Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG
NAM Á (ASEAN) VÀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN
(AFTA) 4
1.1 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 4
1. 2. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) 7
1.2.1. Quá trình thành lập 7
1.2.2. Mục tiêu cơ bản 7
1.2.3. Cơ sở hình thành 7
1.2.4. Chương trình CEPT 8
1.2.5. Quá trình tham gia của Việt Nam 10
2. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP ASEAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM 11
2.1. Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu 11
2.1.1. Đối với hoạt động xuất khẩu 11
2.1.2. Đối với hoạt động nhập khẩu 13
2.2. Tác động đến hoạt động đầu tư 16
3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT
NAM KHI GIA NHẬP 21
3.1. Đánh giá chung 21
3.1.1. Những cơ hội 22
3.1.2. Những thách thức 23
3.2. Kiến nghị hoàn thiện hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động đầu
tư của Việt Nam sau khi gia nhập ASEAN 24
3.2.1. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành trong công tác
ASEAN 24
1
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
khẩu và hoạt động đầu tư của Việt Nam.”
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn, trình độ hiểu biết còn
hạn chế nên đề tài của chúng tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định,
rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của thầy cô và các bạn.
3
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
(ASEAN) VÀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN (AFTA)
1.1 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
1.1.1. Quá trình thành lập
ASEAN được thành lập vào ngày 8/8/1967 bằng sự kiện các Bộ trưởng
Ngoại giao các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan
ký Tuyên bố ASEAN tại toà nhà Bộ ngoại giao Thái Lan ở Bangkok, thường
được gọi là Tuyên bố Bangkok. Brunei Darussalam trở thành thành viên thứ sáu
sau khi gia nhập vào ngày 8 tháng 1 năm 1984. Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt
Nam trở thành thành viên thứ bảy. Lào và Myanmar gia nhập hai năm sau ngày
23 tháng 7 năm 1997. Campuchia đã dự định gia nhập cùng Lào và Myanmar,
nhưng bị trị hoãn vì cuộc tranh giành chính trị nội bộ. Nước này sau đó gia nhập
ngày 30 tháng 4 năm 1999, sau khi đã ổn định chính phủ. Cho đến nay, ASEAN
có 10 thành viên gồm các thành viên sáng lập và các nước Brunei, Việt Nam,
Lào, Campuchia và Mianma. Đây là Hiệp hội của tất cả các nước Đông Nam Á
theo đúng ý tưởng ban đầu của những người sáng tạo ra Hiệp hội.
ASEAN ra đời trong bối cảnh nội bộ từ các nước trong khu vực và thế
giới có nhiều biến động. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang diễn ra ác liệt và các
nước Đông Nam Á tham gia vào cuộc chiến. Đồng thời, các nước Đông Nam Á
phải xử lí nhiều vấn đề về chính trị, kinh tế trong từng nước và cả xung đột trong
quan hệ giữa các nước với nhau. Trước bối cảnh đó, ASEAN ra đời để đối phó
với những khó khăn bên trong và thách thức bên ngoài.
Qua hơn 4 thập kỉ, ASEAN đã có nhiều hoạt động hợp tác trên nhiều lĩnh
vực khác nhau. Các nước thành viên ASEAN đã đạt được nhiều kết quả trong
hợp tác chuyên ngành.
Các ban thư kí ASEAN gồm có Ban thư kí ASEAN quốc tế và Ban thư kí
ASEAN quốc gia.
Ngoài ra còn có các cơ chế hợp tác với nước thứ ba bao gồm Hội nghị sau
Bộ trưởng, cuộc họp của ASEAN với các bên đối thoại và ủy ban ASEAN
ở các nước thứ ba.
1.2.4. Nguyên tắc hoạt động
Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và
với bên ngoài.
Các nguyên tắc chính:
Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản
sắc dân tộc của tất cả các dân tộc.
Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình,
không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài.
5
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện.
Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực.
Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.
Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:
Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong các
lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là
một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên
nhất trí thông qua. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài,
nhưng bảo đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành
viên. Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp và hoạt động của
ASEAN .
Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN là
nguyên tắc bình đẳng. Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt. Thứ nhất, các nước
hợp tác vì hoà bình, ổn định, phát triển, phồn vinh, góp phần vào sự nghiệp hoà
bình và phát triển ở khu vực và trên thế giới
1. 2. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
1.2.1. Quá trình thành lập
Vào đầu những năm 1990 do môi trường chính trị, kinh tế trong khu vực
Đông Nam Á có những chuyển biến đáng kể khi chiến tranh lạnh kết thúc, vị trí của
các nước ASEAN đã được cải thiện, các cam kết quốc tế giữa Mĩ, Trung Quốc và
Nga đã được thay đổi. Để đối phó với những thách thức đó, Khu vực Mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA) đã ra đời.
Quyết định thành lập AFTA đã được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ 4, tổ chức vào tháng 1/1992 tại Singapore. Theo kế hoạch ban đầu,
AFTA được hoàn thành vào năm 2008 với mục đích cơ bản là “tăng cường khả
năng cạnh tranh của ASEAN như một cơ sở quốc tế nhằm cung cấp hàng hóa ra thị
trường thế giới”. Tuy nhiên, trước sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của các liên
kết kinh tế toàn cầu khác, cũng như do sự tiến bộ của chính các quốc gia ASEAN,
năm 1994, khối này quyết định đẩy nhanh thời hạn lên năm 2003.
1.2.2. Mục tiêu cơ bản
Tự do hóa thương mại
Thu hút đầu tư nước ngoài
Mở rộng quan hệ thương mại với các nước ngoài khu vực
Cả 3 mục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó mục tiêu thu
hút đầu tư là mục tiêu quan trọng nhất.
1.2.3. Cơ sở hình thành
Chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT- Common
Effective Preferential Tariffs).
7
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nước thành viên.
Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hóa.
Xóa bỏ những quy định hạn chế đối với hoạt động thương mại.
Tuy nhiên, Hội nghị các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) lần thứ 26
(9/1994) đã quyết định đưa nông sản chưa chế biến vào thực hiện Chương trình
CEPT với những quy định đặc biệt riêng về thời hạn bắt đầu và kết thúc cắt giảm
thuế, mức thuế suất bắt đầu và khi hoàn thành cắt giảm
Lộ trình cắt giảm thuế:
Để thực hiện Chương trình CEPT, các nước thành viên phân loại các sản
phẩm trong danh mục biểu thuế thành 4 danh mục:
• Danh mục loại trừ hoàn toàn.
• Danh mục các sản phẩm thực hiện cắt giảm thuế ngay (gọi tắt là
Danh mục cắt giảm)
• Danh mục loại trừ tạm thời
• Danh mục Nông sản chưa chế biến nhạy cảm (gọi tắt là Danh
mục nhạy cảm) và Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm
cao (gọi tắt là Danh mục nhạy cảm cao)
Cơ chế trao đổi :
Cơ chế trao đổi của các quốc gia trong Chương trình CEPT dựa trên nguyên
tắc có đi có lại. Để được hưởng các nhượng bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hóa
trong khu vực, một sản phẩm phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện là sản phẩm đó
phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu và
phải có mức thuế nhập khẩu bằng hoặc cao hơn 20%, sản phẩm đó phải có chương
trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua; sản phẩm đó là một sản phẩm của
AFTA tức là phải thỏa mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên
ASEAN (hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%. Theo công thức:
{[(Giá đầu vào nhập khẩu của các nước không phải là thành viên ASEAN) + (giá
đầu vào không xác định được xuất xứ)]/ Giá FOB} *100% <=60%
Giá đầu vào nhập khẩu là giá của các nguyên liệu, bộ phận, các sản phẩm
nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên của ASEAN. Đây là giá CIF tại
thời điểm nhập khẩu. Giá đầu vào không rõ xuất xứ là giá nguyên vật liệu, bộ phận,
các sản phẩm là đầu vào được xác định ban đầu trước khi đưa vào chế biến trên
lãnh thổ của nước xuất khẩu thành viên của ASEAN.
trong thời kì 2002-2006. Trong số đó, 65% đã ở mức thuế 0-5%.
