đặc điểm khu hệ và cấu trúc thành phần loài, quần xã động vật đáy khu bảo tồn biển phú quý - Pdf 24

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
O0O
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI,
TRỮ LƯỢNG QUẦN XÃ ĐỘNG VẬT THÂN MỀM KHU BẢO
TỒN BIỂN PHÚ QUÝ
Người thực hiện: KS. Đỗ Thanh An
KS. Hoàng Đình Chiều
Viện Nghiên cứu Hải sản
Dự án:
Xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn Phú Quý - Bình Thuận
Chủ dự án:
Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
Cơ quan thực hiện:
Viện Nghiên cứu Hải sản
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
O0O
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI,
QUẦN XÃ ĐỘNG VẬT ĐÁY KHU BẢO TỒN BIỂN PHÚ QUÝ
Người thực hiện: KS. Đỗ Thanh An
KS. Hoàng Đình Chiều
KS. Đỗ Anh Duy
Viện Nghiên cứu Hải sản
Dự án:
Xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn Phú Quý - Bình
Thuận

Động vật đáy trong hệ sinh thái biển đảo là một trong những nguồn thực
phẩm có chấp lượng cung cấp trực tiếp cho con người, giá trị thương mại, du lịch
phục vụ cho chế biến thuỷ, hải sản xuất khẩu và cả trong y học như các loài hải
sâm, bào ngư Hiện nay, những nghiên cứu về động vật đáy đã được tiến hành
2
nghiên cứu trên nhiều quy mô khác nhau, trên nhiều đối tượng khác nhau. Đặc biệt
là tiến hành nghiên cứu trên đối tượng có giá trị kinh tế, có sản lượng khai thác
cao, trong đó chủ yếu là nhóm động vật đáy cỡ lớn vùng ven bờ, như một số loài
hải sâm, một vài loài giáp xác, cá, một số động vật hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu động vật đáy cỡ lớn tại các hệ sinh thái vùng
biển đảo còn rất ít hoặc đang tập trung tại các viện nghiên cứu trên cả nước chưa
được công bố rộng rãi, các nghiên cứu còn mang tính khái quát, tổng hợp chưa đi
vào từng nhóm đối tượng. Các thông tin không theo hệ thống và nhiều thông tin
còn thiếu trong quá trình thu thập, tạo lập cơ sở dữ liệu phục vụ cho mục đích quy
hoạch, bảo vệ các giá trị đa dạng loài phân bố và giá trị kinh tế với mục tiêu bảo
tồn và khai thác nguồn lợi lâu dài, bền vững.
Nguồn lợi sinh vật biển đang bị khai thác ở mọi lúc, mọi nơi tại các vùng
ven bờ, ven đảo. Nhiều loài có giá trị cao như tôm hùm, hải sâm, bào ngư… là
nhóm loài tập trung ở những vùng nước nông ven đảo đặc biệt là trong các rạn san
hô đang bị khai thác triệt để, vùng rong cỏ biển, vùng triều. Khả năng khai thác và
đánh bắt quá mức trong các hệ sinh thái làm cho các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ
sinh thái san hô đang có dấu hiệu suy giảm, ảnh hưởng nhiều đến các loài sinh
sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái, là mối đe dạo lớn cho nhiều loài sinh vật
biển.
Báo cáo này dựa xác định các đặc trưng cơ bản về thành phần loài, đặc
điểm phân bố, mật độ và khối lượng của động vật đáy trên rạn san hô vùng biển
ven đảo Phú Quý làm cơ sở cho công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học rạn san hô
phục vụ nghiên cứu, du lịch cũng như cung cấp cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu
về nhóm động vật đáy.
3

