thực trạng và giái pháp phát triển nhập khẩu và phân phối dầu mỡ nhờn tại khu vực miền bắc việt nam của công ty cổ phần kho vận và dịch vụ thương mại - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới ngày nay, khi quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn và cường độ ngày càng tăng,
Việt Nam không đứng ngoài quá trình hội nhập mà nhanh chóng tham gia vào.
Là một nước mới tham gia vào quá trình toàn cầu hóa với nền kinh tế đang trên
đà phát triển mạnh mẽ, Việt Nam đã và đang tạo ra môi trường khá thuận lợi cho
sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước nói chung và các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực cung cấp, phân phối nhiên liệu nói riêng. Tuy nhiên,
nền kinh tế thế giới đang ở trong giai đoạn khó khăn đã gây ra nhiều bất lợi cho
các doanh nghiệp kinh doanh và phân phối các loại nhiên liệu. Nhiên liệu là sản
phẩm kén chọn người kinh doanh và thường có sự cạnh tranh gay gắt trong
ngành. Chính vì vậy, trong hoàn cảnh hiện nay, việc cung cấp và đưa sản phẩm
đến với khách hàng một cách hiệu quả, khiến khách hàng biết đến và ghi nhớ
sản phẩm và hình ảnh Công ty lại càng trở nên cấp thiết. Nói cách khác, đối với
ngành này, việc thiết lập hay hoàn thiện một hệ thống phân phối sản phẩm từ
nhà sản xuất nước ngoài đến người tiêu dùng đạt hiệu quả cao là một vấn đề cần
thiết mà các doanh nghiệp cần quan tâm.
Công ty cổ phần Kho vận và Dịch vụ thương mại (Vinatranco) là một
doanh nghiệp vừa với ngành nghề kinh doanh đa dạng, trong đó, sản phẩm dầu
mỡ nhờn là mặt hàng thế mạnh của Công ty với doanh thu hàng năm đóng góp
với tỷ trọng cao trong tổng doanh thu của Công ty. Để đạt được kết quả này,
Công ty đã chú trọng xây dựng và sử dụng khá hiệu quả chiến lược nhập khẩu
cũng như hệ thống phân phối sản phẩm của mình. Bởi vậy, câu hỏi được đặt ra
là: Hiện nay, Vinatranco đang thực hiện hệ thống nhập khẩu và phân phối dầu
mỡ nhờn của mình như nào? Liệu hệ thống đó đã thực sự giúp doanh nghiệp
khai thác tối đa được các thế mạnh và thích nghi kịp thời với sự thay đổi của
môi trường kinh doanh hay không?
Để trả lời cho các câu hỏi trên, em quyết định chọn đề tài chuyên đề thực
tập là: “Thực trạng và giái pháp phát triển nhập khẩu và phân phối dầu mỡ
nhờn tại khu vực miền Bắc Việt Nam của Công ty cổ phần Kho vận và Dịch

1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KHO VẬN VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, Công ty cổ phần Kho vận
và Dịch vụ Thương mại đã có những cột mốc như sau:
Công ty Cổ phần Kho vận và Dịch vụ thương mại (Vinatranco) tiền thân
là Cục kho vận, trực thuộc Bộ Thương mại được thành lập vào ngày 03/11/1979
theo quyết định số 73/NTQDD1 của Bộ Thương mại. Theo quyết định số
36/NQTĐ của Bộ Thương mại, ngày 05/05/1981, Công ty đổi tên thành Công ty
kho vận I. Sau đó, đến ngày 11/11/1985, Công ty tiếp tục đổi tên thành Tổng
Công ty kho vận theo quyết định số 212/NTQDD1 của Bộ Thương mại. Theo
quyết định số 109/TM-TCCB ngày 22/02/1995 của Bộ Thương mại, Công ty
được đổi tên thành Công ty Kho vận và Dịch vụ Thương mại.
Nhằm thực hiện chính sách đổi mới và cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước,
ngày 10/02/2004, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký quyết định số 013/QĐ-BTM
cho phép Công ty Kho vận và Dịch vụ Thương mại được tiến hành cổ phần hóa
và chuyển sang hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần. Bởi vậy, kể từ ngày
01/08/2005, Công ty chính thức có tên là: Công ty cổ phần Kho vận và Dịch vụ
Thương mại với:
• Tên giao dịch nước ngoài: Transport warehousing and Trade service
Joint Stock Company
• Tên viết tắt: Vinatranco
• Địa chỉ trụ sở chính: số 473, phố Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành
phố Hà Nội
• Số điện thoại: (+84-4)-3862 3566
• Fax: (+84-4)-3862 1214
• Email: [email protected]
• Website: vinatranco.com.vn
Hiện nay, Công ty có các đơn vị thành viên như sau:
1. Chi nhánh số 1 – Công ty cổ phần Kho vận và Dịch vụ Thương mại tại Hà
Nội

