Chuyên đề thực tập
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
o0o
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề: “Một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập” của em được thực hiện nghiêm túc dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Thị
Tuyết Mai và GV. Nguyễn Bích Ngọc, cùng với việc tham khảo các sách báo và
tài liệu trên Internet… và nhiều tài liệu liên quan đến đề tài. Số liệu dẫn chứng
trong chuyên đề được lấy từ các báo cáo tài liệu chính thức của Hiệp hội Doanh
nghiệp Điện tử không sửa chữa.
Em xin cam đoan chuyên đề được thực hiện mà không có sự sao chép từ tài
liệu nào khác.
Nếu sai phạm, em xin chịu mọi hình thức kỉ luật của Khoa và nhà trường.
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Trung Đức
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 1
Chuyên đề thực tập
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Kinh tế
Quốc dân đã trang bị cho em những kiến thức, kỹ năng trong suốt 4 năm học để
em có thể hoàn thành chuyên đề: “Một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Ngô Thị Tuyết Mai và GV. Nguyễn Bích
Ngọc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện chuyên đề
này.
Em cũng xin cảm ơn tới Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử đã giúp
đỡ em trong thời gian thực tập tại cơ quan, tạo điều kiện cho em hoàn thành
chuyên đề này.
INKE Mạng lưới toàn cầu các doanh nghiệp Hàn Quốc
KEA Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Hàn Quốc
KOVA Hiệp hội các doanh nghiệp Hàn Quốc
LEFASO
Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam
OEM
sản xuất hàng gia công theo thiết kế và thương hiệu của người
mua
SKD
Nhập bán linh kiện
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TP HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
USD
đô la Mỹ
VEIA
Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam
WEF
Diễn đàn kinh tế châu Âu
XNK
Xuất nhập khẩu
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 5
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP ĐIỆN
TỬ VIỆT NAM
1.1. SỰ RA ĐỜI VÀ VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI
1.1.1. Sự ra đời của Hiệp hội
Trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20, khi đất nước đẩy mạnh quá
trình đổi mới và hội nhập với khu vực và thế giới và nhất là sau khi Mỹ dỡ bỏ
Hiệp hội thông qua các hoạt động đã được trù bị. Sau hơn 2 năm làm việc trong
điều kiện khó khan về cơ sở vật chất và phải tìm kiến phương thức làm việc cho
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 6
Chuyên đề thực tập
phù hợp tình hình thực tế Việt Nam, Hiệp hội đã đạt được một số kết quả đáng
ghi nhận.
Từ 1997-nay, sau 15 năm xây dựng và phát triển, Hiệp hội đã có những
bước tiến lớn. Từ 40 thành viên lúc đầu nay đã có 145 thành viên và vẫn tiếp tục
phát triển. Trụ sở cũng đã được mở rộng vào phía Nam tại TP HCM, văn phòng
miền Trung tại Đà Nẵng.
1.1.2. Khái niệm và vai trò của Hiệp hội
Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (Vietnam
Electronics Industries Asociation - VEIA) là một tổ chức toàn
quốc của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
trong lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin và viễn thông ở
Việt Nam. Hiệp hội là một tổ chức phi chính phủ và không lợi nhuận được thành
lập ngày 02/6/2000 theo Quyết định số 38/2000/QĐ-BTCCBCP của Ban Tổ
chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ). Logo của Hiệp hội được thể hiện
trong Hình 1.1
Nhiệm vụ của Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam là tập hợp các
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực điện tử, công nghệ
thông tin và viễn thông trong một tổ chức vững mạnh và gắn kết để phát triển
nền công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin và viễn thông trở thành một ngành
công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân. Hiệp hội đại diện cho toàn
ngành công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin và viễn thông trước Chính phủ
và các cơ quan nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên và thúc đẩy
hợp tác với các nhà sản xuất và kinh doanh nước ngoài. Hiệp hội thực hiện các
nhiệm vụ của mình thông qua các hoạt động rộng rãi trong các lĩnh vực điện tử,
công nghệ thông tin và viễn thông.