- Ngành Sipunculida: có 32 loài, trong đó có 5 loài chưa xác định, 21 loài
công bố danh mục, 11 loài công bố mô tả, trong tổng cộng 6 công trình của
Dawydoff, Gurjanova, Trần Ngọc Lợi.
- Ngành Uchiuria: có 6 loài công bố danh mục, 2 loài chưa xác định, được
tổng hợp trong 3 công trình của Dawydoff, Gurjanova, Trần Ngọc Lợi
- Ngành động vật hình rêu: có 100 loài được công bố danh mục, trong đó có
10 loài chưa xác định, có 4 loài mới, được tổng hợp trong 3 công trình của
Dawydoff, Gurjanova, Trần Ngọc Lợi.
- Ngành tay cuộn: có 6 loài công bố danh mục, được tổng hợp từ 2 công
trình của Dawydoff và Sérène.
- Ngành thân mềm: có 2523 loài trong đó có 154 loài chưa xác định, 1632
loài công bố danh mục, 308 loài công bố mô tả, 583 loài chưa công bố, trong số
loài công bố có 200 loài mới được tổng hợp từ 19 công trình nghiên cứu của
Bavay, Dautzenberf & Fischer, Marche-Marchard, Risbec, Robson, Saurin,
Sérène Hayashi, Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Văn Chung, Định Đình Tiền, Viện
Nghiên cứu biển.
5
- Ngành chân khớp, lớp giáp xác: có 1647 loài trong đó có 264 loài chưa
xác định, 1044 loài công bố danh mục, 248 loài công bố mô tả, có 38 loài mới và
355 loài chưa công bố, được tổng hợp từ 46 công trình của Boschma, Fize, Pize &
Sérène, Forest, Gravier, Dawydoff, Gurjanova, Monod, Starobogatov, Tiwari,
Hayashi, Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Văn Chung, Định Đình Tiền, Viện Nghiên cứu
biển.
- Ngành da gai: có 384 loài có 39 loài chưa xác định, 359 loài công bố danh
mục, 10 loài công bố mô tả, 15 loài chưa công bố được tổng hợp trong 8 công
trình của Sérène, Hayashi, Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Văn Chung, Định Đình Tiền,
Viện Nghiên cứu biển, Dawydoff
- Ngành Hemichordata: có 6 loài công bố danh mục, có 2 loài chưa xác
định, được tổng hợp từ công trình của Dawydoff
- Ngành Chordata: có 46 loài công bố danh mục, 1 loài chưa xác định, được

xác
định
Số
công
trình
nghiên
cứu
Các loài mới
Dạng
mới
Giốn
g mới
Loài
mới
1
Ngành Hải
miên
160 9 123 28 18 5 8
2
Ngành Ruột
khoang
714 23 547 114 33 15 1 32
3
Ngành Giun
vũi
10 10 1 2
4
Ngành Giun
đốt, lớp Giun
nhiều tơ

2
Ngành
Hemichordat
a
6 6 2 1
1
3
Ngành
Chordata
46 46 1 4
Nguồn: (Nguyễn Văn Chung và nnk, 1978)
Tóm lại có thể thấy 6377 loài được thống kê từ 77 công trình là một con số
lớn so với những điều kiện nghiên cứu trước và nó chủ yếu được tiến hành bởi các
nhà nghiên cứu nước ngoài trong đó tiêu biểu là các tác giả Sérène, Dawydoff,
Gurjanova và một sô nhà nghiên cứu trong nước tiêu biểu như Nguyễn Văn
Chung, Trần Ngọc Lợi. Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn nhiều hạn chế như
tập chung ở vùng triều và vùng ven bờ của một số địa phương riêng lẻ, phạm vi
hẹp và chỉ có ba cuộc điều tra trên quy mô lớn như tàu De lanessan (1929 - 1931),
đội điều tra Việt – Trung (1959-1960, 1962) và Việt – Xô (1960 – 1961). Mặt
khác, bên cạnh những ngành, lớp được các chuyên gia tập chung nghiên cứu nhiều
nên số loài phát hiện nhiều như thâm mềm (2523 loài), giáp xác (1647 loài), giun
nhiều tơ (743 loài), còn nhiều ngành, lớp chưa được nghiên cứu nhiều như hải
miên, ruột khoang, da gai…và trong đó chỉ có hai vùng biển được nghiên cứu
nhiều đó là vịnh Nha Trang và vịnh Bắc Bộ. Hơn nữa các công trình trên được
nghiên cứu tổng hợp nhiều đối tượng cho toàn vùng biển Việt Nam và chủ yếu sử
dụng phương pháp thu mẫu điểm bằng gầu Petersen chỉ tính được lượng sinh vật
7
đáy cỡ nhỏ, trong đó giun nhiều tơ chiếm số lượng chính về mật độ phân bố của
sinh vật đáy.
Nguyễn Văn Chung, 1994. Tác giả lại tổng hợp các công trình nghiên cứu

