NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI CHĂM BÀNI
1. Đôi nét về người Chăm Bàni
Người Chăm Bàni là một bộ phận đa số trong cộng đồng người Chăm sinh sống ở Ninh
Thuận, Bình Thuận. Đây là một bộ phận người Chăm theo Hồi giáo Bàni (còn gọi là Chăm
Awal).
Trải qua quá trình bản địa hóa, biến đổi thành một kiểu tôn giáo riêng có của người Chăm
nhưng quan niệm về tâm linh, về cõi sống và cõi chết của người Chăm Bàni vẫn chịu sự chi
phối của Hồi giáo bản địa.
2. Phong tục tang lễ của người Chăm Bàni
-
Nghi lễ tang ma là nghi lễ quan trọng nhất trong hệ thống nghi lễ vòng đời của người Chăm Bàni.
-
Để được lên thiên đàng, con người phải hội đủ các tiêu chuẩn khi còn sống và đến khi nhắm mắt xuôi tay, phải được làm lễ
tang đầy đủ, trọn vẹn (tiêu chuẩn về nguồn gốc đẳng cấp, không tật nguyền, cuộc sống phải đầy đủ gia đình, phải qua nghi lễ
nhập môn theo qui định của giáo lí tôn giáo Bàni và chết phải lành lặn, chết trên giường ở nhà, có người nhà đỡ lưng đặt
xuống đất khi chết và phải được các chức sắc Bàni thực hiện đầy đủ các nghi thức tôn giáo). Cái ni là coi để mà nói này xóa đi
cũng dc nha Len viết ri cho rõ thôi!
-
Khác với người Chăm Bà-la-môn theo tục hỏa táng, người Hồi giáo Bàni chôn người chết nhưng họ cũng quan niệm về người
chết giống người Chăm Bà-la-môn ( có nghĩa là khi có người chết phải làm lễ tang ma để linh hồn của người đó được siêu
thóat. Ngược lại nếu người quá cố không được làm lễ tang ma, linh hồn sẽ không được siêu thóat, sẽ bắt tất cả những người
thân trong dòng tộc của họ).
→ Người Chăm Hồi giáo Bàni rất coi trọng tang ma.
-
Trong lễ tang ma có rất nhiều nghi lễ phức tạp, có sự khác nhau giữa đám tang người giàu, người nghèo.
-
Tục lệ còn qui định những đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không được làm đám tang mà chỉ chôn bình thường.
-
Đối với người chết cũng chia ra làm hai trường hợp:
•
trung niên sáu ông.
•
nhỏ do hai ông đưa.)
-
Qui tắc của Hồi giáo Bàni không để người chết quá hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Suốt đêm đó các tăng lữ đọc kinh ba đợt, cầu nguyện cho người
quá cố được an nghỉ tốt lành.
-
Sáng sớm hôm sau vào lúc sáu giờ sáng, thân nhân đưa thi hài đi tắm một lần nữa. Trong lúc này các cụ già, thanh niên chẻ tre để làm quan tài
(Quan tài thường làm bằng tre, chia làm ba ngăn, ngăn giữa dùng để đặt thi hài, hai ngăn hai bên để cho tăng lữ đọc kinh cầu nguyện).
-
Sau khi tắm rửa xong, tăng lữ được phân công đọc kinh dẫn đường và là người điều khiển đưa quan tài đến huyệt, vẩy nước thánh vào thi hài, vừa
đọc kinh. Sau đó lau khô rồi bắt đầu liệm thi hài gồm có một quần lót trắng, váy trắng, áo trắng. (Đối với đàn ông mặc ba lớp, đàn bà mặc năm
lớp).
-
Đưa thi hài vào Kajang. Các con cháu, anh em đến gần coi mặt người chết lần cuối, sau đó các thân nhân đều lạy ba lạy.
-
Cuối cùng người ta khiêng thi hài bỏ vào quan tài, phủ khăn lại, quan tài mười hai người khiêng đi đến huyệt, đi đầu là một tăng lữ
được thầy Cả Ppo Gru chỉ định dẫn đường, tiếp sau là các tăng lữ như Imưm, Ppo Gru và các tăng lữ khác cùng với người thân, tất
cả bà con xóm làng đi theo sau quan tài tiễn đưa người quá cố.
-
Khi quan tài được khiêng gần đến nghĩa trang, tăng lữ dẫn đường ra lệnh đổi đầu thi hài, bằng cách xoay quan tài đưa chân ra phía
trước.
-
Cách nghĩa trang mười đến hai mươi mắt, quan tài được hạ xuống (nếu người già chết), người ta phải khiêng luôn bốn tăng lữ ngồi
hai bên quan tài để đọc kinh, đến nghĩa trang của dòng họ, chủ nhà (ppo sang) chỉ định nơi chôn, tăng lữ làm phép, con cái và người
thân cầu nguyện đồng thời khấn, lạy nơi huyệt, cầu Allah cho người thân mình nằm xuống tốt lành, cầu hồn người quá cố được lên
Thiên đàng tốt đẹp.
-
Huyệt thường được đào sâu một mét rưỡi đến hai mét. Sau khi huyệt đào xong tất cả người thân lạy quan tài lần cuối cùng. Sau đó
tăng lữ xuống huyệt làm lễ, ở trên huyệt được che một tấm khăn lớn, thi hài được đưa xuống huyệt từ từ, đầu hướng về phía Bắc,