hợp, liên
kết, phối hợp giữa các phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn bấy lâu vốn
rất độc lập. Mục tiêu của việc dạy học Ngữ văn được xác định là hình thành và
rèn luyện cho học sinh năng lực đọc hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản.
1.4. Xuất phát từ những nhận thức nói trên, tôi lựa chọn đề tài luận văn
là: “Sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học văn học dân gian ở
trường trung học cơ sở Quận 12 TP. Hồ Chí Minh”. Luận văn sẽ đi vào việc tìm
hiểu kiến thức về thể loại thông qua hệ đề tài, chức năng, thi pháp, hình thức kết
cấu… để đi sâu nắm bắt những giá trị xã hội nhân văn và nghệ thuật cao quý
chứa đựng trong những “viên ngọc dân gian”. Từ đó, trên cơ sở mục tiêu đổi
mới PPDH, tìm hiểu tác động của PPDH tích cực tới việc dạy học một số tác
phẩm văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn THCS nhằm khẳng định ý
nghĩa khoa học cũng như tính sư phạm của một phương pháp dạy học đang
được sử dụng phổ biến hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong giáo dục
Quan điểm về vai trò chủ thể tích cực của học sinh trong nhà trường được
xem là thành tựu của khoa giáo dục hiện đại. Vấn đề nhận thức về vai trò người
học vốn có nguồn gốc từ lâu trong lịch sử giáo dục thế giới và ngày càng được
chú ý, nghiên cứu phát triển hơn nữa. Ở Việt Nam, từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX
trở lại đây, quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh gắn liền với trào lưu
đổi mới giáo dục diễn ra mạnh mẽ mang tính toàn cầu.
Từ tư tưởng nền tảng “tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh” có
thể thấy PPDH mới đã thể hiện một bước chuyển biến quan trọng trong mục
đích đào tạo.Hiện nay, với xu thế của cuộc cách mạng về PPDH, quan điểm
nhấn mạnh tới vai trò tích cực của người học chính là tiền đề cho việc đổi mới
PPDH.
5
Đến những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, khi các nghành khoa học
đều phát triển mạnh mẽ, tâm lí đã trở thành nghành khoa học độc lập và có
nhiều đóng góp quan trọng về nghiên cứu, phát hịên khả năng tâm lí ở trẻ em.
Những công trình nghiên cứu nổi tiếng gắn liền với tên tuổi các nhà khoa học
lần lượt ra đời. Có thể kể tới: “Tâm lí học phát sinh phát triển” của Gan-
tông(1822-1911) và Sac-cô (1825-1893), “Tâm lí học liên tưởng” của Mi-lơ
trường ta thoát ra những rào cản của thói quen dạy học kiểu cũ, lạc hậu. Với
phương châm “thầy chủ đạo, trò chủ động”, “dạy học sát đối tượng” (50, 94),
các nhà sư phạm cũng thể hiện nhiều nhận thức tiến bộ về vai trò của học sinh.
Dù sao, những nỗ lực đó cũng chỉ là những khởi động bước đầu, nặng tính kinh
nghiệm, tự phát nên hiệu quả còn hạn chế, do chúng ta chưa có điều kiện tiếp
cận một cách đầy đủ và có hệ thống quan điểm dạy học theo khoa học tiến bộ.
Điều đó giải thích tại sao phương pháp tích cực chưa trở thành chỗ dựa vững
chắc cho giáo viên và học sinh nhằm khắc phục lối dạy truyền thống.
