Lời mở đầu
Trong bối cảnh thế giới với xu hớng hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá để
phát triển đi lên, Việt Nam không thể đứng ngoài, tách khỏi xu thế chung
của nhân loại. Việc hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng
đạt đợc những mục tiêu về dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ và
văn minh. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề kinh tế đối ngoại là việc làm hết sức
quan trọng và cấp thiết. Với một phạm vi có hạn của một đề án kinh tế chính
trị, bài viết này chỉ bàn bạc về Vấn đề thực trạng và giải pháp để mở rộng
và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại của nớc ta trong quá trình hội
nhập với khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay ở những mặt cơ
bản, quan trọng và xúc tích nhất. Để từ đó thấy đợc tầm quan trọng to lớn mà
kinh tế đối ngoại đóng góp vào nền kinh tế quốc dân.
1
Phần I: một số vấn đề về cơ sở lí luận
I. Khái niệm kinh tế đối ngoại
Để hiểu thế nào là kinh tế đối ngoại và không nhầm lẫn nó với khái
niệm kinh tế quốc tế, trớc hết ta hãy xem khái niệm về kinh tế đối ngoại của
giáo trình kinh tế chính trị Mac-Lênin do Nhà xuất bản chính trị Quốc gia đa
ra nh sau: Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận kinh tế, là
tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc
gia nhất định với các quốc gia còn lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế
khác, đợc thực hiện dới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở
phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động quốc tế.
Nh vậy kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế mà chủ thể của nó là một
quốc gia với bên ngoài, với nớc khác hoặc tổ chức kinh tế quốc tế khác. Còn
kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế với nhau giữa hai hoặc nhiều n ớc, là
tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế
II. Những cơ sở khách quan của việc hình thành và phát triển kinh tế đối
ngoại
1. Phân công lao động quốc tế
Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung
nghệ, thơng mại trong nội bộ ngành sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong
thơng mại thế giới.
3.1 Khối lợng thơng mại trong nội bộ các tập đoàn kinh tế khu vực không
ngừng mở rộng:
Tổng kim ngạch thơng mại trong các tập đoàn kinh tế khu vực ( nh cộng
đồng kinh tế châu Âu (EEC- nay là EU)) trong hiệp định sản phẩm xã hội
Mỹ- Canađa không ngừng tăng lên và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong
tổng kim ngạch quốc tế. Hình thành thị trờng thế giới trong từng khu vực,
lấy Mỹ- châu Âu- Nhật Bản làm trung tâm.
3.2. Thơng mại công nghệ phát triển nhanh chóng:
Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, trên thị trờng thế giới, thơng mại
công nghệ phát triển nhanh chóng, cứ 10 năm lại tăng lên gấp 4 lần, vợt xa
tốc độ tăng trởng của thơng mại hàng hoá. Thơng mại công nghệ phát triển
theo ba xu hớng:
+ Cùng với sự điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và chiến lợc kinh tế của
các nớc, các nớc phát triển sẽ nhanh chóng chuyển vốn, thiết bị và kỹ thuật
quá thừa ra nớc ngoài. Còn các nớc đang phát triển sẽ tìm cách thu hút vốn
của nớc ngoài để phát triển sản xuất, mở rộng kinh tế đối ngoại
+ Xuất khẩu bằng sáng chế, phát minh, giấy phép, bản vẽ thiết kế, tổ
chức quản lýsẽ ngày càng chiếm vị trí quan trọng.
+ Cạnh tranh gay gắt trong thị trờng thơng mại công nghệ. Trong cuộc
cạnh tranh ấy, các xí nghiệp xuyên quốc gia của các nớc phát triển giữ vai
trò chi phối.
3
3.3. Thơng mại phát triển theo hớng tập đoàn hoá kinh tế khu vực với
các nhân tố sau chi phối:
+ Cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, cục diện thế giới thay đổi từ
hai cực sang đa cực, so sánh sức mạnh kinh tế thế giới cũng thay đổi rõ rệt.
Để duy trì lợi ích của mình và củng cố vị trí trong đàm phán, nhiều nớc
đang phát triển cũng tổ chức các loại hình liên minh kinh tế khu vực. Và để
Phần II: thực trạng và giải pháp
I. vấn đề thực trạng kinh tế đối ngoại Việt Nam
1. Ngoại thơng:
Ngoại thơng hay còn gọi là thơng mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá
dịch vụ (hàng hoá hữu hình và vô hình) giữa các quốc gia thông qua xuất-
nhập khẩu. Trong các nội dung kinh tế đối ngoại, ngoại thơng giữ vị trí trung
tâm và có tác dụng to lớn: góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích
luỹ của mỗi nớc nhờ sử dụng có hiệu quảlợi thế so sánh giữa các quốc gia
trong trao đổi quốc tế, là động lực thúc đẩy tăng trởng kinh tế, nâng cao
trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nớc.