Tất cả các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong
triển lãm và cung cấp dịch vụ đào tạo nâng cao trình độ nghề nghiệp.
- Trợ giúp phát triển công nghệ:
Trợ giúp hoạt động nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực điện tử, công
nghệ thông tin và viễn thông, khuyến khích những sản phẩm mới ứng dụng công
nghệ cao.
- Đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa:
Tham gia và trợ giúp Chính phủ trong việc xây dựng tiêu chuẩn các sản
phẩm sản xuất trong nước theo các tiêu chuẩn quốc tế. Xác nhận các chứng chỉ
chất lượng và chính chỉ xuất xứ hàng hóa.
- Xúc tiến thương mại và hợp tác quốc tế:
Đẩy mạnh quan hệ với các Hiệp hội cùng ngành hàng nước ngoài thông
qua việc tổ chức và tham gia các hội nghị quốc tế và những sự kiện có liên quan.
Phối hợp với các tổ chức nước ngoài trong các hoạt động trao đổi thông tin,
cung cấp trợ giúp kỹ thuật và trao đội các đoàn tham quan học hỏi về công nghệ
và thương mại. Tổ chức các cuộc tham quan và làm việc cho các phái đoàn
thương mại và đầu tư, mở rộng xuất khấu các sản phẩm điện tử, công nghệ
thông tin và viễn thông của Việt Nam.
- Tăng cường hợp tác tương trợ giữa các hội viên:
Tạo điều kiện cho các hội viên gặp gỡ, thảo luận và trao đổi ý kiến về các
quan điểm và lợi ích chung, chia sẻ các thông tin có liên quan cho hội viên và
tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các hội viên trong không khí bè
bạn.
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 8
Chuyên đề thực tập
1.2. NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA HIỆP HỘI
Trong khuôn khổ hoạt động của mình, Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử
Việt Nam có các nhiệm vụ, quyền hạn sau, dựa trên “Điều lệ hoạt động của Hiệp
hội”:
- Đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các hội viên trong khuôn
khổ pháp luật Việt Nam.
nghiệm quản lý, xúc tiến thương mại; giúp đỡ, tạo điều kiện cho các
hội viên phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và phổ biến, áp dụng các
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 9
Chuyên đề thực tập
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh để mạng lại hiệu
quả cho doanh nghiệp.
- Tham gia các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho
ngành khi được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Tổ chức
và thành lập các trung tâm đào tạo, tư vấn và dịch vụ; triển khai các
hoạt động tư vấn, đào tạo, dịch vụ khoa học – công nghệ trong lĩnh
vực điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông và tự động hoá theo quy
định của pháp luật .
1.3. CƠ CẤU TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH VÀ NGUỒN LỰC CỦA HIỆP HỘI
1.3.1. Cơ cấu tổ chức điều hành
- Đại hội toàn thể:
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hiệp hội là Đại hội toàn thể tập hợp tất cả
các hội viên để thảo luận và quyết định các chính sách và các biện pháp quan
trọng liên quan đến các hoạt động của Hiệp hội. Đại hội toàn thể bốn năm họp
một lần và thực hiện những nhiệm vụ:
+ Thảo luận và thông qua báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Hiệp hội
báo cáo kiểm điểm nhiệm kỳ của Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra.
+ Xem xét và thông qua Báo cáo tài chính nhiệm kỳ trước và kế
hoạch tài chính nhiệm kỳ tới của Hiệp hội.
+ Thảo luận và quyết định phương hướng, chương trình hoạt động
của Hiệp hội nhiệm kỳ tới. Thảo luận và thông qua việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ
của Hiệp hội.
+ Quyết định số lượng uỷ viên Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra, bầu
cử Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra.
+ Thảo luận và thông qua Nghị quyết của Đại hội.
