Đa dạng quần xã động vật đáy không xương sống cỡ trung bình và tập trung nghiên cứu cấu trúc quần xã tuyến trùng sống tự do tại rừng ngập mặn cận giờ, thành phố hồ chí minh - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Đề Tài:
ĐA DẠNG QUẦN XÃ ĐỘNG VẬT ĐÁY KHÔNG XƯƠNG SỐNG CỠ
TRUNG BÌNH VÀ TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC QUẦN XÃ
TUYẾN TRÙNG SỐNG TỰ DO TẠI RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Họ và tên

: Nguyễn Thị Lan Anh

Lớp

: CH-K20

Chuyên Ngành : Động Vật Học
Mã Ngành

: 8 42 01 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐÌNH TỨ
ThS. NGUYỄN THỊ XUÂN PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN

Meiofauna và vai trò của chúng ở các hệ sinh thái biển Việt Nam”, thuộc Dự
án Điều tra cơ bản, mã số VAST.ĐA47.12/16-19
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và động viên tôi
trong quá trình thực hiện đề tài
Đề tại được thực hiện tại phòng Tuyến trùng học của Viện Sinh thái và
Tài nguyên Sinh vật.
Đề tài được thực hiện trong thời gian ngắn nên không tránh khỏi thiếu sót.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các quý thầy cô
Tôi xin chân thành cảm ơn ./.
Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2018
Học viên

Nguyễn Thị Lan Anh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 3
3. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Ý nghĩa khoa học........................................................................................... 4
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................ 6
1.1. Tổng quan về rừng ngập mặn..................................................................... 6
1.2. Tổng quan về động vật đáy không xương sống cỡ trung bình và tuyến
trùng................................................................................................................... 9
1.2.1. Tổng quan về động vật đáy không xương sống cỡ trung bình. .......... 9
1.2.2. Tổng quan về tuyến trùng ................................................................. 12
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................ 16
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 16
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................ 16

trung bình tại ba trạm thu mẫu (cá thể/10cm²).................................................... 33
Bảng 3. 4. Kết quả phân tích ANOSIM (giá trị thống kê R và ý nghĩa từ các cặp
kiểm tra hoán vị) về sự khác biệt cấu trúc của quần xã tuyến trùng giữa hai khu
vực Mono và Mix ................................................................................................ 35
Bảng 3. 5. Các chỉ số đa dạng về số lượng loài (S), chỉ số Margalef (d), chỉ số
Shannon-Wienner (H’) và chỉ số cân bằng (J’)................................................... 46


DANH SÁCH HÌNH MINH HỌA
Hình 1. 1. Hình ảnh của nhóm ĐVĐKXSTB (Theo Higgins, 1988) ................. 10
Hình 1. 2. Cấu tạo và giải phẫu cơ thể giun tròn (Theo Platt & Warwick, 1988).
............................................................................................................................. 13
Hình 2. 1. Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại RNM Cần Giờ................................. 17
Hình 2. 2. Thu mẫu ngoài thực địa với 3 lần lặp lại........................................... 19
Hình 2. 3.Hình ảnh sàng lọc mẫu ĐVĐKXSTB, tuyến trùng............................ 20
Hình 2. 4.Làm trong tuyến trùng Hình 2. 5.Bộ tiêu bản tuyến trùng ............. 22
Hình 3. 1. Biểu đồ phần trăm hạt độ của trầm tích tại các điểm thu mẫu .......... 25
Hình 3. 2. Biểu đồ tỉ lệ phần trăm hạt độ của trầm tích tại từng điểm thu mẫu. 29
Hình 3. 3. Tỉ lệ % các nhóm ĐVĐKXSTB tại các địa điểm thu mẫu tại RNM
Cần Giờ, TP. HCM.............................................................................................. 33
Hình 3. 4. Biểu đồ mật độ trung bình của tuyến trùng (cá thể/10cm²) tại các
điểm thu mẫu ....................................................................................................... 35
Hình 3. 5.Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các họ tuyến trùng tại các địa điểm thu mẫu44
Hình 3. 6.Biểu đồ cấu trúc giới tính quần xã tuyến trùng tại các điểm thu mẫu 45
Hình 3. 7. Biểu đồ các chỉ số Margalef (d), chỉ số cân bằng (J’) và ShannonWiener (H) tại các điểm thu mẫu ........................................................................ 47
Hình 3. 8.Đường cong k – dominance (đường cong chỉ số đa dạng)................. 47
Hình 3. 9.Phân tích về độ tương đồng (Cluster) trong thành phần loài giữa các
địa điểm nghiên cứu ............................................................................................ 48
Hình 3. 10. Độ tương đồng trong thành phần loài giữa các địa điểm nghiên cứu
thể hiện bằng biểu đồ 2D-MDS .......................................................................... 48