Đối với Việt Nam, ngoại thơng đã vợt qua đợc cơn sốc xảy ra năm
1991-1992 do sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, mở rộng thị trờng ở các
châu lục.Việc mất gần hết thị trờng truyền thống (Liên Xô và Đông Âu) lúc
đầu là một khó khăn tởng chừng không vợt qua nổi. Nhng từ trong khó khăn
đó những giải pháp tháo gỡ đã đa nền ngoại thơng Việt Nam phát triển vợt
bậc. Đến nay, chúng ta đã phát triển quan hệ thơng mại với 130 nớc và vùng
lãnh thổ trên thế giới.Tính theo châu lục thì hàng xuất khẩu của Việt Nam
sang châu á chiếm 80%, châu Âu:15%, châu Phi; 3% và châu Mỹ là: 2%. M -
ời quốc gia và lãnh thổ nhập khẩu lớn nhất hàng Việt Nam là: Nhật Bản
(28.5%), Xingapo (14.6%), Trung Quốc (7.4%), Đài Loan (5.4%), Hồng
Kông (4.9%), CHLB Đức (4.6%), Pháp (3.2%), Thái Lan (2.3%), Liên bang
Nga (2.2%), Hàn Quốc (2.2%).
Tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu cao. Từ năm 1986 đến nay, kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam đều tăng, trong thời kỳ 1991-1995 trung bình
mỗi năm kim ngạch xuất khẩu của nớc ta tăng 20%. Đây là một tốc độ tăng
trởng cao so với nền ngoại thơng thế giới và cao hơn nhiều so với tốc độ phát
triển của sản xuất trong nớc. Năm 1996, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 7
2558 tỷ USD tăng 31.1% so với năm 1995; riêng hàng xuất khẩu của các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tuy chỉ chiếm tỷ lệ 11.1% tổng kim
ngạch xuất khẩu nhng đã tăng gấp hai lần so với năm 1995. Năm 1997, tổng
dịch vụ quốc tế đã phát triển với tốc độ cao cha từng thấy, đạt những thành
quả hết sức to lớn, góp phần mang lại cục diện mới cho nền kinh tế Việt
Nam.
Trớc tiên phải kể đến ngành bu chính viễn thông. Đến năm 1996, đã có
14 liên doanh hoạt động trong ngành bu chính viễn thông với tổng số vốn
đầu t là 751.37 triệu USD. Viễn thông Việt Nam đã đợc Liên minh viễn
thông quốc tế (ITU) công nhận đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật, đáp ứng đợc
những yêu cầu đòi hỏi của một nền kinh tế mở, của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Trong ngành dịch vụ và khách sạn, cho đến năm 1996, Tổng cục du
lịch đã ký 12 hiệp định hợp tác quốc tế với các nớc. Ngành du lịch cả nớc có
76 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế, 118 doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành nội địa. Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã thực hiện 400 hợp
đồng đa đón khách với các hãng du lịch nớc ngoài. Lợng khách du lịch quốc
tế vào Việt Nam thời kỳ 1990-1995 tăng trung bình 40%/năm. Riêng năm
1996 số lợng du khách quốc tế đạt mức 1.6 triệu lợt ngời. Số lợng khách sạn
đạt tiêu chuẩn quốc tế ngày càng tăng. Đã có 120 khách sạn đạt tiêu chuẩn
từ 1 đến 5 sao.Toàn ngành du lịch- khách sạn đã thu hút 149 dự án đầu t nớc
ngoài với số vốn đăng ký đạt 3.97 tỷ USD ( chỉ đứng sau ngành công
nghiệp). Tất cả những điều đó cho thấy ngành du lịch Việt Nam đã và đang
vơn lên mạnh mẽ để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lợc
phát triển đất nớc.
Tài chính- tiền tệ cũng có những biến đổi phù hợp với quá trình công
nghiẹp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Hiện nay ở Việt Nam có 4 ngân hàng th-
ơng mại quốc doanh, có ngân hàng phục vụ ngời nghèo, tổng công ty vàng
7
bạc đá quý, 53 ngân hàng thơng mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 23 chi
nhánh ngân hàng nớc ngoài của 12 nớc, 70 văn phòng đại diện của các ngân
hàng nớc ngoài, 2 công ty tài chính cổ phần, hệ thống tín dụng và hợp tác xã
tín dụng. Sự có mặt của các tổ chức kinh doanh tiền tệ nớc ngoài tại Việt
phải kể đến 280 văn phòng đại diện của các công ty Mỹ đang hoạt động tại
Việt Nam. Một số hàng hoá của Việt Nam nh cà phê, gạo, biacũng thâm
nhập có hiệu quả vào thị trờng Mỹ.
5.2 Ký kết hiệp định khung hợp tác kinh tế Liên minh châu Âu (EU) với
Việt Nam
Hiện nay, đầu t của EU đã nhiều hơn so với nhiều nớc trong khu vực
(vào khoảng 12% tổng số FDI của châu Âu). EU sẽ tài trợ giúp Việt Nam cải
thiện môi trờng đầu t, trợ giúp về kỹ thuật, tăng hạn ngạch nhập khẩu hàng
8
may mặc Việt Nam vào EU, tăng ODA cho Việt Nam Trên thực tế, một số
ngành công nghiệp nh may mặc, da giày, giấy của Việt Nam phát triển đợc
một phần đáng kể là nhờ có vốn đầu t và thị trờng của châu Âu. Ví dụ, năm
1995, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU là 350 triệu USD,
năm 1996 đã lên tới 560 triệu USD.