nhân cách, sức khỏe của trẻ em hoặc gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn
xã hội); nhập khẩu mỹ phẩm các loại (trừ các loại mỹ phẩm có hại cho sức khỏe
con người)
8. Đại lý bán bảo hiểm
9. Vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách bằng xe ô tô theo hợp đồng
10. Sản xuất kinh doanh phế liệu, sắt thép phế liệu, kim loại màu phế liệu,
giấy phế liệu, nhựa phế liệu.
Mặc dù vậy, trên thực tế, Công ty hiện nay chỉ hoạt động trong những lĩnh
vực sau:
1. Kinh doanh, đại lý ký gửi, xuất nhập khẩu và dịch vụ xuất nhập khẩu
ủy thác những mặt hàng: sắt thép, cao su tổng hợp, các sản phẩm săm lốp ô tô.
2. Vận tải, đại lý giao nhận vận tải trong nước và quốc tế, đại lý làm thủ
tục hải quan, vận tải quá cảnh, chuyển khẩu, môi giới tàu biển, dịch vụ cảng.
3. Kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ, dầu chuyên dụng, dầu hóa dẻo cao
su, hóa chất các loại.
4. Kinh doanh, thuê và cho thuê kho bãi, nhà xưởng, văn phòng (Công ty
hiện đang sở hữu hơn 60.000m2 kho bãi, là thành viên của Hiệp hội giao nhận
vận tải Việt Nam, VIFFAS, và Liên đoàn các hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế,
FIATA).
1.1.3. Tổ chức quản trị của Công ty
Là một công ty cổ phần từ năm 2005, Vinatranco hoạt động theo những
quy định của pháp luật và Nhà nước đối với công ty cổ phần. Công ty được đặt
dưới sự điều hành và kiểm soát của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, và
Ban kiểm soát. Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị cùng với Ban kiểm soát
đưa ra những phương hướng chiến lược cũng như các quyết định quan trọng có
liên quan đến công ty. Những công việc hàng ngày do tổng giám đốc, các giám
đốc và các thành viên hỗ trợ khác điều hành. Hiện nay mô hình tổ chức bộ máy
quản trị doanh nghiệp của Công ty là mô hình tổ chức theo địa bàn kinh doanh.
Công ty có các chi nhánh tại Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh, mỗi
chi nhánh được coi là một đơn vị kinh doanh chiến lược. Mô hình này rất phù

TC - HC
Trưởng
phòng
TC - KT
Trưởng phòng
KD
DM – DN -HC
Trưởng phỏng
GNVT
& KDTM
Trưởng
phòng
dự án
Chi
nhánh
Hải
Phòng I
Chi
nhánh
Hải
Phòng II
Chi
nhánh
số I
Hà Nội
Chi
nhánh
số II
Hà Nội
Chi

Ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã
tác động không nhỏ đến tình hình hoạt động kinh doanh của Vinatranco vào năm
2009. Diễn biến phức tạp của tỷ giá USD/VNĐ, tình hình lạm phát tăng cao, giá
đầu vào liên tục tăng, giá dầu mỏ diễn biến phức tạp… đã gây nhiều bất lợi cho
Công ty. Chi phí tài chính vẫn ở mức cao do tồn tại nhiều nợ quá hạn với ngân
hàng khi không tồn đọng nhiều mặt hàng. Bởi vậy, tuy tình hình kinh doanh của
Công ty đã có khởi sắc so với năm 2008 nhưng chưa rõ nét.
Đến năm 2010, do có những biện pháp phù hợp và kịp thời, Công ty đã
dần khắc phục được những khó khăn, vượt qua giai đoạn khủng hoảng và tổng
lợi nhuận trước thuế tiếp tục tăng trưởng so với thời kỳ trước khủng hoảng. Cụ
thể, sản lượng dầu nhờn và đầu công nghệ bắt đầu tăng cao trở lại, khối lượng
hàng trong hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải và ủy thác cũng tăng đáng kể.
Mảng kinh doanh dịch vụ thương mại sau thời gian ngưng trệ đã bắt đầu hoạt
động trở lại. Tương tự, mảng kinh doanh sắt thép đã có tiến triển, không còn
hiện tượng hàng tồn kho quá lớn cũng như phát sinh nợ quá hạn với ngân hàng.
Do đó, chi phí tài chính giảm nhiều so với năm 2009.
Năm 2011 là năm đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc trong tổng lợi nhuận
trước thuế của Công ty. Trong năm này, Công ty có nhiều thuận lợi trong hoạt
động kinh doanh như Đại hội cổ đông đạt được sự nhất trí cao trong các quyết
định về đường hướng hoạt động và việc đưa ra các chỉ tiêu kinh tế cơ bản cho
năm 2011, Ban lãnh đạo cũng như các cán bộ công nhân viên nẵm vững cách
thức hoạt động của Công ty… Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
tiếp tục tăng trưởng, đặc biệt có bước phát triển thuận lợi trong mối quan hệ với
các đối tác và khách hàng chiến lược, các tổ chức tín dụng. Do đó, tổng lợi
nhuận trước thuế của Vinatranco tăng cao và bằng 151,5% so với chỉ tiêu này
vào năm 210. Bên cạnh những thuận lợi trên, Công ty còn gặp nhiều khó khăn
như rắc rối về giấy tờ pháp lý về đất đai, cán bộ chủ chốt vẫn yếu và thiếu.
Nhìn chung, trong giai đoạn 2009 – 2011, doanh thu của Công ty tăng
trưởng dều đặn, không có nhiều biến động, trong đó, chiếm tỷ trọng lớn luôn là
doanh thu từ hoạt động thương mại và đặc biệt là doanh thu từ việc nhập khẩu

trong những năm qua, sự gia tăng về số lượng sản phẩm và về chủng loại Công
ty mua về và sự gia tăng cả về số lượng khách hàng cũng như quy mô đơn hàng.
Mặt khác, Vinatranco cũng tận dụng và khai thác sự hỗ trợ đắc lực của uy tin và
kinh nghiệm của Công ty trong các lĩnh vực kinh doanh khác như hậu cần vận
tải hay kho bãi để nâng cao và củng cố vị thế trên thị trường, tạo bàn đạp tối đa
cho hoạt động kinh doanh dầu mỡ nhờn. Rất nhiều khách hàng của mặt hàng dầu
nhờn được khai thác từ các khách hàng truyền thống của các lĩnh vực kinh
doanh kia. Đối chiếu với chiến lược kinh doanh tập trung vào nhóm hàng dầu
công nghiệp, dầu xe hơi và dầu chuyên dụng và kinh doanh thông qua đội ngũ
nhân viên của Công ty thì có thể thấy Vinatranco đã thành công tương đối, tên
tuổi cũng được định vị trong lòng những khách hàng mục tiêu. Hơn nữa,
Vinatranco còn là nhà phân phối uy tín cho tập đoàn dầu nhờn lớn nhất Thái Lan
– PTT.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, Công ty cũng còn nhiều
hạn chế trong hoạt động kinh doanh sản phẩm dầu mỡ nhờn. Do địa bàn hoạt
động chủ yếu là tại Hà Nội và một số tỉnh lân cận nên mức độ phổ biến là chưa
cao. Các khách hàng lớn chủ yếu tập trung tại Hà Nội, Hải Phòng và Hải Dương
nên mức độ thâm nhập thị trường tại các tỉnh khác đều còn ở mức thấp. Trong
khi với hơn 16 năm kinh doanh sản phẩm dầu mỡ nhờn, lẽ ra Công ty đã phải
đạt được mức độ bao phủ thị trường lớn hơn thế rất nhiều. Ngoài ra, Công ty
chưa tận dụng hết được các lợi thế của một trong hai nhà phân phối chiến lược
của một tập đoàn hàng đầu tại một thị trường tiềm năng và rộng như miền Bắc
Việt Nam để tạo thêm cho mình những lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Mặt
khác, Vinatranco cũng không phải là một doanh nghiệp có tiềm lực mạnh để có
thể tự mình làm được các chương trình xúc tiến có quy mô lớn, do đó, cái tên
Vinatranco chưa được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU VÀ PHÂN PHỐI
DẦU MỠ NHỜN TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN KHO VẬN VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI
2.1. TỔNG QUÁT CHUNG VỀ CÁC SẢN PHẨM DẦU MỠ NHỜN CỦA CÔNG TY