1

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển nhiệt đới
được hợp thành từ những thực vật ngập mặn ảnh hưởng bởi nước triều ven biển,
có giá trị năng suất cao. Tổng diện tích rừng ngập mặn trong năm 2000 là
137.760 km2 tại 118 quốc gia và vùng lãnh thổ ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới của thế giới. Khoảng 75% rừng ngập mặn trên thế giới chỉ có ở 15 quốc gia
[27]. Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệt
đới hai bán cầu, trong khoảng 32º Bắc và 38º Nam, dọc bờ biển Châu Phi, Châu
Đại Dương, Châu Á và Châu Mỹ. RNM là một trong những hệ sinh thái có mức
đa dạng sinh học cao và là hệ sinh thái đặc trưng của đường bờ biển nhiệt đới và
cận nhiệt đới. RNM không chỉ cung cấp các sản phẩm có giá trị như gỗ, than,
củi, tanin, thức ăn, thuốc thảo dược… mà còn là nơi sống và ươm giống của
nhiều loại hải sản, chim nước, chim di cư và một số động vật có ý nghĩa kinh tế
lớn như khỉ, lợn rừng, cá sấu, kỳ đà, chồn, trăn... RNM có tác dụng to lớn trong
việc bảo vệ bờ biển, cửa sông, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, mở rộng diện
tích lục địa, hạn chế sự xâm nhập mặn, ngăn cản các chất thải rắn trôi ra biển,
bảo bệ đê điều, đồng ruộng, nơi sống của người dân ven biển trước sự tàn phá
của gió mùa, bão, nước biển dâng [71]. RNM còn được biết đến như là nơi lắng
tụ chất phù sa, lắng đọng các chất hữu cơ tạo điều kện cho hệ thực vật, động vật
phát triển, làm nơi cư trú cho nhiều loài sinh vật trên cạn và thủy sinh vật [53].
Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm ở huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh. Trong
chiến tranh rừng ngập mặn Cần Giờ bị bom đạn và chất độc hại khai hoang rải
xuống làm cho rừng bị hủy diệt. Sau khi chiến tranh kết thúc, UBND huyện
Duyên Hải (nay thuộc huyện Cần Giờ) đã quyết tâm phục hồi lại hệ sinh thái
rừng ngập mặn Cần Giờ nhằm cải thiện môi trường và cảnh quan cho hệ sinh

như chức năng của hệ sinh thái biển [26], [28]. Tuyến trùng chiếm ưu thế về số
lượng loài trong nhóm ĐVĐKXS cỡ trung bình [58], chúng thường chiếm từ 9095% tổng số cá thể và từ 50-90% sinh khối của ĐVĐKXSTB[31]. Theo Bonger
và Ferris (1999) tuyến trùng được sử dụng như công cụ đánh giá chất lượng môi
trường vì mức độ phân bố rộng rãi, mật độ cao, dễ thu mẫu với độ chính xác cao