5.3 Thành công bớc đầu trong liên kết kinh tế khu vực
Từ 28-7-1995, Việt Nam đã nhanh chóng tận dụng u thế của liên kết
khu vực nhằm phát triển kinh tế . Đầu t của các nớc ASEAN vào Việt Nam
cũng gia tăng và có hiệu quả hơn. Vị thế Việt Nam trong các mối liên kết
kinh tế khu vực ASEAN tạo nhiều thuận lợi cho sự phát triển. Việt Nam cũng
đã đệ đơn gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) (tháng 12-1994) và
Diễn đàn kinh tế châu á- Thái Bình Dơng (APEC) (năm 1996). Quá trình
đàm phán để gia nhập đang diễn biến thuận lợi và tạo ra các cơ hội đẩy
nhanh quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới .
6. Những thiếu sót trong kinh tế đối ngoại .
-Hiệu quả kinh tế đối ngoại cha cao .Việc phát triển kinh tế cha hớg
hạnh vào xuất khẩ, kim ngạch xuất khẩu còn thấp , chủ yếu là xuất khẩu
nguyên liệu thô , cha qua chế biến .Cơ chế hàng nhập khẩu cha hợp lí .
Nhập siêu quá lớn .Dịch vụ thu ngoại tệ cha phát triển .
-Cha tạo đợc những thị trờng xuất nhập khẩu trực tiếp có quy mô lớn
và ổn định , cha vào đơc một số thị tờng lớn , quan trọng .Cha mạnh dạn đi
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế đã có những tác đọnh
tích cực đến nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta, thể
hiện trên những nét chủ yếu sau đây :
7.1 Độ mở của nến kinh tế nớc ta tăng nhanh .
Độ mở của nền kinh tế của một nớc đợc đo bằng Độ phụ thuộc mậu
dịch đối ngoại , đó là chỉ số so sánh giữ kim ngạch ngoại thơng với GDP
hoặc GNP của nớc đó hoặc đo bằng Độ phụ thuộc xuất (nhập) khẩu, tức
là so sánh kim ngach xuất (nhập) khẩu với GDP hoăc GNP của nớc đó .
Độ phụ thuộc mậu dịch đối ngoại của nớc ta năm 1995 khoảng 65% ,
năm 2000 tăng lên 100%. Độ phụ thuôc xuất khẩu tơng ứng từ 26% lên
48% và chỉ số này trong nhập khẩu từ 39% lên 52% .Mặc dù tốc độ tăng
xuất khẩu bình quân của nớc ta giảm từ 32.6% thời kì 1991 1995 xuống
còn 19,3 %/năm trong thời kì 1996-2000 do chịu ảnh hửơng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và tiếp đó là sự suy thoái kinh tế toàn
cấu , nhng vẫn cao hơn tốc dộ tăng GDP nhiều , nên độphụ thuộc mậu dich
đối ngoại nói chungvà độ phụ thuộc xuất khẩu nối riêng vẫn tăng lên .
Bảng1: Tốc độ tăng GDP giai đoạn 1991 - 2001 theo giá so sánh
năm 1994 (%)
Năm 1191 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Mức tăng 5.81 8.70 8.08 8.83 9.54 9.34 8.15 5.76 4.77 6.79 So bộ 6.84
7.2 Tốc độ tăng trởng GDP cao , thời kì 1996-2000 bị ảnh hởng bởi bối
cảnh kinh tế khu vực và quốc tế nên tốc độ này giảm xuống nhng vẫn đợc
đánh giá là khả quan so với nhiều nớc .
Tính bình quân giai đoạn 1991-1995 là 8.18% tình bình quân giai đoạn
1996-2000 là 6.95%. Bản trên cho thấy từ năm 1997 tốc độ tăng GDP giảm
so với những năm trứơc do chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ khu vực và sau đó là suy thoái kinh tế toần cầu .
So sánh với kim ngach xuất khẩu và nhập khẩu thấy xu hớng biến động
của GDP chịu ảnh hởng trực tiếp của ngoại thơng .Rõ nhất là hai năm 1998-
1999 xuất khẩu tăng thấp 1.9% và 23.3% và nhập khẩu tơng ứng là -0.8% và
đó có 76 nớc đã kí hiệp định thơng mại, thoả thuận tối hụê quốc với 68 nớc .
Nớc ta đã đẩy lùi đợc chính saccchs bao vây cô lập, cấm vận cuẩ các thế lực
thù địch , tạo dựng đợc môi trờng quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, năng câo vị thế nớc ta trên chính trờng và thơng
trờng thế giới .
7.4 Thu hút một nguồn lớn FDI .
FDI đăng kí cao nhất vào năm 1996, rồi giảm mạnh , dến năm 2001 lại
tăng đôi chút n, nhng vẫn cha đạt 1993; Còn FDI thực hiện lại đạt đỉnh cao
vào năm 1997 và giảm ít hựn FDI đăng ký, năm 2001 đật cao hơn mức
1994 .Đáng chú ý là tỷ lệ giữa FDI thực hiện so với FDI đăng lí co xu hớng
tăng lên , nhất là năm 1999 và năm 2000, chứng tỏ một soó dự án cũ có hiệu
quả nên đợc tăng thêm vốn .