10
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
2. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP ASEAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM
2.1. Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu
2.1.1. Đối với hoạt động xuất khẩu
Trước năm 1995, Việt Nam đã thực hiện cải cách kinh tế và có những bước
chuyển đáng kể trong nền kinh tế, tuy nhiên trong lĩnh vực xuất khẩu thành tựu đạt
được vẫn còn hạn chế.
Trước thực trạng này, để đưa đất nước hội nhập với toàn cầu thì Việt Nam đã
gia nhập vào nhiều hiệp hội trên thế giới., trong đó phải kể đến hiệp hội các nước
Đông Nam Á ASEAN. Việc gia nhập ASEAN đánh dấu bước đi quan trọng đầu
tiên trong hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ mọi cam kết và
trách nhiệm của một nước thành viên, chủ động đưa ra những sáng kiến nhằm thúc
đẩy hợp tác khu vực, hoàn thành nhiều trọng trách trước Hiệp hội. Việt Nam tiếp
tục mở rộng quan hệ nhiều mặt, trên nhiều tầng nấc trong khuôn khổ đa phương và
song phương, đóng góp thiết thực vào quá trình hợp tác liên kết ASEAN hướng tới
mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 với ba trụ cột chính trị - an
ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập vào ASEAN
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 200
0
200
1
200
2
200
3
Nam trong việc sử dụng giấy chứng nhận mẫu xuất xứ hàng hóa (ROO) về ưu đãi
thuế quan từ việc thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương, khu
vực, song phương và đơn phương. Nếu năm 2008, mới chỉ có 13% kim ngạch
xuất khẩu sang ASEAN được sử dụng ROO, đến năm 2010 đã nâng lên mức
25%.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang khu vực thị trường các
nước ASEAN trong năm 2011 đạt 13,58 tỷ USD, tăng 31,2% so với năm 2010 và
chiếm 27,1% trị giá hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang châu Á. Gạo và dầu thô
là 2 mặt hàng chính xuất khẩu sang ASEAN với kim ngạch là 2 tỷ USD, tăng
16,9% và 1,44 tỷ USD, giảm 8,6% so với năm 2010.
Bảng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Asean năm 2011
14 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2011
STT Mặt hàng/ Dịch vụ Kim ngạch
(tỷ USD)
Tăng (giảm) so
với năm 2010
(%)
Tỷ trọng trong
tổng kim ngạch
xuất khẩu
1 Dệt may 14 25,1 14,54
2 Dầu thô 7,2 45,9 7,48
3 Điện thoại 6,9 197,3 7,17
4 Giày, dép 6,5 27,3 6,75
5 Thủy sản 6,1 21,7 6,33
6 Điện tử, máy tính 4,2 16,9 4,36
7 Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ
tùng
4,1 34,5 4,26
8 Gỗ và sản phẩm gỗ 3,9 13,7 4,05
của Việt Nam, mà còn là thị trường sớm nhất mở cửa hội nhập. Chính vì vậy
trong khoảng thời gian 5 năm tới, doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội
này để đẩy mạnh hơn nữa hợp tác cả về thương mại, đầu tư, liên doanh sản xuất
nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước khu vực ASEAN.
2.1.2. Đối với hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia
khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng
hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn
13
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới
được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại
Việt Nam nhập từ ASEAN chủ yếu là nguyên vật liệu dùng cho sản xuất
và hàng công nghiệp như nhôm, hóa chất, hàng điện tử… hơn ½ tổng số nhóm
hàng thuế xuất nhập khẩu hiện thấp hơn 5%. Đó là những hàng hóa vật tư phục
vụ sản xuất và hàn tiêu dùng thiết yếu.
Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN khá lớn làm cho
nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam đối với thị trường này khá cao: Trị giá
xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nước ASEAN trong năm 2011 đạt 34,47
tỷ USD, tăng 28,8% so với năm 2010.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang khu vực thị trường này
trong trong năm 2011 đạt 13,58 tỷ USD, tăng 31,2% so với năm 2010 và chiếm
27,1% trị giá hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang châu Á. Gạo và dầu thô là 2 mặt
hàng chính xuất khẩu sang ASEAN với kim ngạch là 2 tỷ USD, tăng 16,9% và
1,44 tỷ USD, giảm 8,6% so với năm 2010.
Hàng hoá có xuất xứ ASEAN được nhập khẩu vào Việt Nam trong năm
nay là 20,91 tỷ USD, tăng 27,4% so với năm 2010. Các mặt hàng chính nhập
khẩu từ thị trường này là: xăng dầu các loại 4,95 tỷ USD, tăng 66,6%; máy vi
tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 1,38 tỷ USD, tăng 59,1%; chất dẻo nguyên
liệu 1,08 tỷ USD, tăng 20,5%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng1,04 tỷ
(XK-NK) (triệu USD)
-9.368 -5.221 -5.838 -7.330
Cán cân thương mại hàng hóa với tất cả
các nước trên thế giới (XK-NK) (triệu
USD)
-18.029 -12.853 -15.180 -10.000
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Thấy rằng cơ cấu sản xuất và cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam và một số
nước ASEAN không khác nhau nhiều lắm. có rất nhiều mặt hàng cùng sản xuất
có thể cạnh tranh nhau trên thị trường Việt Nam và thị trường ASEAN như các
loại nông sản chưa chế biến,xe máy, xe đạp… hiện tại sản xuất một số hàng của
Việt Nam còn thua kém sức cạnh tranh so với các nước trong khối bởi thua về
chất lượng, chủng loại và cả số lượng. Vì thế các nước này đang cố gắng chiếm
thị phần ở Việt Nam. Việc áp dụng CEPT là hiệp định về chương trình ưu đãi
thuế quan có hiệu lực chung cho Khu vực thương mại tự do AFTA, và là mức
thuế có hiệu lực dành ưu đãi cho ASEAN, được áp dụng cho các loại hàng hoá
có xuất xứ từ các quốc gia thành viên ASEAN (việc đặt thuế suất ưu đãi sẽ
khuyến khích hàng nhập khẩu gia tăng). Các mặt hàng trên đã có thuế suất dưới
5% trước khi thực hiện CEPT. Vì vậy, việc chúng ta tham gia AFTA không có
tác động trực tiếp tới việc gia tăng NK những mặt hàng này. Ngoài ra, một số
hàng NK có kim ngạch đáng kể ở Việt Nam như xăng dầu, xe máy cũng chưa
được đưa vào danh sách giảm thuế ngay nên trước mắt sẽ nằm ngoài phạm vi tác
động của AFTA.
Về lâu dài, Việt Nam chắc chắn phải đưa thêm những mặt hàng từ danh
mục loại trừ tạm thời có thuế suất trên 20% vào diện cắt giảm ngay, và loại trừ
dần các hàng rào phi thuế quan (nhất là những hạn chế về số lượng nhập khẩu).
Khi đó, nhập khẩu, nhất là những mặt hàng tiêu dùng từ các nước ASEAN vào
Việt Nam, sẽ tăng lên nếu những mặt hàng cùng loại sản xuất trong nước không
cạnh tranh lại được.
Việt Nam là thị trường có tiềm năng lớn về dung lượng, lại thuộc loại đòi
pháp hạn chế đầu tư của các nước Thành viên ASEAN.
- Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN.
- Hiệp định ASEAN năm 1987 về khuyến khích và bảo hộ đầu tư và Nghị
định thư năm 1996 bổ sung Hiệp định này.
16
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
- Hiệp định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và việc
thực hiện Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO).
- Hiệp định đầu tư ASEAN- Trung Quốc.