3

về định lượng, tính đa dạng cao, vòng đời ngắn, khả năng di chuyển hạn chế nên
dễ sử dụng để đánh giá môi trường và khá nhạy cảm với sự thay đổi môi trường
[15].
Tuyến trùng sống tự do ở các rừng ngập mặn đã được tiến hành trong khoảng
mười năm trở lại đây tại viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật ở một số rừng
ngập mặn tiêu biểu như rừng ngập mặn cửa sông Tiên Yên [48], [49], rừng ngập
mặn Cần Giờ [40]. Các nghiên cứu này không những tập trung vào phân loại
học mà còn tập trung nghiên cứu về sinh thái học tuyến trùng trong mối tương
quan với các yếu tố môi trường. Một số công trình tiêu biểu đáng chú ý như:
Nghiên cứu sự đa dạng tuyến trùng sống tự do ở vịnh Hạ Long của Nguyễn Vũ
Thanh và Nguyễn Đình Tứ ( 2003) [7]. Nghiên cứu mô tả loài mới thuộc giống
Daptonema pumilus ở Việt Nam của Nguyễn Vũ Thanh và cs (2005) [51],
Nghiên cứu nhóm ĐVĐKXSTB ở Cần Giờ của Lại Phú Hoàng (2007) [40],
Nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc quần xã theo mùa và không gian tại rừng ngập
mặn Cần Giờ của Nguyễn Đình Tứ (2009) [47].
Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung trên diện rộng, mà chưa có
nghiên cứu nào về sự phân bố của các nhóm ĐVĐKXSTB giữa các khu vực
phân bố có 1 loại cây với khu vực có sự phân bố của nhiều loài cây. Chính vì
những lý do trên,tôi đã đề xuất thực hiện đề tài: “Đa dạng quần xã động vật đáy
không xương sống cỡ trung bình và tập trung nghiên cứu cấu trúc quần xã
tuyến trùng sống tự do tại rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí
Minh”

cấu trúc quần xã tuyến trùng ở rừng ngập mặn Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh từ
đó bổ sung thông tin về phân bố, đa dạng sinh học cho cơ sở dữ liệu sinh học
biển
- Đề tài là tài liệu phục vụ cho các nghiên cứu về đa dạng nhóm
ĐVĐKXSTB và tuyến trùng.


5

- Ý nghĩa thực tiễn: Bổ sung thêm các công trình nghiên cứu về tuyến trùng,
hoạch định chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ Hệ sinh thái, giám sát
sức khỏe sinh thái, môi trường biển


6

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn (RNM) như là một hệ cây rừng ven biển của vùng duyên hải
nhiệt đới và á nhiệt đới [61]. Vì thế thuật ngữ rừng ngập mặn “mangrove” được
sử dụng để chỉ các cây sống trong bùn, đất ướt ở vùng thủy triều nhiệt đới hoặc
á nhiệt đới. Nói một cách tổng quát rừng ngập mặn là những cây thân gỗ và cây
bụi mọc dưới mức triều cao của thủy triều vì vậy hệ thống rễ của chúng thường
xuyên bị ngập trong nước.
Rừng ngập mặn là một trong số những hệ sinh thái quan trọng và có năng
suất cao nhất và chúng phân bố dọc theo các khu vực ven biển và hải đảo.
Chúng là nguồn cung cấp thực phẩm và là nơi cư trú cho nhiều loài động vật
thủy sinh. Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn góp phần ổn định đường bờ biển
và chúng có vai trò cung cấp một rào cản tự nhiên để chống chống bão và các
tác nhân tự nhiên khác. Thêm vào đó, rừng ngập mặn cũng đã cung cấp các vật

trên cạn và thủy sinh vật [53].
Rừng ngập mặn có vai trò như lá phổi xanh lọc thải khí CO2 từ khí quyển.
So với các loài cây khác, cây rừng ngập mặn thực hiện việc này còn tốt hơn
nhiều. Trong một số báo cáo của nhóm giáo sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu
Lâm Nghiệp Quốc tế (CIFOR), cùng một diện dích rừng ngập mặn có khả năng
dự trữ cacbon nhiều gấp 5 lần so với các rừng khác trên đất liền [36].
Vào năm 1945, Maurand ước tính diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam có
khoảng 408.500 ha [44]. Trong suốt hai cuộc chiến tranh Việt Nam cùng với quá
trình khai thác quá mức và phá rừng để lấy đất dành cho nông nghiệp và ao nuôi
tôm của con người, diện tích rừng ngập mặn đã giảm mạnh. Hiện nay, tổng diện
tích của các vùng ngập mặn có khoảng 154.300 ha [41].
Rừng ngập mặn Cần Giờ thuộc huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh. Đây là
khu vực chịu nhiều tác động của thuỷ triều, dòng chảy của các sông Vàm Cỏ,
sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Rừng ngập mặn Cần Giờ là một hệ sinh thái rất
quan trọng ở Việt Nam bởi chức năng sinh thái và dịch vụ du lịch mà nó đem
lại. Theo thống kê của UBND TP. Hồ Chí Minh, vào năm 2009 thì dân số của
huyện Cần Giờ (bao gồm các xã: Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp,


