phân tích và bình luận những ưu điểm và hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của wto - Pdf 24

MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU
II. NỘI DUNG
1. Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.
1.1. Cơ sở pháp lí
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp
1.3. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
1.4. Quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO
1.5. Quy định về đối xử đặc biệt đối với các nước thành viên là nước đang phát triển trong hệ
thống giải quyết tranh chấp của WTO
1.6. Các phương thức giải quyết tranh chấp khác
2. Ưu điểm và hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
2.1. Ưu điểm
2.2. Hạn chế
III. KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Một số cụm từ viết tắt:
DSB
:
Cơ quan giải quyết tranh chấp
DSU : Hiệp định về quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp
GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
I. MỞ ĐẦU
Một trong những thành tựu của vòng đàm phán Uruguay là sự phát triển của cơ chế giải quyết
tranh chấp của GATT/WTO. Từ chỗ chỉ là một cơ chế mang tính lỏng lẻo, thiếu độ tin cậy, đã
hình thành một cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả và có tính chuyên nghiệp
cao. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã thực sự góp phần vào quá trình điều chỉnh pháp
lý các hoạt động thương mại thế giới, tạo niềm tin cho các nước khi tham gia vào tự do hoá
thương mại. Mặc dầu vậy, cơ chế này chưa thể nói là hoàn thiện. Bài viết tập trung tìm hiểu ưu,
nhược điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp này trong thương mại quốc tế.

nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ (trả đũa). Tuy
nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải
quyết tranh chấp.
Ban hội thẩm (Panel): Ban này gồm 3 hoặc 5 thành viên có nhiệm vụ xem xét một vấn đề cụ thể
bị tranh chấp trên cơ sở các qui định WTO được quốc gia nguyên đơn viện dẫn. Kết quả công việc
của Ban hội thẩm là một báo cáo trình DSB thông qua, giúp DSB đưa ra các khuyến nghị đối với
các bên tranh chấp. Trên thực tế thì đây là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp mặc dù không
nắm quyền quyết định.
Cơ quan Phúc thẩm (AB): Cơ quan phúc thẩm, một toà án thường trực sẽ xem xét mọi kháng cáo.
Tòa án này bao gồm 7 thành viên, trong đó 3 người sẽ tham gia phúc thẩm trong mỗi vụ. Các
thành viên này được bổ nhiệm trong 4 năm và không được phép có quan hệ với bất kỳ chính phủ
nào. Phạm vi phúc thẩm chỉ giới hạn ở các vấn đề pháp lý được đề cập trong báo cáo của nhóm
chuyên gia, và ở các diễn giải pháp lý do nhóm chuyên gia đưa ra.
1.4. Quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO.
Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO thường trải qua các giai đoạn: tham vấn, hội thẩm, kháng
cáo và phúc thẩm, thi hành phán quyết. Tuy nhiên, không phải bất kì tranh chấp nào cũng đều phải
trải qua tất cả các giai đoạn này mà tùy thuộc vào nội dung tranh chấp, tính chất phức tạp của tranh
chấp thiện chí của các bên mà một tranh chấp có thể được giải quyết tại các giai đoạn khác nhau.
Cụ thể:
Khi có tranh chấp nảy sinh, nước khiếu nại cần nêu vấn đề với nước bị khiếu nại và đề nghị
tham vấn để tìm ra cách giải quyết. Đề nghị tham vấn phải được thông báo cho Cơ quan giải
2
quyết tranh chấp (DSB). Trong vòng 10 ngày, cơ quan bị khiếu kiện phải trả lời đề nghị tham
vấn và hai bên bắt đầu quá trình tham vấn trong khoảng thời gian không quá 30 ngày kể từ
ngày bên khiếu kiện nhận được đề nghị tham vấn. Nếu bên bị kiện không đáp ứng được thời
hạn trên hoặc kết thúc tham vấn, mà hai bên không thoả thuận được, thì bên khiếu kiện có thể
đề nghị DSB cho thành lập Ban Hội thẩm.
Ban Hội thẩm tiến hành các hoạt động xem xét, đánh giá, thẩm định một cách khách quan các
tài liệu đệ trình, cũng như những trình bày của các bên tại các cuộc họp, đồng thời dự thảo Báo
cáo mô tả để các bên đóng góp ý kiến. Báo cáo được tiếp tục hoàn chỉnh và các bên lại có cơ hội