• Dung môi là nguyên liệu dùng để tảy rửa và pha chế các hóa chất, hay
được sử dụng trong các nhà máy sản xuất bao bì, mực in. Các khách hàng
thường xuyên của Vinatranco là Canon Việt Nam, Pentax Việt Nam, Sato Việt
Nam, Katolec Việt Nam, JKC – Vinatranco Hải Phòng, Nichias Hải Phòng,
Sankoh Hòa Bình…
• Các loại dầu mỡ nhờn khác
2.2. THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU DẦU MỠ NHỜN CỦA CÔNG TY
2.2.1. Thực trạng về quy mô nhập khẩu
Như trên đã khẳng định, hoạt động kinh doanh của Công ty luôn thu được
lợi nhuận qua các năm, trong đó hoạt động kinh doanh dầu mỡ nhờn đóng vai
trò quan trọng và mang lại nguồn thu cao và ổn định cho Công ty. Để có sản
phẩm để phân phối và tiêu thụ, Vinatranco nhập khẩu với các loại sản phẩm dầu
mỡ nhờn đã được nói ở trên, đi kèm với sự gia tăng về doanh thu là sự gia tăng
về quy mô nhập khẩu của các sản phẩm này.
2.2.1.1. Quy mô theo kim ngạch nhập khẩu
Kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm dầu mỡ nhờn của Công ty trong giai
đoạn 2007 – 2011 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2: Kim ngạch nhập khẩu dầu mỡ nhờn giai đoạn 2007 – 2011
(đơn vị: tỷ đồng)
2007 2008 2009 2010 2011
Giá trị 58,455 64,319 75,524 101,639 121,875
(Nguồn: Phòng kinh doanh dung môi dầu nhờn hóa chất Công ty Vinatranco)
Nhìn chung kim ngạch nhập khẩu dầu mỡ nhờn của Công ty đều tăng qua
các năm. Năm 2007, giá trị dầu mỡ nhờn nhập khẩu là 58,455 tỷ đồng. Tuy
nhiên, sang năm 2008, giá trị này là 64,319 tỷ đồng và chỉ tăng 5,864 tỷ đồng,
tương đương 10% so với năm 2007. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình
kinh tế của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Trong năm 2008, khủng
hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp,
khó lường và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình hoạt động kinh
doanh của Công ty, trong đó có hoạt động kinh doanh dầu mỡ nhờn. Do đó, việc

tăng lên đến 31,6% trong năm 2010 và 33,3% trong năm 2011. Điều này chứng
tỏ phương hướng kinh doanh của Công ty là coi dầu mỡ nhờn là mặt hàng thế
mạnh của mình và tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu và kinh
doanh mặt hàng này.
2.2.1.2. Quy mô theo sản lượng nhập khẩu
Sản lượng nhập khẩu dầu mỡ nhờn của Công ty Vinatranco trong giai
đoạn 2007 – 2011 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3: Sản lượng nhập khẩu dầu mỡ nhờn giai đoạn 2007 – 2011
(đơn vị:triệu lít)
Năm 2007 2008 2009 2010 2011
Sản lượng 3,07 3,12 3,21 3,65 3,90
(Nguồn: Phòng kinh doanh dung môi dầu nhờn hóa chất Công ty Vinatranco)
Cũng tương tự như quy mô theo kim ngạch nhập khẩu, một cách tổng quát
sản lượng nhập khẩu dầu mỡ nhờn của Công ty Vinatranco đều tăng qua các
năm. Năm 2007, sản lượng nhập khẩu dầu mỡ nhờn của công ty là 3,07 triệu lít.
Trong năm 2008, chỉ tiêu này chỉ tăng 0,05 triệu lít, tương đương chỉ tăng
khoảng 1,6% so với năm 2007. Tuy nhiên, điều này có thể lý giải xuất phát từ
khó khăn chung của nền kinh tế trong năm 2008, nhiều doanh nghiệp sản xuất là
khách hàng của Vinatranco phải cắt giảm sản xuất thậm chí phá sản, theo đó,
nhu cầu về các sản phẩm dầu mỡ nhờn giảm đi, dẫn đến việc thu hẹp sản lượng
nhập khẩu.
Sản lượng dầu mỡ nhờn được nhập khẩu trong năm 2009 tiếp tục tăng và
bằng khoảng 103% so với năm 2008. Sự gia tăng này lớn hơn sự gia tăng trong
giai đoạn 2007 – 2008, chứng tỏ Công ty đã có những biện pháp kịp thời và
thích hợp để khắc phục các khó khăn xảy ra để tiếp tục phát triển hoạt động
nhập khẩu và kinh doanh dầu mỡ nhờn.
Nhờ sự phát triển tốt vào năm 2009, năm 2010, sản lượng dầu mỡ nhờn
nhập khẩu của Vinatranco tiếp tục tăng, đạt 3,65 triệu lít và bằng khoảng
113,7% so với năm trước đó. Năm 2011, Công ty nhập khẩu dầu mỡ nhờn với
sản lượng là 3,90 triệu lít, tăng 6,85% so với năm 2010.