Về số dự án FDI: Tăng từ 37 ( năm 1988 ) lên 410 (năm 1995 ) rồi
giảm xuống vào các năm 1996-1998 sau đó lại tăng dần và đạt 463 dự án vào
năm 2001. Vốn pháp định giảm dần tỷ trọng từ 74.3% (năm 1998), 86.3%
(năm 1990) xuống 42.2% (năm 2001), tính tổng số thì từ 1988 đến năm
2001, chiếm 45.7%. Theo nhận định của các chuyên gia thì đây là một tỷ lệ
thấp không bình thờng (ở Malaixia tỷ lệ này là 70%, Singapo là 80%), phản
ánh tình trạng các nhà đầu t cha tin tởng vào môi trờng kinh doanh trong nớc
và có thể còn do thuế đánh vào lợi nhuận chuyển về nớc cao (3%).
Về cơ cấu ngành: FDI vào Việt Nam thời gian đầu hớng nhiều vào
ngành xây dựng và dịch vụ, thời gian sau gia tăng vào công nghiệp chế tạo
(số dự án trong ngành này từ 26% thời kỳ 1988-1991 lên 66.5% thời kỳ
1996-2000 và 80.7% năm 2001 và về vốn đăng ký tơng ứng là 22%, 31% và
76.4%) Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đóng góp vào GDP tăng từ
6.3% (năm 1995) lên 13.3% (năm 2000)
Bảng 3: Lợng FDI đăng ký và thực hiện
Đơn vị: Triệu USD
Năm
1988 -
7.6. Đời sống nhân dân từng bớc đợc cải thiện, đói nghèo giảm
Bảng 5: GDP thực tế bình quân đầu ngời và tính theo tỷ giá sức mua t-
ơng đơng (PPP năm 1999) và chỉ số HDI của Việt Nam
Năm 1995 1997 1999 2001
GDP/ ngời theo PPP
năm 1999 (USD)
1010 1208 1630 1860
Chỉ số K 0,38 0,42 0,47 0,49
Xếp hạng 151/156 147/160 133/174 120/162
Chỉ số HDI 0,539 0,557 0,644 0,682
Xếp hạng 120/160 121/160 110/174 101/162
Việc chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế không những tác
động vào tăng trởng kinh tế mà còn góp phần cải thiện đời sống của nhân
dân, giảm đói nghèo
Theo bảng 5 trên đây, tuy GDP bình quân đầu ngời của nớc ta còn rất
thấp, vẫn thuộc loại nớc nghèo nhất thế giới nhng thứ hạng HDI lại cao hơn
thứ hạng GDP nhiều. Điều đó chứng tỏ đời sống của nhân dân đựơc cải thiện
nhanh hơn mức tăng trởng GDP và đói nghèo giảm.
Bảng 6: Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP )%)
Năm Tổng số Nông, lâm, thuỷ sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
1995 100 27,18 28,76 44,16
1996 100 27,76 29,73 42,51
1997 100 25,77 32,08 42,15
1998 100 24,78 32,49 41,73
1999 100 25,43 34,49 40,08
12
2000 100 24,53 36,73 38,74
2001 (sơ bộ) 100 23,62 37,83 38,5
8. Hạn chế của việc toàn cầu hoá tác động đối với hội nhập kinh tế của
nền kinh tế thị trờng nớc ta.
thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dơng, Bà Rịa- Vũng Tàu) và đồng
bằng Sông Hồng (xung quanh Hà Nội). Trong tổng số dự án đăng ký từ
1998-2001 thì 62.65 ở Đông Nam Bộ, 19.8% ở đồng bằng sông Hồng. Con
số tơng ứng về vốn đăng ký ở hai vùng trên là 53.1% và 25.9%. Việc các nhà
đầu t cha chuyển đến các vùng sâu, xa một mặt do kết cấu hạ tầng, nhất là
giao thông vận tải,kém phát triển , mặt khác do thiếu những chính sách
khuyến khích thoả đáng.
13
Ba là, hiệu quả đầu t và năng lực cạnh tranh của hàng hoá của nớc ta
còn thấp .Qua bảng ba và bảng bốn ở trên có thể tháy FDI thực hiệ giảm
không nhiều, còn lợng ODA giải ngân tăng đều, nhng tốc độ tăng GDP lại
giảm khi hệ số ICOR tăng nhanh, điều đó chứng tở hiệu quả đầu t thấp.
Theo dự tính của trung tâm kinh tế quốc tế (CIE) và WB thì tăng trởng
năng suất tổng hợp của Việt Nam đáng lẽ phải tăng lên hơn trớc để bù lại sự
giảm sút FDI thì lại chậm lại vaò nửa cuối những năm 90. Giai đoạn 1990-
1995 tốc độ tăng trởng bình quân của năng suất tổng hợp là 2% , nhng xét cả
giai đoạn từ 1990 2000 thì chỉ tiêu này là 1.1% .Mặt khác hệ số ICOR
tăng đòi hỏi phải tăng vốn đầu t mà FDI lại giảm . Sở dĩ hệ số ICOR thấp
trong những năm đầu đổi mới là do cơ chế mới đã giãi phóng đợc những tiềm
năng bị kìm hãm bởi cơ chế cũ , đồng thời một số công trình đợc xây dựng từ
thời bao cấp ( nh thuỷ điện Hoà Bình , nhiệt điện Phả Lại ) đợc đa vào sử
dụng . hơn nữa hồi đó chủ yếu phát triển những doanh nghiệp ứng dụng công
nghệ có hàm lợng lao động cao .