có xu thế tăng dần từ Bắc xuống Nam. Thành phần loài có nguồn gốc và đặc tính
phân bố địa lý rộng ở hầu khắp các vùng biển thế giới, ngoại trừ một số ít loài
phân bố toàn cầu (Cosmopolite), có khả năng thích nghi cao với điều kiện sống,
còn lại phần lớn số loài chỉ phân bố rộng ở vùng nhiệt đới ấn Độ - Tây Thái Bình
Dương.
Đặc điểm phân bố của một số nhóm động vật đáy chính tại vùng biển Việt
Nam như sau:
Phân bố của giun nhiều tơ (Polychaeta)
Nhóm giun nhiều tơ chiếm vị trí khá quan trọng trong khu hệ động vật đáy
biển Việt Nam, tuy thành phần loài không nhiều như thân mền và giáp xác, nhưng
đã phát hiện được khoảng 700 loài. Trong đó một số họ có số loài tương đối nhiều
như họ Aphroditidae, Nereidae, Eunicidae, syllidae, Terebellidae, Capitellidae,
Nephtyidae… Phần lớn giun nhiều tơ thích ứng với dạng chất đáy là bùn nhuyễn,
cá biệt có loài sống ở chất đáy là cát lớn hoặc cát có lẫn vỏ sinh vật, nhiều loài
sống trong các tầng san hô chết. Sự phân bố của giun nhiều tơ khác hẳn với thân
mềm, giáp xác và da gai. Nhiều loài giun nhiều tơ phân bố rất rộng trong đó có
một số loài có phân bố toàn cầu như Terebellides stroemi, Sternaspis scutata,
Nephtys dibranchis…hoặc phân bố rộng ở khu biển nhiệt đới ấn Độ-Thái Bình
Dương như Marphysa stragulum, Chloeia, Panthalis melanonotus. Ở biển Việt
Nam ngoài các loài phân bố rộng như đã nói ở trên, từng vùng biển có thành phần
loài đặc trưng khác nhau:
- Ở vịnh Bắc bộ đã phát hiện khoảng 300 loài, các loài đặc trưng là
Phyllidoce castanea, Eunice tubofex, Notomastus latericeus, Glycera riuxii…
9
- Ở ven biển miền Trung đã phát hiện gần 400 loài, các loài đặc trưng là
Amphinome rostrata, Glycera alba, Glycera capitata, Prionospio malayensis,
Sthenolepis japonica
- Vùng biển miền Nam đã phát hiện được 200 loài, các loài đặc trưng là
Micronephtys sphaerocirrata, Thalenessa trpica, Onuphis eremita, Aglaophmus
orientalis