thì các bên có thể đồng ý kéo dài thời hạn tham vấn thông thường. Nếu vào cuối giai đoạn tham
vấn, các bên không thể đồng ý kết thúc tham vấn thì Chủ tịch DSB có thể kéo dài thời hạn tham
vấn.
- Giai đoạn xét xử của Ban Hội thẩm: Căn cứ vào yêu cầu của nước thành viên đang phát triển,
Ban Hội thẩm phải có ít nhất một hội thẩm viên từ nước thành viên đang phát triển. Nếu bị đơn
là nước thành viên đang phát triển, Ban Hội thẩm phải giành đủ thời gian cần thiết để thành
viên này chuẩn bị và đệ trình lý lẽ bào chữa của mình.
- Trong thực thi các quyết định của DSB: DSB cho phép dành sự quan tâm đặc biệt đối với các
vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích của các nước thành viên đang phát triển.
3
- Hỗ trợ về mặt pháp lý: Ban Thư ký WTO có 1 chuyên gia chuyên trách và 2 tư vấn gia độc lập
làm việc bán chuyên trách để thực hiện việc tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho các nước thành viên
đang phát triển trên nguyên tắc tôn trọng tính trung lập, khách quan, đồng thời Ban Thư ký
cũng tiến hành việc tổ chức các khoá đào tạo đặc biệt về hệ thống giải quyết tranh chấp cho các
nước thành viên.
1.6. Các phương thức giải quyết tranh chấp khác
Điều 25 Thoả thuận DSU quy định các nước thành viên có thể giải quyết tranh chấp với nhau
thông qua trọng tài đối với những tranh chấp nếu các nước này thoả thuận nhất trí sử dụng cơ
chế này và chấp nhận tuân thủ quyết định của trọng tài.
Các nước cũng có thể sử dụng cơ chế trung gian hoặc hoà giải của một bên thứ ba. Riêng đối
với những tranh chấp mà một bên là nước kém phát triển nhất thì Tổng giám đốc có thể đứng
ra làm trung gian hoặc hoà giải.
Ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp chung ra, một số hiệp định thương mại đa biên của WTO
cũng quy định những cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt.
2. Ưu điểm và hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
2.1. Ưu điểm
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO như đã trình bày ở trên có một số ưu điểm lớn so với
phương thức giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế và có nhiều điểm tiến bộ hơn trong tương
quan với thủ tục giải quyết tranh chấp trong GATT, tiền thân của WTO.
Thứ nhất, việc giải quyết được tiến hành thận trọng, qua hai bước bởi các cơ quan trung lập

sẽ phải có ít nhất một chuyên gia đến từ một nước đang phát triển . Đồng thời, Ban hội thẩm,
trong quá trình xét xử, sẽ phải lưu tâm tới sự đối xử ưu đãi mà các nước đang phát triển được
hưởng trong các hiệp định của WTO. Trong quá trình giám sát thực thi các quyết định của
mình, Cơ quan giải quyết tranh chấp cũng phải xem xét tới những ảnh hưởng xấu có thể xảy ra
đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển.
Thứ sáu, việc WTO cho phép sự tham gia của bên thứ ba vào diễn biến vụ kiện được các nước
đang phát triển hoan nghênh. Theo quy định mới, những nước nhận thấy mình có những lợi ích
liên quan tới vấn đề tranh chấp giữa hai nước bất kỳ có thể yêu cầu tham gia vào quá trình giải
quyết tranh chấp với tư cách là bên thứ ba. Bên thứ ba được phép tiếp cận nội dung vụ tranh
chấp, đồng thời có thể đưa ra các quan điểm và lập luận của mình liên quan tới tranh chấp đó.
Đối với các nước đang phát triển, đây chính là những cơ hội tốt để họ làm quen với thủ tục giải
quyết tranh chấp của WTO và bày tỏ những quan điểm của mình về những vấn đề pháp lý gắn
với lợi ích của họ.
Như vậy, hệ thống giải quyết tranh chấp WTO là một hệ thống chặt chẽ và quan trọng đối với
việc giải quyết mâu thuẫn trong thương mại quốc tế và làm dịu đi những bất bình đẳng giữa
các quốc gia mạnh và yếu. Thay vì việc bên mạnh có đủ khả năng quyết định kết quả của các
mối quan hệ, mâu thuẫn như trước kia, với hệ thống giải quyết tranh chấp WTO, các tranh chấp
đã được giải quyết trên cơ sở các quy định pháp luật quốc tế. Nhờ cơ chế giải quyết tranh chấp
này, các thành viên WTO có thể đảm bảo rằng, các quyền của mình theo Hiệp định WTO được
thực hiện; thông qua đó hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán
trước. Khi một thành viên có sự không tuân thủ theo Hiệp định WTO, hệ thống giải quyết tranh
chấp sẽ đưa ra cách giải quyết bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay và nếu
thành viên thua kiện không chịu thi hành thì sẽ có thể bị trừng phạt thương mại.
2.2. Hạn chế
Qua thực tiễn áp dụng, cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO cũng đã bộc lộ một số nhược
điểm nhất định, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, như:
Thứ nhất, cơ chế đảm bảo thực thi các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp có nhiều
điểm bất cập. Cụ thể, khi một biện pháp của một nước bị đánh giá là trái với luật lệ của WTO,
nước này sẽ phải chấm dứt biện pháp này trong một thời hạn hợp lý, nếu không, hai phương án
sẽ được áp dụng: nước thua kiện phải tiến hành đàm phán về việc bù đắp thiệt hại cho nước