Việc sử dụng ODA cũng cha cao, cha định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ
trả nợ, nên đang gặp khó khăn trong thu hồi vốn để trả nợ; công tác quản lý
sau dự án bị buông lỏng ; trình độ cán bộ quản lý các dự án ODA cha đáp
ứng yêu cầu; việc phân bổ ODA còn dàn trải; một số công trình chất lợng
kém (dự án xây dựng nhà máy nớc Cao Đỉnh (Hà Nội), đập ngăn mặn Hiền
Lơng (Quảng Ngãi)).
Cũng do hiệu qủa đầu t thấp nên năng lực cạnh tranh của hàng hoá nớc
Thứ ba, do tri thức và trình độ kinh doanh của dân ta còn thấp, cộng
với hệ thống tài chính và ngân hàng còn yếu kém nên dễ bị tổn thơng và bị
thao túng nếu tự do hoá thị trờng vốn sớm; từ kinh nghiệm của các nớc đang
phát triển trong khu vực cho thấy nguy cơ lệ thuộc vào các tổ chức tài chính
nớc ngoài và quốc tế là một thực tế.
Thứ t, hệ thống thông tin- viễn thông toàn cầu hoá với t cách là một
thứ quyền lực siêu hạngđang phát triển nhanh có thể gây ra tác động tiêu cực
trực tiếp đến an ninh kinh tế, văn hoá và xã hội, theo hớng làm rối loạn , làm
lợi cho các thế lực bên ngoài. Vấn đề là kiểm soát việc tự do hoá thông tin,
truyền thông nh thế nào để không từ bỏ lợi ích tận dụng khai thác nó mà vẫn
hạn chế tối đa nguy hại có thể gây ra.
Thứ năm, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ yếu là với các quốc gia
có tiềm lực mạnh, có thể chứa đựng những những yếu tố tiêu cực nh muốn
kìm hãm thậm chí gây sức épbuộc Việt Nam phải thay đổi những vấn đề có
tính nguyên tắc nh định hớng, mục tiêu, mục đích phát triển. Ví dụ, mục
đích chính của các công ty xuyên quốc gia là lợi nhuận, còn đối với Việt
Nam thì vấn đề có lợi nhuận vẫn cha đủ, mà mục đích chính phải là vì dân
giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Trong rất nhiều trờng
hợp, quan hệ kinh tế đã giúp tạo ra lợi nhuận, nhng không công bằng, một số
tầng lớp dân c đợc hởng lợi nhng lại làm cho nớc nhà nghèo đi.
9.2 Năm cơ đối với Việt Nam
Thứ nhất, với quan điểm và nguyên tắc rõ ràng, Việt Nam chủ động
đẩy nhanh quá trình hội nhập. Đờng lối ở tầm vĩ mô về xu thế không thể
tránh khỏi đối với sự phát triển của quá trình tham gia toàn cầu hoá thực tế
có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đổi mới, hội nhập của Việt Nam. Từ
nhận thức này, trong những năm qua Việt Nam đã cóbớc chuyển đổi lớn
trong chính sách phát triển kinh tế đối ngoại. Các chính sách này đều theo h -
ớng tự do hoá, tất nhiên ở các tầng lớp khác nhau phụ thuộc vào thực lực cụ
thể của mỗi lĩnh vực.
Thứ hai, tham gia toàn cầu hoá chính là nhằm tranh thủ những điều
vực và thế giới.
Cùng với mở cửa thu hút vốn nớc ngoài , gia tăng xuất khẩu, các doanh
nghiệp Việt Nam cũng đã mạnh dạn tham gia đầu t ra nớc ngoài, kể cả
những nớc phát triển nh Nhật Bản. Tính đến năm 2001, các doanh nghiệp
Việt Nam đã có 64 dự án đầu t ra nớc ngoài, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực
chế biến thực phẩm, thơng mại dịch vụ và xây dựng. Đồng thời trong
những năm 90 Việt Nam đã ký các hợp đồng đa 7 vạn lao động ra nớc ngoài
làm việc. Theo những con số của vụ quản lý dự án Bộ kế hoạch và đầu t,
riêng trong khu vực có FDI đã thu hút 285.7 nghìn lao động tính đến tháng
8/1999.