loài điển hình như Penaeus monodon, P. semisulcatus, P. latisulcatus,
Macrophthalmus nudus, Panulirus ornatus, P.homarus, P. longipes, P.
stimpsoni…
- Vùng biển phía Nam đã phát hiện được gần 500 loài, ngoài một số loài có
giá trị kinh tế trong họ tôm he, cua bơi và tôm hùm, còn có các loài thường gặp
khác như: Actumnus spuamosus, Cryptosoma granulosa, Chasmocarcinops
gelasimoides, Myra fugax, Myrodes eudactylus.
Phân bố của Da gai (Echinoderm)
Động vật da gai có số loài ít nhất trong số 4 nhóm động vật đáy, chủ yếu
sống ở biển. Đến nay đã phát hiện được khoảng 350 loài thuộc 58 họ, trong đó
một số họ có số loài tương đối nhiều như: Comasteridae, Holothuriaidae,
Cucumariidae, Amphiuridae…Các loài thường gặp trên vùng triều và dưới triều có
nền đáy cứng (cát và san hô chết) là hải sâm (họ Holothuridae), sao biển và cầu
gai cỡ lớn. Trong san hô chết thường có các loài đuôi rắn họ Ophiothrichidae và
Ophiactidae…
- Ở miền trung đã phát hiện hơn 200 loài, các loài thường gặp là Laganum
decagonale, Ophiura pteracantha, Leptopentacta tyica, Luidia prionota,
Astropecten velitaris, Clypeaster reticulatus, Ophiothela danae…
- Vùng biển phía Nam ít hơn, khoảng gần 100 loài, thường gặp có các loài
Ophiactis savignyi, Pentacta anceps, Holothuria spinifera, Echinodiscus auritus,
Lobenia elongata, Peeinella lesueuri…
11
Phân bố sinh vật lượng của vùng biển Việt Nam cho thấy: Tổng sinh vật
lượng bình quân biển Việt Nam là 6,35 g/m
2
và 9,4 cá thể/m
2
. Nếu so sánh với khu
vực thềm lục địa của vùng biển ôn đới phía Bắc, sinh vật lượng sinh vật đáy biển
Việt Nam khá thấp. Do điều kiện môi trường và chất đáy khác nhau nên sự phân

- Ở vùng biển miền Trung (Đà Nẵng - Phan Rang) do độ dốc lớn, cách bờ
không xa đã có độ sâu rất lớn, nên sinh vật lượng nhìn chung thấp. Vùng có sinh vật
lượng dưới 1,00 g/m
2
và 50 cá thể/m
2
chiếm phần lớn diện tích. Tuy vậy ở vùng sát bờ
hoặc vũng vịnh lượng sinh vật cao hơn như ở vịnh Bình Giang - Nha Trang (5,19 g/m
2
và 191,6 cá thể/m
2
) và vịnh Văn Phong-Bến Gỏi (30,54 g/m
2
và 191,6 cá thể/m
2
).
- Ở vùng biển phía Nam (từ Phan Rang trở vào) có sinh vật lượng bình
quân là 4,05 g/m
2
và 131,09 cá thể/m
2
. Khối lượng thấp hơn, nhưng mật độ lại cao
hơn so với vịnh Bắc bộ, bởi lẽ trong thành phần định lượng hai nhóm có kích
thước nhỏ là giáp xác và giun nhiều tơ chiếm ưu thế.
12
Bảng 2: Sinh vật lượng bình quân ở một số vùng điều tra
Vùng biển
Thời gian điều
tra
Khối lượng

Văn Phong
(1976 – 1985)
Vịnh Bắc bộ
(1959 – 1962)
Quảng Ninh –
Hải Phòng
(1971 – 1972)
g/m
2