+ Giải quyết các công việc cấp bách khác của Hiệp hội.
Đại hội toàn thể bầu ra Ban Kiểm tra gồm một Ủy viên Ban Chấp hành
làm Trưởng Ban và một số thành viên khác không nằm trong Ban Chấp hành.
Ban Kiểm tra có các nhiệm vụ:
1. Giám sát các nguồn thu và chi tiêu tài chính của Hiệp hội;
2. Giám sát các hoạt động của Hiệp hội để Hiệp hội hoạt động theo đúng
chính sách của Đảng và Nhà nước và Điều lệ của Hiệp hội;
3. Kiến nghị với Hiệp hội những vấn đề cần chấn chỉnh trong các phiên
họp định kỳ hoặc bất thường của Hiệp hội hay Ban Chấp hành.
- Các Ban chuyên môn:
Các ban chuyên môn được thành lập trực thuộc Ban Chấp hành để giúp
Hiệp hội thực hiện các nhiệm vụ đối nội và đối ngoại trong các lĩnh vực liên
quan tới ngành nghề. Công việc của Ban chuyên môn, tư vấn và đề xuất những
vấn đề thuộc phạm vi chuyên môn theo yêu cầu của Ban Chấp hành và có nhiệm
vụ phác thảo và lập kế hoạch cho các hoạt động của Hiệp hội cũng như thực
hiện các kế hoạch đó.
- Văn phòng Hiệp hội:
Văn phòng Hiệp hội gồm nhiều phòng ban nhỏ bao gồm: Hành chính
quản trị, Tiểu ban quan hệ quốc tế, Tiểu ban tổ chức, Tiểu ban đào tạo, Các văn
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 11
ĐẠI HỘI TOÀN THỂ
BAN CHẤP HÀNH
CÁC BAN CHUYÊN
MÔN
BAN HỘI VIÊN
BAN THỊ TRƯỜNG -
XTTM
BAN CHÍNH SÁCH
VĂN PHÒNG HIỆP
HỘI
HÀNH CHÍNH QUẢN
Trụ sở
Văn phòng đại
điện
Nam Nữ Hội viên
chính thức
Hội viên
liên kết
1 tại Hà
Nội
1 tại Đà Nẵng
1 tại TP. HCM
20 10 131 14
Nguồn: Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam
Về điều kiện vật chất, Hiệp hội có cơ sở vật chất khá tốt. Văn phòng trụ
sở của Hiệp hội được tách ra từ văn phòng làm việc của Tổng công ty Điện tử -
tin học Việt Nam. Các trang thiết bị của văn phòng đều đầy đủ và phục vụ tốt
nhu cầu làm việc.
Về ngân sách Hiệp hội vàcơ cấu sử dụng quỹđược thể hiện như trong
Hình 1.3. Ngân sách của Hiệp hội chủ yếu đến từ nguồn quỹ xúc tiến thương
mại và hội phí từ hội viên. Ước tính trong năm 2011, ngân sách của toàn bộ
Hiệp hội khoảng 1 tỷ đồng. Nguồn ngân sách này chủ yếu được chi cho các hoạt
động xúc tiến thương mại (hơn 50%), còn lại là chi cho các hoạt động tổ chức
hội thảo (19%) và tiền lương cho cán bộ nhân viên.
Nguồn: ước tính từ số liệu báo cáo hoạt động của VEIA
Hình 1.: Cơ cấu ngân sách của Hiệp hội
1.4. CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA HIỆP HỘI
Nguyên tắc hoạt động của Hiệp hội tuân theo văn bản “Điều lệ hoạt động
của Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam” và pháp luật Nhà nước. Theo đó,
cách thức hoạt động, quyền và nghĩa vụ của Hiệp hội cũng như các Hội viên đều
được quy định rõ.