Trong thời kì đổi mới, khi tình hình xã hội đòi hỏi tiến hành cuộc cải cách
giáo dục toàn diện sâu rộng, chúng ta có điều kiện nhìn lại sư trì trệ kéo dài
trong nhà trường do lối tư duy giáo dục giáo điều, xơ cứng. Trong xu thế mở
cửa tiếp nhận những thành tựu mới từ nền giáo dục các nước tiên tiến, nhà
trường nước ta bước vào thực thi những quan điểm dạy học hiện đại, phương
pháp tích cực được coi là những nhân tố mới, có vai trò quan trọng: cải thiện và
thúc đẩy nhà trường phát triển, gắn kết nhà trường hoà nhập với những phát
triển như vũ bão của khoa học công nghệ, tạo nguồn nhân lực, đem lại lợi ích
cho xã hội hiện đại. Từ đây, việc xác định mục tiêu đào tạo, nội dung và phương
pháp đào tạo được hoạch định khá bài bản và có hệ thống. Có thể thấy vấn đề
nổi bật trong đổi mới hoạt động giáo dục đào tạo là việc xác định vai trò chủ thể
của học sinh: học sinh được xem là nhân vật trung tâm của nhà trường với
những phẩm chất, năng lực của những cá thể - trò - tự giác, chủ động, tích cực
tham gia vào quá trình dạy học. Phương pháp dạy học tích cực tỏ ra có ưu thế và
trở thành đối tượng chú ý của nhiều nhà giáo dục thực sự muốn bắt tay vào công
7
cuộc đổi thay thực trạng dạy và học cũ. Tuy nhiên, từ nhận thức lí luận cho tới
hành động thực tiễn bao giờ cũng có những khoảng cách, có những độ vênh. Do
vậy không thể một sớm một chiều, chúng ta có thể xoay chuyển mạnh mẽ
phương thức đào tạo theo quan điểm tích cực hiện đại.
2.3. Một số tài liệu nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực lấy
học sinh làm trung tâm
nhất có “phương pháp luận dạy văn học” do giáo sư tiến sĩ Rez chủ biên cũng
đề cập đến những phương hướng nghiên cứu, phương pháp luận bộ môn và đề
xuất những phương pháp dạy học sáng tạo có hiệu quả rất cao trong dạy học. Hệ
thống phương pháp của giáo trình nhằm vào cái cơ bản, khái quát, phản ánh
được những thành tựu lí luận của các ngành khoa học khác.
Có thể nói, việc nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực trong nhà
trường nói chung và trong dạy học môn Ngữ văn đã được nhiều nhà khoa học,
nhà giáo dục nghiên cứu. Những kết quả nghiên cứu của họ đã đưa lại những
tiền đề về mặt lý luận để đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy
học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, với sự quan tâm và
hiểu biết của chúng tôi về môn Ngữ văn ở trường THCS, chúng tôi muốn vận
dụng phương pháp dạy học tích cực vào việc tìm hiểu, giảng dạy văn học dân
gian ở trường THCS. Đây là một vấn đề mà việc dạy học môn Ngữ văn ở các
trường THCS Quận 12, TP. Hồ Chí Minh chưa có ai triển khai nghiên cứu một
cách có hệ thống.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn để nắm bắt bản chất, đặc trưng của hệ
phương pháp dạy học tích cực cũng như vận dụng vào thiết kế giáo án thực
nghiệm. Từ đó, luận văn góp phần khẳng định ưu thế và khả năng vận dụng
phương pháp dạy học này vào việc giảng dạy văn học dân gian ở trường THCS.
4. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
9
Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp tích cực trong việc dạy học phần
văn học dân gian ở trường trung học cơ sở hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu tài liệu lí luận, luận văn hệ thống lại những kiến thức lí
thuyết về phương pháp dạy học tích cực. Từ cơ sở lý luận đó để đánh giá thực
trạng vận dụng trong dạy học nói chung cũng như đề xuất một số nội dung liên
quan đến việc sử dụng phương pháp này trong dạy học văn học dân gian ở
thể học sinh trong giờ học nói chung, giờ học văn học dân gian ở THCS nói
riêng.
Đề tài cũng giúp giáo viên có cơ sở khoa học để vận dụng phương pháp
dạy học tích cực vào việc giảng dạy các thể loại khác, thực hiện yêu cầu đổi mới
phương pháp giảng dạy phần văn học dân gian ở trường THCS.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
Chương 1. Phương pháp dạy học tích cực với vấn đề đổi mới hoạt động
dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông
Chương 2: Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong đổi mới dạy
học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở Quận 12 TP. Hồ Chí Minh
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
11
Chương 1.