thể/m
2
g/m
2

thể/m
2
g/m
2

thể/m
2
g/m
2

thể/m
2
Giun nhiều tơ
0,94 159,90 0,89 62,58 1,13 30,60 1,24 50,10
Thâm mềm

Hòn Mum. Là công trình nghiên cứu mới nhất về động vật đáy cỡ lớn tại khu bảo
tồn biển Việt Nam. Một nghiên cứu mà có phương pháp nghiên cứu giống với
chúng ta nhất tuy nhiên thì nghiên cứu này lại không nằm trong các vùng mà
chúng ta tập trung nghiên cứu. Nghiên cứu đã đưa ra kết quả về khu hệ động vật
đáy tại khu bảo tồn biển Hòn Mun được trình bầy dưới bảng 4.
Bảng 4: Thành phần loài nhóm động vật da gai phân bố tại
Hòn Mun-Nha Trang
Huệ biển (Crinoidea)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Himerometridae
Himerometra robustipinna (Carpenter,
1881)
++ ++ ++ + . + . . + .
Mariametridae
Stephanometra sp.
x . . . . . . . . .
Colobometridae
Cenometra bella ( Hartlaub, 1890)
+ + + x . . . . x .
Comasteridae
Comanthus parvicirrus (Muller, 1841)
+
+
+
.
x
.
.
.
+

Astropecten monacanthus Sladen, 1883
x . . + . . . . . .
Astropecten sp.
x . . . . . x . . .
Đôi rắn (Ophiuroidea)
Ophiotrichidae
Macrophiothrix sp.
x x . . . . . . . .
Ophiocomidae
Ophiocoma scolopendrina (Lamarck,
1816)
. . . . . . . x . x
Ophiomastix annulosa (Lamarck, 1816)
x x . . . . . . . .
Cầu gai (ECHINOIDEA)
Diadematidae
Diadema savignyi Michelin, 1845
+ + + x + + . . + .
Diadema setosum (Leske, 1778)
+++ ++ +++ ++ ++ +++ . x ++ .
Echinothrix calamaris (Pallas, 1774)
+ + + + + x . . x .
Echinohtrix diadema (Linnaeus, 1758)
x . x . x x . . . .
Toxopneustidae
Toxopneustes pileolus (Lamarck, 1816)
+ . . . ++ + . . + .
Tripneustes gratilla (Linnaeus, 1758)
. . . . . . . . .
Clypeasteridae

2
+++: Trên 30 cá thể/400m
2
Qua thống kê các công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy, các công
trình nghiên cứu động vật đáy trên toàn vùng biển Việt Nam là rất nhiều, kết quả
là rất có ý nghĩa trong việc quy hoạch và quản lý. Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu chỉ nghiên cứu chung trên toàn bộ vùng, miền biển Vịêt Nam, trong đó
chủ yếu tập trung ở những nơi ven và gần bờ, các công trình nghiên cứu chưa đi
vào nghiên cứu các nhóm đối tượng, phương pháp nghiên cứu trước cũng rất khác
so với nghiên cứu ngày nay. Các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp lặn
sâu, tập chung vào một nhóm đối tượng còn rất ít, có nghiên cứu thì cũng ít được
công bố. Do vậy, áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến mà trên thế giới
cũng như khu vự đang áp dụng là điều cần thiết để đạt được các thông tin khoa
học có độ tin cậy và chính xác hơn nhằm mục tiêu ngày càng đi vào những nghiên
cứu cụ thể cho từng loài, từng đối tựng. Do vậy nghiên cứu về hiện trạng và đặc
điểm phân bố của nhóm động vật đáy không xương sống đáy cỡ lớn tại các hệ sinh
thái biển đảo là cần thiết, nhằm cung cấp các cơ sở khoa học phục vụ cho quy
hoạch, bảo tồn các giá trị khoa học tại các hệ sinh thái biển đảo.
16
PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
1.1. Địa điểm:
Địa điểm nghiên cứu đề tài là khu vực ven biển đảo Phú Quý trong phạm vi
phân bố hệ sinh thái rạn san hô từ ven bờ đến độ sâu khoảng 25m nước. Trong đó
tại mỗi mặt cắt tiến hành khảo sát ghi nhận thành phần loài, độ phủ san hô sống,
vùng phân bố ven bờ của đảo. Độ sâu khảo sát tùy thuộc vào rạn san hô phân bố
tại mỗi khu vực nhưng thường dao động trong khoảng từ 1 đến 30 mét nước (hình
1).
17
Hình 1: Bản đồ vị trí các điểm khảo sát tại khu bảo tồn biển Phú Quý