động của Hiệp hội, tích cực tham gia các hoạt động của Hiệp hội, và đảm nhận
những công việc được Hiệp hội phân công. Phải thường xuyên liên hệ với Hiệp
hội thông qua Ban Chấp hành Hiệp hội. Báo cáo đầy đủ, chính xác và kịp thời
các thông tin có liên quan theo yêu cầu của Ban Chấp hành. Đóng hội phí
thường niên đầy đủ và đúng hạn theo quy định của Hiệp hội.
1.4.2. Nguyên tắc biểu quyết.
Đại hội quyết nghị theo nguyên tắc biểu quyết đa số, ít nhất phải được 1/2
số đại biểu nhất trí. Đối với những vấn đề quan trọng như sửa đổi, bổ sung Điều
lệ, giải thể Hiệp hội, bầu cử Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra, các quyết nghị Đại
hội phải được ít nhất 2/3 số đại biểu tán thành.
1.4.3. Nguyên tắc về chế độ làm việc.
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hiệp hội và Thường vụ Ban Chấp hành làm
việc theo chế độ kiêm nhiệm. Tổng Thư ký làm việc theo chế độ chuyên trách.
Các Phó Tổng thư ký có thể làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm
nhiệm. Các cán bộ, nhân viên công tác tại Văn phòng Hiệp hội và các Văn
phòng đại diện làm việc và hưởng lương theo chế độ chuyên trách. Mức lương
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 14
Chuyên đề thực tập
của cán bộ chuyên trách do Thường vụ Ban Chấp hành đề nghị Chủ tịch Hiệp
hội quyết định.
1.4.4. Nguyên tắc khen thưởng, kỷ luật
Về khen thưởng, những cá nhân, tổ chức và hội viên có thành tích xuất
sắc trong việc thúc đẩy hợp tác, tương trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động của
Hiệp hội sẽ được Hiệp hội khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng ở cấp cao
hơn.
Về kỷ luật, mọi cá nhân, tổ chức thuộc Hiệp hội vi phạm Điều lệ Hiệp hội
hoặc làm phương hại đến danh dự, uy tín và lợi ích của Hiệp hội sẽ phải chịu
hình thức kỷ luật từ phê bình, khiển trách đến khai trừ ra khỏi Hiệp hội.
Các quy định cụ thể về quyền, thủ tục, tiêu chuẩn khen thưởng được Ban
Chấp hành Hiệp hội quyết định.
và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp. Tính đến nay, ở Việt Nam đã có
khoảng 400 hiệp hội doanh nghiệp và ngành nghề hoạt động. Hiện tại các ngành
nghề nằm trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu lớn sẽ được sự quan tâm nhiều
hơn của doanh nghiệp, điển hình là Hiệp hội Da – Giầy.
Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam (Vietnam Leather and Footwear
Association - LEFASO) được thành lập ngày 09/06/1990 là tổ chức liên kết kinh
tế - xãhội tự nguyện của các nhà sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học kỹ
thuật và dịch vụ Da Giầy thuộc mọi thành phần kinh tế đang hoạt động tại Việt
Nam. Mục tiêu của Hiệp hội là tổ chức các hoạt động liên kết kinh tế, phân công
và phối hợp thực hiện giữa các doanh nghiệp hội viên trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh, xuất nhập khẩu trong ngành Da Giầy nhằm khai thác tối đa tiềm
năng hiện có, nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế cho các doanh
nghiệp hội viên, tăng khả năng cạnh tranh của toàn ngành trên thị trường xuất
khẩu và có tiếng nói đại diện quyền lợi của các doanh nghiệp hội viên.