thẩm. Một số nước đã kiến nghị công khai quá trình giải quyết tranh chấp trong WTO, như cách
làm của một số cơ quan xét xử quốc tế khác như Toà án quốc tế La Hay, hay Toà án quốc tế về
luật biển.
Thứ tư, một xu hướng càng ngày càng dễ nhận thấy trong các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ
quan phúc thẩm, đó là các cơ quan này dẫn chiếu ngày càng nhiều tới các kết luận của mình
trong các vụ việc trước, hơn là các điều khoản của các hiệp định WTO. Như chúng ta đã biết,
nguồn chủ yếu của Luật quốc tế là Điều ước quốc tế, còn án lệ chỉ có giá trị đối với các bên
trong vụ tranh chấp và đối với bản thân vụ việc có liên quan mà thôi, bởi vậy, chúng chỉ có thể
được coi là nguồn bổ trợ. Thực tiễn đang cho thấy điều ngược lại và đây là một hướng phát
triển rất đáng ngại: các Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm (với số lượng chưa tới 10 người)
đang dần trở thành “những người làm ra luật lệ của WTO”, một trách nhiệm vốn thuộc về các
nước thành viên của WTO.
Thứ năm, cho đến nay, cơ quan giải quyết tranh chấp và Đại hội đồng trên thực tế là một cơ
quan, với cùng một thành phần, chỉ nhóm họp với các chức năng khác nhau. Như vậy, trên thực
tế, Đại hội đồng “vừa là người đá bóng, vừa là người thổi còi”. Nhiều quốc gia và tổ chức phi
chính phủ cũng đề nghị tách chức năng xét xử khỏi chức năng điều hành của WTO để đảm bảo
tính công minh và chuyên nghiệp của cơ quan giải quyết tranh chấp.
Thứ sáu, cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO có xu hướng thiên về các yếu tố kỹ thuật,
pháp lý đòi hỏi các bên tham gia phải có một đội ngũ chuyên gia kinh tế, pháp lý giàu kinh
nghiệm. Đối với các nước đang phát triển, đây thực sự là một thách thức không nhỏ. Kinh
nghiệm cho thấy các nước đang phát triển khi tham gia tố tụng giải quyết tranh chấp thương
mại trong khuôn khổ WTO đều phải thuê các luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý và chuyên môn
của nước ngoài với những mức chi phí mà không phải nước nào cũng chấp nhận được.
III. KẾT LUẬN
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã cơ bản khắc phục được các khiếm khuyết của cơ chế
cũ, nhưng quá trình vận hành của cơ chế mới bắt đầu bộc lộ một số nhược điểm cần được khắc
phục để cơ chế này ngày càng tối ưu, đáp ứng được yêu cầu giải quyết tranh chấp của hầu hết
các quốc gia thành viên, các quyền lợi pháp lí và kinh tế của họ khi giải quyết tranh chấp được
đảm bảo.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status