(20m) (20m) (20m) (20m)
5m
Trên thực tế nhóm nghiên cứu không phân ra các đoạn mà tiến hành trên
toàn bộ dây mặt cắt và tính mật độ trên 500m
2
. Mẫu định lượng đối với các loài
động vật đáy cỡ nhỏ được thu theo các ô định lượng 0,5m x 0,5m (trên mỗi mặt
cắt đặt 10 khung định lượng).
Ngoài ra, trong quá trình thu thập một số nhóm đối tượng như giáp xác,
nhóm chân đầu được tiến hành thu tại các cảng cá, thuyền đánh bắt của ngư dân
khai thác trực tiếp tại khu vực ven đảo Phú Quý.
2.2. Phương pháp bảo quản mẫu
Mẫu tại hiện trường được tiến hành chụp ảnh bằng máy ảnh và bảo quản
bằng cồn 70
0
có gi đầy đủ protocol để tiến hành phân tích trong phòng thí nghiệm.
3. Phương pháp phân tích mẫu
Mẫu một mảnh vỏ được tiến hành phân loại theo phương pháp của Terrence
M. Goshinor, David W. Behrens, Gary C. Williams, 1996. Takashi Okutari, 2000.
FAO, 2005.
19
Phân loại mẫu hai mảnh vỏ và nhóm động vật chân đầu theo tài liệu
“Bivalves of Australia vol 1-2” của Kevin Lamprell & Thora Whitehead (1992),
“Mollusk of Japan” của Takashi Okutani (2000), “Classification of Bivalves” and
“Mollusk of Vietnam” của Jorgen Hylleberg, 1998.
Phân loại thành phần loài các loài cua ghẹ dựa trên phương pháp hình thái
so sánh và sử dụng các tài liệu chủ yếu như: Gabriella Bianchi (1984); Kent E.
Carpenter and Volker H. Niem (1998).
Phương pháp phân loại nhóm da gai dựa theo tài liệu của Conand C.
(1990); Kent E. Carpenter and Volker H. Niem (1998).

+ Chỉ số phong phú loài hoặc độ giàu có loài (Margalef): d = (S-1)/log(N)
+ Chỉ số Shannon (đa dạng): H’ = -Σ(ni/N) x log(ni/N)
20
+ Chỉ số đồng đều (chỉ số cân bằng) (Pielou, 1996): J’ = H’/log(S)
+ Chỉ số ưu thế (Simpson, 1949) C = 1- Σ[ni x (ni - 1)/(N x (N-1)]
Trong đó ni: số lượng cá thể của loài i; N: tổng số cá thể của tất cả các loài
có trên một mặt cắt khảo sát; Số lượng loài.
PHẦN IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Đa dạng thành phần loài động vật đáy khu vực ven đảo Phú Quý
Kết quả nghiên cứu động vật đáy tại khu vực ven đảo Phú Quý đã xác định
được 195 loài. Trong đó nhóm động vật thân mềm có số lượng loài cao nhất 73 loài
chiếm 37,4%, nhóm giáp xác có 46 loài chiếm 23,6%, nhóm da gai có 38 loài,
chiếm 19,5% và nhóm giun nhiều tơ có 38 loài, chiếm 19,5% (hình 2).
21
Hình 2: Tỷ lệ % thành phần loài nhóm động vật đáy ven 19 đảo Phú Quý
1.1. Đa dạng thành phần loài nhóm động vật thân mềm
1.1.1. Cấu trúc thành phần loài
Kết quả nghiên cứu cho thấy thân mềm là nhóm động vật đáy chiếm số
lượng lớn với tổng số 73 loài. Trong nhóm này, lớp chân bụng (Gastropoda) gồm
40 loài, chiếm 54,8%, lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia) 26 loài - 35,6%, lớp chân đầu 7
loài – 9,6% (bảng 5).
Bảng 5: Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm ven đảo Phú Quý
Taxon Số họ Số giống Số loài Tỷ lệ (%)
Gastropoda 13 26 40 54,8
Bivalvia 11 18 23 35,6
Cephalopoda 3 5 7 9,6
Tổng số 27 39 73 100
- Lớp một mảnh vỏ (Gastropoda): có 40 loài thuộc 13 họ, 3 bộ, các họ có số loài
nhiều bao gồm họ ốc đụn (Trochidae) với 8 loài, ốc xương (Muricidae) - 8 loài);
các họ còn lại có từ 1 đến 6 loài. Trong tổng số 40 loài thu được, các loài phổ biến