LEFASO có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp
trong ngành, không chỉ trong xây dựng định hướng, quy hoạch phát triển ngành
giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn chiến lược phát triển, Hiệp hội còn là cầu
nối hữu hiệu giữa các doanh nghiệp với Chính phủ trong phản biện chính sách,
đề xuất giải pháp, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, bảo vệ Hội viên trong các vụ kiện
tranh chấp thương mại. LEFASO có thể nói là một trong những Hiệp hội lâu đời
và có kinh nghiệm nhất tại Việt Nam. Cũng như các Hiệp hội doanh nghiệp
khác, LEFASO đã và đang thực hiện những chức năng hiệp hội của mình như:
đại diện quyền lợi doanh nghiệp; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng tổ chức
các diễn đàn, liên kết các doanh nghiệp hội viên… Trong quá trình hội nhập,
LEFASO đã vấp phải nhiều khó khăn, từ đó rút ra nhiều bài học quý giá mà các
Hiệp hội ngành hàng khác có thể học hỏi. Trong đó bài học về khả năng xây
dựng liên kết hỗ trợ để chống những vụ kiện bán phá giá giữa các doanh nghiệp
trong ngành Da – Giầy và trong Hiệp hội Da – Giầy là điều đáng lưu ý nhất.
Năm 2002, Việt Nam vướng phải vụ kiện bán phá giá giày và đế giày
không thấm nước tại Canada, sau quá trình điều tra và bảo vệ, toà Thương mại
Hàn Quốc (KEA) và hiệp hội các doanh nghiệp liên doanh Hàn Quốc (KOVA)
đã có 2 buổi hội chợ xúc tiến thương mại hợp tác với Việt Nam dưới dạng
“Business Meeting” thông qua sự phối hợp tổ chức của Hiệp hội doanh nghiệp
điện tử Việt Nam. Những hoạt động xúc tiến thương mại loại này rất được Hàn
Quốc chú trọng và thực hiện thường xuyên. Thông qua hoạt động này, các doanh
nghiệp Hàn đã thu được rất nhiều lợi ích và mở rộng quan hệ làm ăn với các đối
tác trên thế giới. Bảng 1.1 cho thấy điều đó. Đoàn Hàn Quốc gồm 9 doanh
nghiệp trong lĩnh vực vô tuyến, truyền thông đã đi làm việc tại Việt Nam, Thái
Lan trong năm 2012, và thu về 5 triệu USD từ hoạt động này. Các doanh nghiệp
Hàn Quốc tham gia trong chuyến đi chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với
số vốn từ 40.000 – 100.000 USD, lợi nhuận hàng năm từ 1 triệu – 4 triệu USD
2
.
Có thể thấy, doanh nghiệp Hàn Quốc rất dũng cảm, nhạy bén và biết nắm bắt cơ
hội, không chỉ có các doanh nghiệp lớn và nổi tiếng của Hàn Quốc mới vươn ra
toàn cầu mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tích cực tìm kiếm thị trường trên
thế giới. So sánh với Việt Nam, doanh nghiệp điện tử Việt Nam cũng đa phần là
vừa và nhỏ, với số vốn thành lập xung quanh 100.000 USD, số lượng nhân sự
doanh nghiệp cũng thuộc loại nhỏ, tuy nhiên, vẫn nhiều doanh nghiệp Việt Nam
giữ suy nghĩ làm ăn địa phương, sợ rủi ronên không tìm kiếm cơ hội làm ăn với
2Số liệu thống kê từ INKE
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 17
Chuyên đề thực tập
đối tác trên thế giới. Về phía Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử, việc khuyến khích
doanh nghiệp ra nước ngoài và tìm cơ hội cho doanh nghiệp, cao hơn là tự tạo ra
cơ hội để doanh nghiệp có thể ra nước ngoài và xúc tiến thương mại là một điều
nên làm. Mặc dù với điều kiện tài chính và nhân sự còn nhiều hạn chế nhưng
học hỏi những hoạt động xúc tiến thương mại như thế này của Hàn Quốc là một
điều nên cân nhắc và đưa vào thực hiện.