Đối với WB, hiện tại Việt Nam là thành viên chính thức của một số tổ
chức thuộc WB, đó là Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD), hiệp
hội phát triển quốc tế (IDA), tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) và công ty bảo
hiểm đầu t đa biên (MIGA). Cùng với WB, Việt Nam cũng có quan hệ hợp
tác với IMF.Năm 1976 Việt Nam tiếp tục đợc hởng quy chế thành viên với cổ
phần lúc đó là 0.12% tổng số vốn của IMF với 314 triệu USD. Trong quan hệ
với IMF cũng nh với WB, Việt Nam đã luôn giữ quan hệ hợp tác và đấu
tranh. Bởi lẽ trên thực tế WB và IMF chịu sự chi phối của Mỹ, vì vậy trong
những thoả thuận luôn ẩn chứa ý đồ của nớc ngoài. Đây là lĩnh vực hợp tác
16
đòi hỏi sự nhạy bén và linh hoạt của Việt Nam để vừa đạt đợc hiệu quả kinh
tế mà lại đảm bảo đợc chủ quyền an ninh quốc gia.
10. Triển vọng mới trong việc phát triển kinh tế đối ngoại
Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã tích luỹ đợc một số kinh
nghiệm cũng nh những thành tựu hữu ích cho công cuộc phát triển kinh tế ở
những giai đoạn tiếp theo. Có thể nói, bớc vào kế hoạch 5 năm 1996- 2000,
Việt Nam thực sự có thể đẩy nhanh sự nghiệp phát triển đất nớc.Với chính
sách ngoại giao Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc hoạt động đối
ngoại của nớc ta ngày càng đa dạng và đang đi vào chiều sâu ( quan hệ ngoại
giao với hơn 160 nớc ở mọi châu lục, ký gần 600 hiệp nghị các loại). Vững
xuất khẩu qua chế biến , giảm tỉ trọng xuất khẩu nguyên liệu và hàng sơ chế.
17
-Nhập khẩu chủ yếu tập trung vào nguyên , vật liệu , cacccs loại thiết
bị công nghệ . từng bớc thay thế nhập khẩu những hàng trong nớc sản xuất
có hiệu quả . Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hàng năm 24% .
-thu hút và sử dụng có hiệu quả khoảng 7 tỉ USD từ nguồn tài trợ phát
triển chíh thức và 13 15 tỉ USD từ nguồn đầu t trực tiếp nớc ngoài .
-Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế .
II. Vấn đề giải pháp
1. Nhiệm vụ của kinh tế đối ngoại.
Thực hiện nghị quyết đại hội VIII. Mở rộng và năng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại nhằm góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 1996 2000 và
chuẩn bị cho sự phát triển vào đầu thế kỷ XXI theo các nguyên tắc độc lập tự
chủ, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi; kết hợp chặt chẽ kinh tế đối ngoại,
quốc phòng, an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Phát triển kinh tế đối ngoại theo định hớng xã hội chủ nghĩa, tăng sức
cạnh tranh trên trờng quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển lực lợng sản xuất
vad xây dựng quan hệ sản xuất mới; tranh thủ ngày càng nhiều vốn đầu t,
công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ nớc ngoài và từng bớc
đầu t ra nớcc ngoài góp phần tích cực làm biến đổi cơ cấu kinh tế và phân
công lao động trong nớc, mở rộng hợp tác quốc tế.
Đa phơng hoá, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại nhng có
trọng tâm, trọng điểm, khái thác li thế so sánh của ta và tận dụng xu thế phát
triển của thế giớo và khu vực, tạo đợc nhiều thị trờng ổn định, chú trọng
những thị trơừng lớn.
Khai thác các tiền năng, phát huy các nguồn lực bên trong của cả nớc
cũng nh mỗi đại phơng, nghành, đơn vị để phát triển kinh tế đối ngoại một
cách đồng bộ , hớng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời coi trọng đúng mức thị
trực tiếp của nớc ngoài (FDI); vốn đàu t gián tiếp ( bằng việc phát hành cổ
phiếu, trái phiếu của các công ty, của chính phủ bán cho ngời nớc ngoài ),
qua khai thác nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ (NGO) và tín dụng u đãi của các nớc, các tổ chức tài
chính quốc tế (IMF, WB, ADB).