Khác 79.496 52.720 0 2.467.436.459 2.010.390.874 0
Tổng 3.211.063 3.649.985 3.902.174 75.524.021.974 101.638.991.875 121.875.136.012
Đối với nhóm các sản phẩm dầu nhờn khác, nhu cầu cũng nhỏ, hơn nữa
việc nhập khẩu và phân phối các sản phẩm này thời gian qua không hiệu quả,
đóng góp tỷ trọng nhỏ trong doanh thu và lợi nhuận. Do đó, đến năm 2011,
Công ty đã tạm ngừng việc kinh doanh các sản phẩm này.
Đối với dòng sản phẩm MCO dành cho xe máy, tuy Việt Nam là một thị
trường màu mỡ đối với dòng sản phẩm này do số lượng rất lớn xe máy được tiêu
thụ và sử dụng nhưng trong vài năm trở lại đây, Công ty ít chủ trọng đến việc
nhập khẩu và phân phối các sản phẩm này, dẫn đến tỷ trọng của nó trong sản
lượng cũng như giá trị kim ngạch nhập khẩu dầu mỡ nhờn đều rất thấp. Nguyên
nhân là hiện nay ở trong nước các hãng xe máy lớn như Yamaha, Honda, Toyota
đều đã có dầu nhờn mang thương hiệu của hãng, mặt khác để phân phối hiệu
quả mặt hàng này đòi hỏi lượng nhân lực lớn. Sang năm 2011, Vinatranco đã
tiến hành bàn giao toàn bộ số khách hàng MCO cho Công ty cổ phần dầu nhờn
quốc tế VIệt Mỹ - liên doanh của Vinatranco với hai công ty khác cũng trong
lĩnh vực phân phối dầu mỡ nhờn.
Về giá trị kim ngạch nhập khẩu, tất cả các nhóm sản phẩm (trừ MCO và
nhóm các sản phẩm khác) đều tăng giá trị nhập khẩu qua các năm mặc dù có
những nhóm sản lượng bị giảm. Lý do của điều này là giá dầu thô thế giới trong
các năm luôn ở mức cao, dẫn đến đơn giá của các sản phầm dầu mỡ nhờn này
đều tăng qua các năm.
Tỷ trọng của nhóm hàng trọng tâm luôn ở mức trên 80% sản lượng nhập
khẩu dầu mỡ nhờn của Công ty, trong đó đứng đầu là nhóm RPO với tỷ trọng
năm 2009 là 37,7%, năm 2010 là 40,2% và năm 2011 là 41,4%. Sau RPO là
nhóm IL với tỷ trọng là 24,3% trong năm 2010 và 23,2% trong năm 2011.
Nhóm không trọng tâm chiếm dưới 20% sản lượng nhập khẩu dầu mờ nhỡn của
Vinatranco, với tỷ trọng nhóm các sản phẩm khác là đứng thấp nhất (năm 2010
là 1,45% còn năm 2011 là 0%). Xét theo kim ngạch nhập khẩu, tuy nhóm sản
phẩm dầu công nghiệp IL không phải là nhóm có sản lượng nhập khẩu cao nhất