Bảng 1.: Kết quả thu được từ sự kiện Business Matching của doanh nghiệp Hàn
(5 triệu USD)
Nguồn: số liệu từ mạng lưới doanh nghiệp Hàn Quốc (INKE)
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 18
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦAHIỆP HỘI
DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH NGÀNH ĐIỆN TỬ
VIỆT NAM
2.1.1. Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp điện tử Việt
Nam 1975 – 2005
Ngành công nghiệp điện tử nước ta ra đời muộn hơn nhiều so với sự ra
đời của ngành công nghiệp điện tử thế giới. Khi những tiến bộ vượt bậc về công
nghệ thông tin đã ảnh hưởng lớn đến sản phẩm điện tử thì Việt Nam chỉ mới
tham gia vào giai đoạn đầu (gia công, lắp ráp) trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chính
điều này đã khiến cho ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam còn lạc hậu so
với các nước trong khu vực từ 10-20 năm. Tuy nhiên trải qua các giai đoạn đã có
những sự chuyển biến rõ rệt nhằm phát triển và định hướng để trở thành ngành
công nghiệp mũi nhọn trong quá trình hiện đại hóa đất nước. Có thể chia quá
trình hình thành và phát triển của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam ra làm 4
giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn trước năm 1975, khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ còn xâm
chiếm thì ngành công nghiệp điện tử ở miền Bắc gần như hoàn toàn không phát
triển. Trong suốt thời gian này nhiệm vụ của miền Bắc là tự cung tự cấp nhằm
phục vụ đời sống và đánh đuổi giặc ngoại xâm. Chỉ có khu vực miền Nam, thực
dân Pháp đã cho xây dựng nhiều công trình xây dựng, các nhà máy, xưởng cơ
khí lớn nhằm khai thác thuộc địa. Tính đến thời điểm năm 1957 – 1959 tư bản
nước ngoài đầu tư vào miền Nam với số vốn rầm rộ lên đến hơn 2 tỷ USD. Đến
thời điểm năm 1975, Sài Gòn đã sở hữu đến 38.000 sơ sở sản xuất công nghiệp,
thủ công nghiệp, trong đó có 766 công ti và 8.548 cơ sở sản xuất công nghiệp tư
nhân. Trong đó có các nhà máy sản xuất hàng điện tử với khả năng lắp ráp nhiều
sản xuất, có định hướng để đặt nền móng cho ngành công nghiệp điện tử
phát triển. Đặc biệt sảnphẩm nghe nhìn thương hiệu Viettronics của các xí
nghiệp thành viên đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng trong cả
nước.
- Đã đầu tư các dây chuyền sản xuất điện trở, tụ hóa, mạch in của Pháp, Ý,
Tiệp (cũ). Ngoài ra còn sản xuất được tụ xoay, chuyển mạch, chiếp áp
cung cấp cho các xí nghiệp trong nước và xuất khẩu sang các nước Xã hội
chủ nghĩa cũ.
Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới, từ năm 1986 đến 2005.
Giai đoạn này có những đặc điểm sau:
- Sử dụng chủ yếu là các công nghệ bán tự động và bước đầu ứng dụng
công nghệ dán bề mặt. Công nghiệp sản xuất linh, phụ kiện được triển
khai như chế tạo đèn hình, cuộn lái tia… công nghệ phụ trợ như công
nghệ ép các chi tiết và sản phẩm nhựa cũng đã đc hình thành phát triển để
phục vụ nội địa hóa các sản phẩm.
- Sản phẩm hàng điện tử tiêu dùng chiếm tỷ lệ khá cao (80%) trong cơ cấu
sản phẩm ngành điện tử tại Việt Nam; trong khi công nghiệp sản xuất phụ
tùng, linh kiện và công nghiệp phụ trợ lại phát triển chậm nên tỷ lệ nội địa
hóa cũng như giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp. Các doanh nghiệp
FDI như Sony, Panasonic, Toshiba, Samsung, JVC, cùng một số doanh
nghiệp Việt Nam như Viettronics Tân Bình, Viettronics Biên Hòa, Tiến
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 20
Chuyên đề thực tập
Đạt chủ yếu lắp ráp sản phẩm điện tử tiêu dùng và điện lạnh phục vụ thị
trường tiêu thụ nội địa.