cảnh của rạn san hô vùng ven biển đảo Phú Quý, đã chia thành 9 vùng rạn nghiên
cứu chính gồm: Đồng Hòn Tranh, Tây Hòn Tranh, Khu Hòn Đỏ-Hòn Đen, Đông
Nam Phú Quý, Đông Bắc Phú Quý, Tây Nam Phú Quý, Tây Bắc Phú Quý, phía
23
Bắc và phía Nam Phú Quý. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự phân bố không đều
về số lượng và cấu trúc thành phần loài trên 9 vùng rạn san hô nghiên cứu. Vùng
rạn có số lượng thành phần loài nhiều nhất là Tây Hòn Tranh (34 loài), Đông Hòn
Tranh (18 loài). Vùng rạn có thành phần loài ít nhất nhất là Bắc và Tây Bắc Phú
Quý (7 loài), vùng rạn này cũng là vùng có độ phủ san hô thấp nhất trong 9 vùng
rạn san hô nghiên cứu.
Hình 3: Số lượng loài ĐVTM ở khu vực ven đảo Phú Quý
Chỉ số đa dạng sinh học Shannon – Wiener (H’) tính cho quần xã động vật
thân mềm sống trong các rạn san hô khu vực ven đảo Phú Quý trung bình trên 9
vùng rạn khảo sát đạt 1,06 (dao động trong khoảng 0,76 – 1,47) (bảng 6). Khu vực
phía Đông Hòn Tranh có chỉ số độ đa dạng sinh học cao nhất (1,47), tiếp đến là
khu vực Nam Phú Quý (1,34) thấp nhất là khu vực phía Bắc Phú Quý (0,76).
Qua đó ta nhận thấy chỉ số đa dạng sinh học khu vực ven đảo Phú Quý đạt mức độ
trung bình.
Bảng 6: Số lượng loài và chỉ số đa dạng sinh học (H’) vùng ven đảo Phú Quý
Khu vực khảo sát Tổng số loài Chỉ số đa dạng H’
Đông Hòn Tranh 34 1,47
Tây Hòn Tranh 18 0,91
Khu Hòn Đỏ, Hòn Đen 16 1,01
24
Đông Nam Phú Quý 26 1,28
Đông Bắc Phú Quý 21 1,17
Tây Nam Phú Quý 12 0,86
Tây Bắc Phú Quý 7 0,79
Bắc Phú Quý 7 0,76
Nam Phú Quý 29 1,34

Thành phần loài, mật độ và khối lượng các loài ĐVTM phân bố theo đới độ
sâu khác nhau. Ở đới cạn, khối lượng trung bình 1,90 g/m
2
và số lượng trung bình
22,7 cá thể/m
2
cao gấp gần 4 lần khối lượng và số lượng trung bình ở đới sâu.
Kết quả phân tích cho thấy, các loài Coralliophila neritoides và Drupella
conus là những loài chiếm ưu thế, phân bố rộng, có mật độ và khối lượng lớn nhất
trong quần xã. Các loài Chicoreus brunneus, Mancinella alouina, Cronia
achrostoma… là những loài phân bố hẹp và có mật độ, khối lượng thấp, không ưu
thế và ít phổ biến.
25

Trích đoạn Đặc điểm phân bố về thành phần loà Tổng trữ lượng tức thời của động vật thân mềm ước tính khoảng 31,7 tấn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status