nhất – dịch vụ tin cậy nhất – giá cả hợp lý nhất – giao hàng nhanh nhất, hiện nay
sản phẩm dầu mỡ nhờn của Vinatranco được phân phối thông qua hai dạng kênh
phân phối sau:
• Kênh phân phối trực tiếp
• Kênh phân phối gián tiếp, thông qua một trung gian thương mại
Cấu trúc phân phối kênh của Công ty có thể được khái quát trong sơ đồ
sau:
Hình 4: Các kênh phân phối dầu nhờn của Vinatranco hiện nay
(Nguồn: Phòng kinh doanh dung môi dầu mỡ hóa chất Công ty Vinatranco)
2.3.1.1. Kênh phân phối trực tiếp
Trong kênh này, sản phẩm dầu mỡ nhờn được Vinatranco phân phối đến
người tiêu dùng là những cá nhân, doanh nghiệp, xí nghiệp, nhà máy,… dùng
các sản phẩm đó để phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất kinh doanh của họ,
bao gồm cả những khách hàng thương mại mua hàng của Công ty về rồi bán lại
cho khách hàng khác như các gara, cửa hàng sửa chữa ô tô, xe máy. Tuy sản
phẩm không đến tay người tiêu dùng trực tiếp ngay nhưng do quan hệ của
Vinatranco với những khách hàng này là quan hệ mua đứt bán đoạn, tức là Công
ty sẽ chuyển cho họ cả quyền sở hữu cũng như sử dụng sản phẩm. Nhóm khách
hàng này vẫn được coi là người tiêu dùng cuối cùng trong kênh phân phối trực
tiếp của Công ty.
Khách hàng được phân chia theo nhóm sản phẩm để tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động của các nhân viên, trong đó, mỗi nhân viên có thể phụ trách
nhiều khách hàng thuộc nhiều nhóm sản phẩm khác nhau. Trên thực tế, việc
phân chia như vậy chưa thực sự hiệu quả và chưa đạt đến trình độ chuyên môn
hóa cao nhưng Vinatranco vẫn duy trì vì có những dòng sản phẩm dầu mỡ nhờn
chỉ tiêu thụ được với doanh số rất nhỏ, nếu để nhân viên chuyên phụ trách
những dòng sản phẩm như vậy sẽ khiến họ dễ nảy sinh tâm lý chán nản vì số
lượng công việc ít ỏi và đóng góp trong doanh thu chung không nhiều.
Công ty
cổ phần

được đơn hàng, nhân viên đó sẽ lo toàn bộ các khâu, từ thủ tục, ký hợp đồng,
xuất hàng, vận chuyển đến lúc nhận thanh toán hay đốc thúc khách hàng thanh
toán và báo cáo về Coogn ty. Với mục tiêu phục vụ khách hàng một lúc mọi nơi
và đáp ứng một cách tốt nhất có thể các yêu cầu của khách hàng, các nhân viên
kinh doanh của Công ty luôn tìm cách thỏa mãn hầu hết các đối tác có nhu cầu
với sản phẩm mà Công ty cung cấp một cách tối ưu. Việc tập trung phát triển
kênh phân phối trực tiếp tạo điều kiện cho Công ty nâng cao vị thế cạnh tranh
hơn so với các đối thủ khác, đồng thời tạo điều kiện khai thác nguồn lực sẵn có
như dịch vụ giao nhận, vận chuyển.
2.3.1.2. Kênh phân phối gián tiếp
Trong kênh phân phối gián tiếp, Vintranco chỉ sử dụng kênh một cấp, tức
là chỉ có một trung gian thương mại nữa giữa Công ty và khách hàng. Các sản
phẩm dầu mỡ nhờn được vận động từ Công ty, đến một rung gian thương mại
(đại lý) rồi đến khách hàng. Các đại lý hiện nay chủ yếu tập trung kinh doanh
dòng sản phẩm dầu công nghiệp và dầu ô tô. Hiện tại, số lượng các đại lý của
Vinatranco được phân bổ tại các địa phương tại khu vực miền Bắc như sau:

Trích đoạn Khả năng của doanh nghiệp Những mặt hạn chế XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG DẦU NHỜN Ở VIỆT NAM ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY Đối với kênh phân phối trực tiếp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status