Hai là nguồn lực về khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Là n-
ớc kinh tế kém phát triển, trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam lạc hậu
hơn trình độ trung bình của thế giới từ 10-20 năm. Đây là nguyên nhân cơ
bản làm cho nhiều sản phẩm hàng hoá của Việt Nam chất lợng thấp, giá
thành cao, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Chỉ có tranh thủ các thành tựu
khoa học công nghệ mới, tiên tiến từ bên ngoài và kinh nghiệm quản lý đi
kèm với nó, kết hợp vừa phát triển tuần tự, vừa nhảy vọt, đi tắt, đón đầu, đi
thẳng vào công nghệ hiện đại ở một số khâu, một số lĩnh vực có khả năng và
điều kiện thì chúnh ta mới có thể phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách với
các nớc kinh tế phát triển. Việc tiếp thu khoa học công nghệ, kinh nghiệm
quản ký của nớc ngoài có thể thực hiện thông qua nhiều con đờng nh: thông
qua các hoạt động đầu t trực tiếp của nớc ngoài ( các công ty có vốn đầu t n-
ớc ngoài nhập khẩu máy móc thiết bị, sử dụng các công nghệ sản xuất và các
phơng pháp quản lý tiên tiến để sản xuất kinh doanh ở nớc ta); thông qua
việc cho phép các công ty nớc ngoài tham gia đấu thầu, thực hiện các dự án
hoặc làm t vấn cho các dự án xây dựng trong nớc; thông qua việc nhập khẩu
máy móc, thiết bị, các dây truyền công nghệ bằng các nguồn vốn vay và viên
trợ của nớc ngoài bằng các hợp đồng mua công nghệ, truyển giao công nghệ,
hợp tác đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý sản xuất kinh doanh
Ba là mở rộng thị trờng xuất khẩu. Để phát triển các nớc kém phát
triển phải phá vỡ đợc cái vòng luẩn quẩn: do kinh tế kém phát triển nên
thu nhập và tiêu dùng của ngời dân thấp, làm chothị trờng tiêu thụ nhỏ hẹp,
19
khả năng tiêu thụ sản phẩm thấp, điều này là yếu tố cản trở sự phát triển kinh
tế. Việc thâm nhập đợc vào thị trờng nớc ngoài sẽ là điểm đột phá để phá vỡ
môi trờng, giữ vững ổn đinh chính trị xã hội, bảo đảm quốc phòng an
ninh. Cơ sở của sự phát triển bền vững là phát huy cao độ nọi lực, là hiệu quả
kinh tế cao, có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội tiến bộ, phù hợp với
tiềm năng, lợi thế của đất nớc trong điều kiện cách mạng khoa hoc công
nghệ hiện đại, trong sự phâ công và hợp tác kinh tế quốc tế; phải có sự phân
phối hợp lý những thành quả của sự phát triển kinh tế cho các tầng lớp, các
đối tợng xã hội năng cao mức sống cảu nhân dân, phải bảo vệ môi trờng và
hệ sinh thái, môi trừng sống của con ngời. Chỉ có trên cơ sở là phát huy cao
độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế thì nền kinh tế nớc ta mới có thể vừa phát triển nhanh vừa
bảo đảm hiệu quả và bền vững.
20
3. Chính sách kinh tế đối ngoại của nớc ta trong việc mở rộngvà nâng
cao hiệu quả kinh tế đối ngoại .
3.1.Về nguyên tắc :
Để mở rộng kinh tế đối ngoại có hiệu quả cần quán triệt những nguyên
tắc phản ánh những thông lệ quốc tế ,đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng
về kinh tế ,chính trị của đất nớc .Những nguyên tắc đó là :
3.1.1.Bình đẳng
Đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng làm nền tảng cho việc
thiết lập và lựa chọn đối tác trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nớc
.Nguyên tắc bình đẳng này xuất phát từ yêu cầu phải coi mỗi quốc gia trong
cộng đồng quốc tế là một quốc gia đôc lập có chủ quyền .Nó cũng bắt nguồn
từ yêu cầu của sự hình thành và phát triển của thị trờng quốc tế mà mỗi quốc
gia là thành viên.Với t cách là thành viên ,mỗi quốc gia phải đợc đảm bảo
có quền tự do kinh doanh,quyền tự chủ nh mọi quốc gia khác .Nói cách khác
,đảm bảo t cách pháp nhân của mỗi quốc gia trớc luật pháp quốc tế và cộng
đồng quốc tế .Kiên trì đấu tranh để thực hiện nguyên tắc này là nhiệm vụ
chung của mọi quốc gia nhất là các nớc đang phát triển khi thực hiện mở cửa
và hội nhập ở thế bất lợi so với các nớc phát triển .
nghĩa đã chọn :
Đây là nguyên tắc vừa mang thính chất chung cho tất cả các nớc khi
thiết lập và thực hiện quan hệ đối ngoại ,vừa là nguyên tắc có tính đặc thù
đối với các nớc xã hội chủ nghĩa ,trong đó có nớc ta.Trong quan hệ kinh tế
quốc tế giữa các nớc với nhau không đơn thuần phải xử lý tốt mối quan hệ về
lợi ích kinh tế ,mà còn phải xử lý tốt mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi
ích chính trị .Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là để tạo ra sự tăng tr ởng
kinh tế cao và bền vững .Nhng tăng trởng kinh tế phải đi đôi với việc thực
hiện từng bớc những đặc trng của chủ nghĩa xã hội .Do vậy mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại phải chủ động đảm bảo sao cho vừa khai thác đợc nhiều
nguồn lực bên ngoài ,vừa phát huy đợc nguồn lực bên trong ,bảo đảm phát
triển kinh tế ,trả đợc nợ ,phụ thuộc nhng không lệ thuộc nớc ngoài và xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội .
Bốn nguyên tắc nói trên có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều có
tác dụng chi phối hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các nớc trong đó có nớc
ta .Vì vậy ,không đợc xem nhẹ nguyên tắc nào khi thiết lập,duy trì và mở
rộng kinh tế đối ngoại .
4. Về quan điểm
1 Mở cửa nền kinh tế
Để phát triển mạnh mẽ các quan hệ kinh tế đối ngoại phải thực hiện
quan điểm mở cửa nèn kinh tế , có nghĩa là phải có các chính sách và luật
pháp có sức hấp dẫn mạnh mẽ và tạo ra các điều kiện thuận lợi nhất về môi
trờng kinh doanh, về điều kiện u đãi, cải tiến hoạt động của các khâu có liên
quan nh thủ tục xuất nhập cảnh, hải quan, ăn ở đi lại của ngời nớc ngoài,
khuyến khích và tạo điều kiện cho ngời Việt Nam đi ra nớc ngoài tiếp xúc thị
trờng, làm ăn sinh sống, lao động làm thuê, học tập dới nhiều hình thức.