- Hiệp định đầu tư ASEAN - Hàn Quốc
- Mô hình cắt giảm/xóa bỏ các hạn chế đầu tư trong ASEAN.
- Khu vực Đầu tư ASEAN (sau đây gọi tắt là AIA).
- Tầm nhìn ASEAN xây dựng Khu vực Đầu tư ASEAN có tính cạnh tranh
với môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn và Tầm nhìn ASEAN năm
2020.
Ngoài ra nước ta còn thực hiện một số cam kết có liên quan tới hoạt động
đầu tư như: cam kết về sở hữu trí tuệ dựa trên Hiệp định TRIPS và các công ước
của WIPO, theo đó ta sẽ phải tôn trọng và thực hiện bảo hộ các quyền về bản
quyền tác giả, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, thiết kế, kểu dáng công
nghiệp, giống vật nuôi cây trồng; cam kết về công khai hoá với nội dung nước ta
phải công khai hoá các chính sách, luật lệ, quy định về chế độ thương mại, thủ
tục hành chính có liên quan và bảo đảm cho mọi người có thể tiếp cận một cách
thuận lợi và dễ dàng các thông tin đó.
Để thực hiện những hiệp định và cam kết này, Việt nam đã tiến hành xây
dựng hành lang pháp lý vững chắc với sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật như:
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987, luật Đầu tư 2005 cùng nhiều văn
bản hướng dẫn. Những hoạt động này đã đóng góp quan trọng vào những thành
tựu kinh tế xã hội to lớn của đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực thu hút đầu tư, và
đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam:
Thứ nhất, đối với hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài:
đầu tư 30 dự án với 247 triệu USD tổng vốn đầu tư; Indonesia có 14 dự án với
137 triệu USD tổng vốn đầu tư; Brunei có 37 dự án và 125 triệu USD tổng vốn
đầu tư; Indonesia 13 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư 130 triệu
USD; Brunei có 37 dự án với tổng vốn đầu tư 125 triệu USD.
Tuy nhiên lĩnh vực mà nhà đầu tư ASEAN tập trung vốn lại không đồng
đều, chủ yếu là công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Các nhà đầu tư Singapore có mặt
trong hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam, từ thăm dò, khai thác dầu khí, sản
xuất công nghiệp tới chế biến nông, lâm, hải sản nhưng tập trung nhiều nhất
trong lĩnh vực dịch vụ với 207 dự án và tổng vốn đầu tư là 5,5 tỷ USD, chiếm
60,7% tổng vốn đăng ký; tiếp theo là lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 230
dự án và tổng vốn đầu tư là 3,3 tỷ USD, chiếm 36,4% tổng vốn đăng ký; số còn
lại thuộc lĩnh vực nông - lâm - nghiệp chỉ có 37 dự án và 254 triệu USD vốn đầu
18
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
tư. Trong khi đó các dự án của Indonesia tập trung vào lĩnh vực công nghiệp với
11 dự án và 73,8 triệu USD (chiếm 56% tổng vốn đầu tư của Indonesia); 3 dự án
trong lĩnh vực dịch vụ với 63,7 triệu USD; không có dự án trong lĩnh vực nông
nghiệp. Brunei chủ yếu đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp với 31 dự án và 116
triệu USD vốn đầu tư (chiếm 92% tổng vốn đầu tư của Brunei), nông nghiệp và
dịch vụ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ với 5 dự án và 9,6 triệu USD trong lĩnh vực nông
nghiệp và 1 dự án với 120.000 USD trong lĩnh vực dịch vụ.