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VỚI VIỆC ĐỔI MỚI
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VĂN MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Sự hình thành và phát triển của phương pháp dạy học tích cực
trong nhà trường hiện đại
1.1.1. Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực
1.1.1.1. Phương pháp dạy học
Phương pháp là một khái niệm được sử dụng nhiều trong thực tiễn và
nhận thức của con người ở tất cả các lĩnh vực, trong đó có hoạt động giáo dục
và hoạt động dạy học.
Theo nghĩa chung nhất, phương pháp dạy học là cách thức tổ chức của
người dạy nhằm tổ chức quá trình nhận thức của người học với các điều kiện về
chương trình, nội dung, tài liệu, môi trường, không gian dạy học, nhằm đạt được
mục tiêu về tri thức, nhân cách và kỹ năng. Phương pháp có thể có những
phương pháp chung, có những phương pháp riêng và sự phân chia tách bạch
trong quá trình sử dụng phương pháp trong hoạt động dạy học chỉ có tính chất
tương đối.
sự thay đổi kì diệu. Chưa bao giờ nhà trường hiện đại lại đứng trước những
thách thức to lớn như bây giờ. Tất cả điều ấy đòi hỏi chúng ta phải đầu tư xây
dựng nền giáo dục để đáp ứng kịp thời yêu cầu của sự phát triển nhằm đảm bảo
việc hoà nhập cùng thế giới. Hệ phương pháp dạy học tích cực ra đời thể hiện tư
tưởng, quan điểm dạy học mới. Phương pháp dạy học tích cực đưa đến nhận
thức mới có ý nghĩa lớn lao đối với giáo dục khi đặt đúng tầm quan trọng của
người học. Tinh thần đổi mới phương pháp dạy học là biến quá trình dạy học
thành quá trình tự học, tự khám phá và xây dựng kiến thức của người học với
vai trò tổ chức hướng dẫn khéo léo không thể thiếu được của người giáo viên.
Vậy câu hỏi đặt ra là phương pháp dạy học tích cực là gì? Nó có những đặc
13
trưng gì và đóng góp gì vào việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà
trường hiện nay?
Theo cách suy nghĩ của Comenius có thể thấy phương pháp dạy học tích
cực là phuơng pháp giúp cho thầy giáo giảng dạy ít hơn và cho các em học sinh
học được nhiều hơn. Từ điển Giáo Dục học, 2001 định nghĩa: đó là những
phương pháp sư phạm tích cực, là phương pháp dạy học theo cách trình bày
những chủ đề dạy học như là những vấn đề phải giải quyết, cung cấp cho người
học tất cả những thông tin và phương tiện cần thiết để người học giải quyết vấn
đề. Phương pháp này đặt người học vào những điều kiện để tự khám phá, tự tìm
ra kết quả. Vai trò của người thầy chủ yếu là giúp đỡ người học tìm ra những
giải pháp hơn là cung cấp đáp án có sẵn. Như vậy, theo phương pháp này giáo
viên không được đưa kiến thức cho học sinh lĩnh hội như trước đây mà chỉ đưa
ra vấn đề, cung cấp những thông tin và phương tiện cần thiết để học sinh tự
khám phá kiến thức. Còn theo tác giả Trần Bá Hoành thì phương pháp tích cực
là thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo
dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học; tích cực trong phương pháp tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động chủ
động trái với nghĩa không hoạt động, thụ động.
Khác với phương pháp dạy học cổ truyền - một phương pháp trong đó vai
dạy học theo phương pháp tích cực lại đặt học sinh vào vị trí chủ thể nhận thức,
tự chiếm lĩnh tri thức. Chủ thể học sinh chủ động vận dụng những hiểu biết của
mình vào hoạt động tư duy, huy động vốn kiến thức sẵn có để giải quyết vấn đề.