Mở cửa về thông tin, trao đổi thông tin trong và ngoài nớc về tình hình
kinh tế xã hội, văn hoá khoa học công nghệ, trên mọi hình thức sách báo,
phát thanh truyền hình. Phát triển liên lạc viễn thông trong nớc và quốc tế.
Những điều đó góp phần nâng cao dân trí và tạo môi trờng hiểu biết lẫn nhau
ngoại .
5.Quan điểm về cơ cấu :đa dạng hoá
Cơ cấu kinh tế nớc ta từ nay không những hớng vào đáp ứng các nhu
cầu cơ bản về đời sống nhân dân mà còn phải gắn với phân công lao động
quốc tế,gắn với nhu cầu của thị trờng quốc tế.Cơ cấu kinh tế hợp lí là điều
kiện cơ sở để bảo đảm hiệu quả của nền kinh tế quốc dân nói chung và của
nền kinh tế đối ngoại nói riêng,hình thành cơ cấu kinh tế đối ngoại tiên
tiến.Để phát triển kinh tế đối ngoại cần thiết phải bố trí lại cơ cấu nền kinh
tế theo hớng u tiên phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu,xây dựng
kết cấu hạ tầng,du lịch quốc tế ,làm cho hàng hoá và dịch vụ của ta ngày
càng nâng cao chất lợng,có sức hấp dẫn và cạnh tranh trên thị trờng thế
giới .Cơ cấu kinh tế đối ngoại hiện nay gồm có ba bộ phận:xuất khẩu hàng
hoá,hợp tác kinh tế và xuất khẩu dịch vụ .
6. Quan điểm về thị trờng :đa phơng hoá theo phơng châm từ gần đến
xa,từ khu vực ra thế giới .
Trong tình hình mới cần khai thác cáclợi thế về vận tải,vốn kĩ thuật và
hoàn cảnh,phong tục tập quán giống ta của thị trờngkhu vực châu á Thái
Bình Dơng. Mở rộng buôn bán và tích cực thu hút vốn đầu t và khách du lịch
23
từ các nớc trong khu vực, trớc hết là Liên Xô, Nhật Bản, ôtrâylia và các nớc
công nghiệp mới châu á, ấn độ.
Tổ chức tốt và phát triển mậu dịch biên giới và giao lu hàng hoá với
Trung Quốc, Lào, Campuchia và Thái Lan.
Tìm kiếm những thị trờng mới, xuất khẩu lao động và hàng hoá, chú
ý Tây Âu, Châu Đại Dơng, Tây á và Nhật Bản.
Gia nhập rộng rãi các tổ chức quốc tế và các hiệp hội kinh tế. Thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của nớc ta trong các tổ chức
đó.
7. Quan điểm về nhà nớc độc quyền ngoại thơng.
Nhà nớc quản lý thống nhất mọi hoạt động kinh tế đối ngoại bao gồm
sống nhân dân.
24
6. Phơng hớng phát triển kinh tế đối ngoại:
6.1. Xuất nhập khẩu
Xuất khẩu là hớng chiến lợc trọng điểm của kinh tế đối ngoại nhằm
tăng tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân 28%/năm. Hớng phát triển chủ
yếu của lĩnh vực này là:
Đầu t đổi mới công nghệ đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm truyền
thống
Đẩy mạnh xuất khẩu các dịch vụ kỹ thuật kể cả xuất khẩu chất xám và
lao động có kỹ thuật
Củng cố thị trờng đã có, nhất là các thị trờng lớn và quan trọng, từng
bớc khôi phục thị trờng truyền thống, đẩy mạnh việc xâm nhập thị trờng và
tìm kiếm bạn hàng mới
Yêu tiên nhập khẩu vật t, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo công ăn việc làm và đẩy mạnh xuất khẩu.
Hạn chế giảm dần tỷ trọng nhập hàng tiêu dùng, chỉ nhập những hàng
hoá thiết yếu trong nớc cha sản xuất đợc hoặc sản xuất cha đủ đáp ứng nhu
cầu.
6.2. Thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài " FDI"
Khẩn trơng hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để
tăng nhanh thu hút vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài trong thời gian tới. Có
cơ chế chính sách phù hợp để hớng nguồn vốn đầu t này cho các chơng trình,
dự án phát triển trong lĩnh vực u tiên: dự án về nông nghiệp và chế biến sản
phẩm nông nghiệp, trồng dừng, xây dựng các vùng nguyên liệu ở các tỉnh
Trung Du miền núi, Tây nguyên, Duyên hải miên trung và Miền tây nam Bộ,
các dự án đầu t cho công nghiệp nguyên liệu, cơ khí, điện tử, tin học, năng
lợng, các dự án thu hút nhiều lao động hoặc dự án có công nghệ kỹ thuật tiên
tiến, các xí nghiệp trong các khu công nghiệp, các dự án có ý nghĩa quan
trọng trong việc góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.