Việc các nhà đầu tư tăng cường đầu tư vào Việt Nam góp phần tạo thêm
việc làm và nâng cao năng lực, tay nghề cho người lao động, phù hợp với chiến
lược phát triển của nước ta. Các khu công nghiệp của ASEAN tại Việt Nam được
mở ra thu hút hàng trăm nghìn lao động như: Khu công nghiệp Việt Nam-
Singapore (Bình Dương), Khu công nghiệp Việt Nam-Thái Lan AMATA (Đồng
Nai), Khu công nghiệp Việt Nam-Malaysia (Khu chế xuất Đà Nẵng), Khu công
nghiệp Việt Nam-Malaysia (Nội Bài, Hà Nội). Bên cạnh đó nhiều chương trình
hợp tác, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cũng được triển khai như 12 chương
trình, dự án hoạt động trong khuôn khổ kế hoạch hành động Phát triển Nhân lực
Campuchia (53,7 triệu USD), 2 dự án thủy điện mà Công ty cổ phần Đầu tư Sài
Gòn (SGI) đầu tư là Nậm Ngum 4, công suất 200 MW và Nậm Sum (Lào) công
suất 280 MW có tổng đầu tư 800 triệu USD Mỹ; Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai
xây dựng trung tâm thương mại, căn hộ, văn phòng cho thuê; nhà máy chế biến
gỗ, trồng cây cao su; xây thủy điện, dự án mỏ sắt và đồng tại Lào với tổng vốn
đầu tư lên đến 260 triệu USD Mỹ…
Bên cạnh đó, gần đây các doanh nghiệp Việt Nam còn hướng đến các lĩnh
vực như hàng không, ngân hàng, bảo hiểm…Trong đó phải kể đến một số dự án
có số vốn đăng ký lớn như: Hợp đồng liên doanh thành lập Hãng hàng không
quốc gia Campuchia (Cambodia Angkor Air -CAA) vừa được ký kết giữa
Vietnam Airlines (VNA) và các đối tác Campuchia vào cuối tháng 7-2009 tại
Phnom Penh có vốn đầu tư lên đến 100 triệu đô la Mỹ mà Chính phủ Campuchia
góp 51% vốn, VNA góp 49% vốn; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV) đã chính thức công bố sự hiện diện thương mại đầu tư của mình với việc
hình thành các pháp nhân mới tại xứ sở chùa Tháp này.
Thống kê từ báo cáo của Tập đoàn, doanh nghiệp có nhiều dự án đầu tư ra
nước ngoài đứng đầu là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, với tổng vốn chuyển ra
nước ngoài khoảng 347 triệu USD; Thứ hai là Tập đoàn Viettel (185 triệu USD);
Thứ ba tập đoàn Cao su Việt Nam (134,6 triệu USD); Thứ tư tập đoàn Sông Đà
20
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
(161 triệu USD); Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai là 39 triệu USD và CTCP Đông
Dương xanh là 23,7 triệu USD.
Trong tương lai hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam được dự báo
là sẽ không ngừng phát triển và không chỉ hạn chế ở các nước đang phát triển mà
còn hướng vào các nước phát triển như Singapo, Thái Lan…
3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM
KHI GIA NHẬP
3.1. Đánh giá chung
Mặc dầu vậy, thể chế kinh tế, đặc biệt là chính sách quản lý thương mại
cũng đã phải cải cách khá mạnh. Đó là, loại bỏ cơ bản các biện pháp hạn
chế thương mại (bãi bỏ các hàng rào phi thuế quan đối với hầu hết các mặt
hàng, trừ một số ít các mặt hàng nông sản nhạy cảm) điều mà trước khi
thực hiện CPT/ATA Việt Nam còn duy trì nhiều biện pháp hạn chế.
Cắt giảm mạnh thuế quan theo lộ trình. Theo đó đại bộ phận số giòng thuế
được đưa về 0-5% vào năm 2006 và xuống 0% vào năm 2015.
Tạo ra thị trường lớn để thu hút đầu tư nước ngoài không chỉ thu hút đầu
tư từ các nước ASEAN, các đối tác của ASEAN mà còn thu hút đầu tư từ các
nước khác đặc biệt là khu vực Châu Âu và Hoa Kỳ. Kì khi đầu tư vào một thành
viên của ASEAN, các nhà đầu tư có thể bán sản phẩm của mình không chỉ trên
thị trường nội địa của nước đó mà còn bán tại thị trường 500 triệu dân của khu
vực ASEAN và hơn thế là thị trường xấp xỉ 3,5 tỷ, chiếm hơn 50% dân số thế
giới (gồm ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, hàn quốc, ÚC và
Newzealand) với mức thuế ngày càng được giảm thấp.