Chẳng hạn, trong giờ học văn, sau khi đã tìm hiểu về nhân vật Tấm, giáo viên
có thể cho học sinh nhận thấy quan niệm về cái đẹp của tác giả dân gian bằng
câu hỏi: “Qua nhân vật Tấm, em hiểu gì về con người và tính cách của Tấm như
thế nào?”. Từ đó, học sinh phải nhanh chóng huy động vốn kiến thức vừa mới
đuợc tìm hiểu xong, tổng hợp, phân tích để rút ra kết luận cho vấn đề đặt ra là:
theo nhà văn, cái tâm – cái tài; cái thiện - cái mỹ không thể tách rời nhau. Khi
giải quyết vấn đề, tức là học sinh đã có tư duy sáng tạo và phát huy tính tích cực
15
trong giờ học. Sáng tạo ở đây không phải là phát hiện hay tạo ra cái gì mới mẻ
cho xã hội mà là tự tìm thấy nguồn kiến thức mới cho bản thân nhằm phục vụ
công việc học tập của mình đồng thời hoàn thiện mình hơn.Đây là điều rất quan
trọng và được mong đợi nhất trong quá trình dạy học.
1.1.2. Bản chất và đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
1.1.2.1. Bản chất của phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp giáo dục là sản phẩm của sự liên kết lí thuyết và thực hành
sư phạm nhằm giúp cho người học chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện năng lực giải
quyết vấn đề, phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách. Mặc dù có nhiều khác
biệt, nhưng các phương pháp giáo dục đều có chung hai đặc điểm. Một là, sự
liên kết giữa tư tưởng cơ bản về lao động giáo dục với hoạt động sư phạm được
định hướng và thiết kế theo sự chỉ đạo của tư tưởng đó. Hai là, tính hiệu quả của
phương pháp, vì phương pháp bao giờ cũng nhằm một mục tiêu xác định, từ
mục tiêu tổng quát đến mục tiêu cụ thể của từng bài học. Chính vì vậy, phương
pháp giáo dục tích cực được xem là bước chuyển biến lớn lao làm thay đổi, đảo
ngược những quan điểm, những cách thức bấy lâu nay đã diễn ra trong quá trình
giáo dục. Jean Vial từng khẳng định: “Chúng tôi sẽ nói rằng có phương pháp
tích cực mỗi khi mà người được giáo dục được xem xét tách riêng, là tác nhân
tự nguyện, hoạt động và ý thức được sự giáo dục của riêng mình”(53,tr39) Đây
dạy học tích cực vào thực tiễn dạy học là một quá trình thử thách với không ít
khó khăn, vì thế người giáo viên cần tìm hiểu sâu sắc và nắm vững để vận dụng
một cách sáng tạo và chủ động nhất.
1.1.2.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Ưu thế của phương pháp dạy học tích cực đã được chứng minh trong
nhiều mô hình nhà trường trên nhiều nước trên thế giới. Xuất phát điểm của mọi
hoạt động tuỳ thuộc vào sáng kiến của học sinh, vào lợi ích, nhiệt tình hoặc nhu
cầu của họ mà thầy giáo cố gắng điều phối, giúp đỡ họ bằng thái độ gần gũi,
chú trọng vào việc làm nảy nở nhân cách của từng học sinh. Cho nên, phương
pháp giáo dục tích cực là sự tích hợp thường xuyên các mối quan hệ dạy học:
17
học sinh - lớp học - giáo viên trong quá trình hoạt động giáo dục. Có thể thấy
những yếu tố sau đây là những đặc trưng cơ bản nhất của phương pháp dạy học
tích cực.