8

Lý Nhơn, Long Hòa, Cần Thạnh, Thạnh An) khoảng 68.213 người (website:
www.Can Gio.hochiminhcity.gov.vn).
Rừng ngập mặn Cần Giờ là khu vực chịu nhiều tác động của thủy triều, dòng
chảy của các sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, nằm ở khu vực
nhiệt đới gió mùa, điển hình với 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5-10, mùa khô
từ tháng 11- 4. Nhiệt độ trung bình 25.8ºC. Lượng mưa thấp từ 13001400mm/năm. Rừng ngập mặn Cần Giờ là hệ sinh thái trung gian giữa nước
mặn và nước ngọt, dưới sự ảnh hưởng của biển nên có 1 hệ sinh thái vô cùng
phong phú về hệ thực vật và động vật, đồng thời cũng là nơi cung cấp thức ăn,
nuôi dưỡng và là nơi cư trú của các loài động vật, thủy sinh vật và đặc biệt là

bình. Chúng phân bố trên toàn thế giới [67],[38],[68],[70],[54],[66],[34], [52],
[45],[9], [11], [46], [40].
Động vật đáy cỡ trung bình – Meiofauna (hay meiobenthos): Khái niệm về
ĐVĐKXSTB đã được biết đến từ những năm đầu của thế kỷ 19 [43] là những
động vật không xương sống nhỏ ở nền đáy, sống trong môi trường nước biển và
nước ngọt, có kích thước từ 0.1 đến 1 mm, thường sống ở trong cát hay bùn.
Loại này gồm động vật nhuyễn thể, những con giun rất nhỏ, vài nhóm giáp xác
nhỏ (bao gồm chân chèo đáy) và một số động vật không xương sống ít quen
thuộc.
Hầu hết ĐVĐKXSTB khá là nhỏ và có thể nhìn dưới kính có độ phóng đại
lớn. ĐVĐKXS là một thành phần quan trọng của sinh cảnh đáy do kích thước
nhỏ, đa dạng về loài, năng suất cao trong nhiều môi trường trầm tích và đóng vai
trò quan trọng trong mạng lưới của sinh vật đáy [18]. Meiofauna ăn vi sinh vật
đáy, vi sinh vật khác và là nguồn thức ăn cho các loài tôm, cá trong cùng môi
trường sống tạo nên mạng lưới thức ăn để nâng cao năng suất và tái chế các chất
dinh dưỡng.


10

Hình 1. 1. Hình ảnh của nhóm ĐVĐKXSTB (Theo Higgins, 1988)
Sự phân bố và tính chất của ĐVĐKXSTB chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố vật
lý, hóa học như: kích cỡ hạt, khả năng oxy hóa khử, chế độ thủy triều [10],[17].
Cấu trúc quần xã của ĐVĐKXSTB thay đổi theo điều kiện cửa sông và nồng độ
muối [62]. Sự đa dạng và số lượng loài của ĐVĐKXSTB có xu hướng giảm
theo hướng từ biển vào nước ngọt tại các vùng cửa sông [16]. Vào năm 1999
Kenedy và Jacoby đã đưa ra công bố về việc ĐVĐKXSTB làm công cụ chỉ thị
môi trường hiệu quả [36]. Tác động ô nhiễm trên meiofauna đã được chứng




động từ 1303 cá thể/10cm tại rạch Nàng Hai đến 2440 cá thể/10 cm tại rạch
Khe Nhàn. Nhóm Tuyến trùng cũng có mật độ cao nhất với tỷ lệ trung bình là
91,1% (ở Khe Nhàn) đến 93,0% (ở rạch Nàng Hai). Thêm vào đó, đã có rất
nhiều các nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố môi trường sinh thái như
phân rã rác lá, tannins, nhiệt độ v.v. [35], [9],[24], [29].