Đầu tư sẽ thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và
bảo đảm tăng trưởng. Đây là cơ hội lớn nhất mà Việt Nam cũng như các thành
viên ASEAN có được
Thị trường xuất khẩu được mở rộng sang các nước thành viên của hiệp
định với múc thuế được giảm thấp.
Hội nhập kinh tế, tạo cái cốt vật chất và lợi ích kinh tế để hội nhập trên
các lĩnh vực khác, nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, hình thành sự
22
Nhóm 11 Lớp Kinh tế quốc tế 1
tập hợp lực lượng mới, tranh thủ được sự ủng hộ để giải quyết những vấn đề
phức tạp với bên ngoài.
Có thể tiếp cận được những thị trường rộng lớn hơn với những ưu đãi
thương mại (giảm thuế quan và phi thuế, quy chế MFN, NT, GSP…) để tiêu thụ
sản phẩm, dịch vụ và cung ứng được nguồn nguyên,nhiên liệu, thiết bị với giá
cạnh tranh;
Nếu môi trường kinh doanh không có tính cạnh tranh cao, thể chế kinh tế
và thủ tục hành chính không tốt, cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân
lực không tốt. Tóm lại các yếu tố nội sinh không tốt, chúng ta sẽ không
tận dụng hết được cơ hội và thách thức sẽ rất lớn.
Nguy cơ phá sản hoặc chuyển đổi sản xuất kinh doanh do năng lực cạnh
tranh kém. Nhiều doanh nghiệp của ta phải đối mặt với thách thức nghiêm
trọng này, bởi vì phải cạnh tranh trong điều kiện rất khó khăn cả từ phía
bản thân các doanh nghiệp (quy mô nhỏ, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu,
quản lý kém, hàng hoá sản phẩm thiếu sức cạnh tranh…) lẫn từ phía nhà
nước (môi trường chính sách vĩ mô, hệ thống luật pháp, việc thực thi và
năng lực của đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập).
Phải chịu nhiều phí tổn hơn về giao dịch, tư vấn, tiếp thị, quảng cáo, đào
tạo…
Có nhiều rủi ro khi hoạt động trên thị trường nước ngoài, nhất là trong
điều kiện không hiểu rõ chính sách, luật lệ, thủ tục và cách thức làm ăn tại
thị trường đó và các đối tác nước ngoài (khả năng bị lừa đảo, xử bất lợi
trong các vụ tranh chấp…).
3.2. Kiến nghị hoàn thiện hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động đầu tư của
Việt Nam sau khi gia nhập ASEAN
3.2.1. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành trong công tác ASEAN
Để công tác ASEAN vận hành tốt đòi hỏi sự tham gia phối hợp chặt chẽ
giữa các Bộ, ngành với nhau, giữa cơ quan quản lý nhà nước và các doanh
nghiệp. Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện và cải tiến cơ chế điều phối một cách
toàn diện thống nhất. Cần nghiên cứu để có phương án tham gia các hoạt động
ASEAN một cách bình đẳng chủ động, phù hợp với tình hình trong nước và xu
hướng chung của ASEAN.
Về mặt đối ngoại, chúng ta cần đóng góp một cách tích cực vào nỗ lực của
ASEAN trong việc xây dựng, duy trì môi trường hoà bình ổn định, hợp tác và
phát triển khu vực trên thế giới. Trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục quan
24
trọng tâm của công tác thông tin tuyên truyền về ASEAN là phải giúp các doanh
nghiệp trong nước có thông tin về tình hình kinh doanh, thị trường khu vực, phân
tích dự báo được những thăng trầm biến động để có biện pháp đề phòng khi tham
25