a) Dạy học thông qua hoạt động của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt
động dạy đồng thời là chủ thể của hoạt động học được cuốn hút vào các hoạt
động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua đó, học sinh tự lực
khám phá những điều mà mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu
những tri thức được thầy giáo đưa sẵn. Học sinh vừa nắm được kiến thức mới,
kĩ năng mới lại vừa biết được phương pháp tìm ra kiến thức. Các kĩ năng đó
không rập khuôn theo một mẫu có sẵn nên học sinh có cơ hội bộc lộ, phát huy
tiềm năng sáng tạo. Giáo viên không đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn
hướng dẫn hành động. Học bằng hành động, học qua làm, điều đó có nghĩa là
chúng ta nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa tư duy và hành động, giữa lí thuyết và
thực hành của người học. Điều này được tổng kết về khả năng tiếp nhận và lưu
giữ thông tin: nghe sẽ nhớ 20%; nhìn nhớ 30%, nghe + nhìn sẽ nhớ 50%, kết
hợp nghe, nhìn, thảo luận nhớ 70%, nhưng khi tất cả kết hợp với làm sẽ nhớ
90%. Vì thế, khi dạy học tác phẩm văn học dân gian cụ thể, giáo viên cần chú ý
hướng dẫn cho học sinh vận dụng những phương pháp nào, lựa chọn vấn đề nào
“cò” và tìm ý nghĩa chứa đựng trong nó, hay nói đúng hơn, đó chính là cuộc đời
người phụ nữ Việt Nam ta trong xã hội phong kiến, hiện thân cho thân phận
truân chuyên của kiếp nguời. Khi được tiếp xúc với tác phẩm văn học, trong
tâm hồn, tình cảm các em sẽ mở ra một thế giới đầy bí ẩn, đồng thời cũng chuẩn
bị tâm lí để đón nhận nhiều khó khăn trong khi cảm thụ, tìm hiểu. Lúc này, chủ
thể học tập cần tự huy động nhiều khả năng như tư duy, tưởng tượng, sáng
tạo… để giải mã ý nghĩa tác phẩm. Học sinh phải biết cùng đau, cùng cười vui
sướng, hạnh phúc cùng nhân vật hay nói cách khác phải trải nghiệm và đồng
cảm cùng nhân vật. Phương pháp tự tìm hiểu, tự học tập như vậy giúp cho học
sinh có thói quen tốt trong trong học tập cũng như trong cuộc sống. Có thể trong
19
quá trình tự học như vậy học sinh sẽ tự nêu ra những vấn đề hay gặp những
khúc mắc, mâu thuẫn nhưng điều đó chính là động lực to lớn giúp học sinh có
thể đào sâu, hiểu kĩ về bài học trước khi có sự giải đáp của giáo viên. Làm được
như vậy, học sinh đã tự đặt mình vào vị trí chủ thể trước những tình huống nhận
thức để từng bước chiếm lĩnh tác phẩm. Sau cùng, học sinh có cảm giác thỏa
mãn, vui sướng thật sự khi tìm thấy giá trị thật của tác phẩm. Cách thức dạy học
tích cực nói đó làm cho lớp học cổ truyền bị phá vỡ. Nếu rèn luyện cho người
học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý thức tự học sẽ tạo cho họ lòng
ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi con người. Nỗ lực tạo ra sự chuyển
biến từ việc học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển thói
quen tự học ngay trong nhà trường phổ thông. Đây là vấn đề tự quản để từng
bước xây dựng nhân cách, làm thức tỉnh năng lực nhạy cảm, sự vững chắc của
phán đoán. Mọi hành vi học tập nên xuất phát từ sự tự nguyện học hỏi, không là
sự gượng ép từ bên ngoài.
c) Tăng cường học tập cá thể kết hợp với tập thể trong dạy học
Một đặc trưng quan trọng của phương pháp dạy học tích cực là lồng ghép
công việc cá nhân vào trong hoạt động của tập thể. Đó chính là hành động có
động cơ và tự nguyện của học sinh. Trong phương pháp giáo điều, cá nhân làm
việc đơn lẻ, không có sự đồng hành của tập thể nhưng với phương pháp tích