12

1.2.2. Tổng quan về tuyến trùng
Tuyến trùng là động vật không xương sống thuộc ngành giun tròn, có kích
thước dưới 1 mm, cơ thể có dạng hình thoi, hình sợi chỉ hoặc hình trụ thon nhọn
về 2 đầu. Cơ thể tuyến trùng được chia làm 3 phần: đầu, mình và đuôi. Đa số
tuyến trùng sống tự do ở môi trường đất, đất ngập nước hay thủy vực, một số
loài sống ký sinh trên động vật không xương sống, động vật có xương sống, trên
cây…Trong nhóm ĐVĐKXSTB, tuyến trùng (Nematoda) là ngành động vật đa
dạng nhất sống trong một phạm vi rộng lớn tại các môi trường phân biệt [33].
Tuyến trùng sống hầu hết ở các hệ sinh thái trong sông, cửa sông, ven biển cho
đến biển sâu, từ cùng cực cho đến vùng nhiệt đới. Tuyến trùng sống chủ yếu ở
các môi trường nước ngọt, ven biển, cửa sông và mặt đất [16]. Nhờ sự phong
phú và đa dạng sinh học cao, tuyến trùng được đánh giá là đóng vai trò quan
trọng trong cấu trúc cũng như chức năng của hệ sinh thái biển [26], [28]. Tuyến
trùng chiếm ưu thế về số lượng loài trong nhóm ĐVĐKXS cỡ trung bình [56].
Chúng thường chiếm từ 90-95% tổng số cá thể và từ 50-90% sinh khối của
ĐVĐKXSTB [72]. Theo Bonger và Ferris năm 1999 tuyến trùng được sử dụng
như công cụ đánh giá chất lượng môi trường vì mức độ phân bố rộng rãi, mật độ
cao, dễ thu mẫu với độ chính xác cao về định lượng, tính đa dạng cao, vòng đời
ngắn, khả năng di chuyển hạn chế nên dễ sử dụng để đánh giá môi trường và khá
nhạy cảm với sự thay đổi môi trường [15].

mặn đã được tiến hành trong khoảng mười năm trở lại đây tại viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật ở một số rừng ngập mặn tiêu biểu như rừng ngập mặn cửa
sông Hồng [7], rừng ngập mặn Cần Giờ [5]. Các nghiên cứu này không những
tập trung vào phân loại học mà còn tập trung nghiên cứu về sinh thái học tuyến
trùng trong mối tương quan với các yếu tố môi trường. Một số công trình tiêu
biểu đáng chú ý như: “Nghiên cứu sự đa dạng tuyến trùng sống tự do ở vịnh Hạ
Long” của Nguyễn Vũ Thanh và Nguyễn Đình Tứ ( 2003) [7], [48],“Nghiên cứu
mô tả loài mới Daptonema pumilus ở Việt Nam”Nguyễn Vũ Thanh và cs (2005)
[51], “Nghiên cứu nhóm ĐVĐKXSTB ở Cần Giờ” của Lại Phú Hoàng (2007)
[40], “Nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc quần xã ĐVĐKXSTB theo mùa và không
gian tại rừng ngập mặn Cần Giờ” của Nguyễn Đình Tứ (2009) [47].
Ngoài ra, một số nghiên cứu về tuyến trùng đã được nhiều nhà nghiên cứu
tìm ra số lượng loài đa dạng và phong phú, đặc biệt là loài ưu thế ở các khu vực


15

thuộc rừng ngập mặn. Vào những năm gần đây, ở nhiều hệ thống sông ngòi, hệ
sinh thái rừng ngập mặn đã bước đầu được các nhà nghiên cứu điều tra về mức
độ đa dạng sinh học quần xã tuyến trùng và nghiên cứu khả năng sử dụng chúng
như các sinh vật chỉ thị trong đánh giá về chất lượng sinh học nguồn nước [2].


16

CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhóm ĐVĐKXSTB và tập trung nghiên cứu vào quần xã tuyến trùng
sống tự do ở rừng ngập mặn thuộc rừng ngập mặn Cần Giờ, TP. HCM.


Điểm thu
mẫu

Vĩ độ Bắc

Mono S1

10 29.035’ 106 55.405’

Mono S2

10o 29.972’

Mono S3

10 29.906’ 106 55.413’

Mix S1

10 30.683’ 106 54.871’

Mix S2

10 30.599’ 106 54.904’

Mix S3

10 30.544’ 106 55.079’


2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu nhập tài liệu
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu nhập các tài liệu thứ cấp bao gồm:
điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các
công trình nghiên cứu về động vật đáy không xương sống cỡ trung bình và tuyến
trùng trên sách, báo đã được công bố.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status