4
- Ngày càng có nhiều tập đoàn điện tử, viễn thông nước ngoài quyết định
chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới. Khởi
đầu cho xu hướng này là các tập đoàn điện tử Nhật Bản, như Nidec,
Canon và Sanyo. Tiếp đến là các tập đoàn đến từ Mỹ, Hàn Quốc và Đài
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 21
Chuyên đề thực tập
2.1.2.1. Hoạt động sản xuất, lắp ráp và công nghệ
2.1.2.1.1. Tình hình sản xuất, lắp ráp
Xuất phát điểm của Công nghiệp điện tử Việt Nam là lắp ráp các thiết bị
điện tử gia dụng dưới dạng SKD (Semi Knocked Down - nhập một nửa linh
kiện), CKD (Complete Knocked Down - nhập tất cả các linh kiện), và IKD
(Incomplete Knocked Down - nhập một phần linh kiện) là chính. Ngoài ra,
chúng ta còn tiến hành sản xuất, chế tạo các thiết bị điện tử công nghiệp, các hệ
thống cân đo điện tử, điều khiển tự động, các thiết bị điện tử y tế và chuyên
dụng, tiếp đó là công đoạn lắp ráp máy vi tính, gia công xuất khẩu các bảng
mạch điện tử và thực hiện các dịch vụ khác. Tuy nhiên có một thực tế là hiện
nay cơ cấu của ngành thiên về hướng tiêu thụ hơn là sản xuất. Doanh nghiệp tập
trung nhiều ở lĩnh vực thương mại. Điều này có thể giải thích thông qua rào cản
gia nhập ngành, lĩnh vực sản xuất điện tử đòi hỏi vốn lớn và công nghệ nên các
Doanh nghiệp nhỏ khó có thể gia nhập vào lĩnh vực sản xuất mà tập trung ở lĩnh
vực phân phối lưu thông sản phẩm. Và cơ cấu của ngành chú trọng đầu tư sản
xuất thành phẩm hơn là linh phụ kiện và bán thành phẩm, chính điều này khiến
cho mức độ nhập khẩu của ngành tương đối cao.
Về cơ cấu sản xuất, công nghiệp điện tử Việt Nam có thể chia thành 5
nhóm chính như sau:
- Điện tử gia dụng: Đa số các doanh nghiệp điện tử chủ yếu tham gia vào
loại hình chế tác và lắp ráp đơn giản, dạng CKD chiếm tới 80%. Khoảng
70% tổng số tivi và radio, cassette bán trên thị trường nội địa là lắp ráp
trong nước, nhưng lại dùng linh kiện và các đầu vào khác của nước ngoài.
Đây là ngành có quy mô sản xuất lớn nhất, có sự tham gia của cả doanh
nghiệp Việt Nam xác định đây nhóm sản phẩm chủ lực, song lại là những
sản phẩm mà ta chậm hơn các nước trong khu vực từ 10-20 năm công
nghệ.
- Thiết bị thông tin: Chủ yếu là kinh doanh lắp ráp máy tính, thiết bị mạng
hơn 3.5 tỷ USD, và dự báo gia tăng đến 7,1 tỷ USD đến hết năm 2012.
Bảng 2.: Tổng sản lượng sản xuất toàn ngành điện tử 2006 - 2012
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 (dự
báo)
Tổng sản lượng
(triệu USD)
1770 2200 3000 3523 4451 5510 7181
Tỷ lệ sản lượng
(%GDP)
3 3 3 4 4,5 5 5,4
Nguồn: Vietnam Consumer Electronics Report Q4/2011 - BMI
Nguồn: Vietnam Consumer Electronics Report Q4/2011 - BMI
Hình 2.: Sản lượng sản xuất toàn ngành điện tử Việt Nam 2006 – 2012
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 23
Chuyên đề thực tập
2.1.2.1.2. Công nghệ sản xuất
Công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam đi chậm hơn so với khu
vực và thế giới từ 10-15 năm. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu lắp ráp sản phẩm
trên các dây chuyền có từ những năm của thập niên 90. Mặc dù trở lại đây doanh
nghiệp đã chú ý tới mua kỹ thuật, công nghệ từ nước ngoài song về mặt bằng
chung vẫn chậm hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Mẫu mã
tính năng sản phẩm sản xuất nội địa không đa dạng và phong phú nhiều chủng
loại như các mặt hàng nhập khẩu.
Công tác nghiên cứu phát triển sản phẩm của ngành này cũng được đánh
giá ở mức yếu kém. Tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ ở mức
0,2% - 0,3% doanh thu. Ngay cả doanh nghiệp lớn, tỷ lệ này cũng chỉ dao động
quanh con số 1%. Trong khi đó tại Ấn Độ, tỷ lệ đầu tư đạt 5%, Hàn Quốc 10%
và Trung Quốc 12%. Chính vì vậy giá trị gia tăng của sản phẩm điện tử Việt
Nam đạt mức thấp, chỉ từ 5-10% dẫn đến khả năng cạnh trang của sản phẩm
không cao.
Chuyên đề thực tập
mềm mỗi khi làm sản phẩm mới thay vì sử dụng phần mềm nước ngoài hoặc
mời chuyên gia. Công ty CMS đổi mới dây chuyền lắp ráp máy tính, nâng cấp
trang thiết bị kiểm tra chất lượng máy tính nên sản phẩm của công ty đang dẫn
đầu cả về số lượng và chất lượng máy tính thương hiệu Việt và cạnh tranh ngang
ngửa với nước ngoài. Công ty điện tử TQT (Nha Trang) do thường xuyên đổi
mới công nghệ nên đã sản xuất được các thiết bị điện tử chuyên dùng công nghệ
cao như mát phát hình 10kW, thiết bị truyền hình lưu động… chất lượng không
hề thua kém các sản phẩm của nước ngoài.
Trong quá trình hội nhập, muốn tồn tại và phát triển được thì ngành điện
tử Việt Nam cũng cần tham gia vào chuỗi giá trị của ngành điện tử toàn cầu. Tuy
nhiên để có thể tham gia được vào chuỗi giá trị của ngành điện tử thế giới cần
xác định vị trí hiện tại của ngành điện tử Việt Nam. Hiện nay trong chuỗi giá trị
toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam thường ở vị trí là gia công, lắp ráp là chủ yếu.
Doanh nghiệp điện tử Việt Nam thường là nhà sản xuất các sản phẩm gia công
xuất khẩu và cũng có một số các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu băng
thiết kế của doanh nghiệp. Nếu so sánh với khu vực, cụ thể là các nước ASEAN
5 (gồm Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines) ngành công
nghiệp điện tử Việt Nam mới đang ở cuối giai đoạn 1 (lắp ráp sản phẩm từ phụ
kiện nhập khẩu), đầu giai đoạn đầu tư sản xuất linh kiện phụ tùng phát triển
công nghiệp phụ trợ. Trong khi đó các nước ASEAN 5 đang phát triển ở giai
đoạn 3 (nghiên cứu thiết kế sản phẩm, đầu tư công nghệ cao, đẩy mạnh xuất
khẩu).
Từ Hình 2.3 có thể thấy, ngành điện tử Việt Nam (bao gồm cả các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) hiện đang đứng ở vị trí thấp nhất trong chuỗi
giá trị của ngành điện tử thế giới và có giá trị gia tăng rất khiêm tốn vì không chỉ
các doanh nghiệp Việt Nam đang dừng ở công đoạn lắp ráp, gia công, mà cả các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng dừng ở đó.
Sinh viên: Nguyễn Trung Đức Trang 25
Giátrị