Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------
TRẦN THỊ LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH
HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ HOA LÝ
HÀ NỘI - 2012
Th.s Trần Thị Hoa Lý
1
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
cao hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập, chưa đáp ứng với nhu cầu phát triển
của nền kinh tế - xã hội. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp phát
triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong các văn kiện của Đảng, chủ chương, chính sách của Nhà nước
trong thời kỳ đổi mới đất nước đều đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực phục vụ
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực dưới
nhiều góc độ khác nhau:
+ Trương Giang Long: “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta
hiện nay”.
+ Mai Thế Hởn: “Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH
ở nước ta hiện nay”.
+ Vũ Bá Thể: “Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH. Kinh
nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam”.
Nhìn chung các tác giả đều nghiên cứu nguồn nhân lực ở các góc độ khác
nhau, đi sâu vào vai trò hoặc một loại nhân lực cụ thể, có sự đánh giá một cách
tổng quát nguồn nhân lực trong phạm vi rộng. Trên cơ sở nghiên cứu về nguồn
nhân lực, tôi xin trình bày một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Phân tích thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay chỉ ra những ưu
- Ý nghĩa lý luận:
+ Đề tài tiếp tục bổ sung, làm rõ, hoàn thiện hơn các giải pháp phát
triển nguồn nhân lực với sự phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
+ Tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các vấn đề về nguồn nhân lực.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá đúng thực trạng và đưa ra một số giải pháp
cơ bản có tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của đất
nước, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Đề tài gồm 3
chương và 9 tiết.
Th.s Trần Thị Hoa Lý
4
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
NỘI DUNG
Chƣơng 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
VÀ KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XHCN
1.1. Một số lý luận cơ bản về nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là điều kiện, tiền đề, nền tảng cho sự phát triển bền
vững của mỗi quốc gia. Thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là phát
sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, Cao đẳng và Đại học. Nói đến
nguồn nhân lực mới chỉ đề cập đến tiềm lực; còn khi tiến hành đào tạo, sử
dụng phát huy, phát triển nguồn nhân lực nó mới trở thành lực tác động tới
phát triển kinh tế - xã hội” [18, 243].
Từ đó có thể thấy rằng, nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là
lực lượng lao động đã có và sẽ có mà còn là một tập hợp đa phức gồm nhiều
nhân tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc … của con người. Trong bài
phát biểu khi gặp gỡ các doanh nghiệp, các nhà khoa học – công nghệ tỉnh,
thành phố phía Bắc, thủ tướng Phạm Văn Khải đã nhấn mạnh rằng: nguồn
nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với
truyền thống của dân tộc ta.
Như vậy, ta thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực.
Nhưng nhìn chung có thể khái quát như sau:
Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa rộng là nguồn lực về con người và
được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Với tư cách là nguồn cung
cấp sức lao động cho xã hội. Nó bao gồm toàn bộ dân cư, có cơ thể phát triển
bình thường và có thể tham gia lao động.
Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa hẹp được hiểu là nguồn nhân lực với
tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn nhân lực của một
quốc gia là một bộ phận của dân số trong độ tuổi lao động và có khả năng lao
động.
Th.s Trần Thị Hoa Lý
6
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Th.s Trần Thị Hoa Lý
7
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Trình độ văn hóa
biểu hiện qua các thông số: số người biết chữ và chưa biết chữ; số người có
trình độ tiểu học, THCS, THPT, CĐ, ĐH, trên ĐH …
Trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực là sự hiểu biết, khả năng thực
hành về chuyên môn nào đó. Nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường
trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học.Có khả năng chỉ
đạo, quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định. Trình độ chuyên
môn biểu hiện qua các thông số: tỷ lệ cán bộ trung cấp, cao đẳng, đại học, trên
đại học.
Trình độ kỹ thuật của nguồn nhân lực thường để chỉ trình độ của người
được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những
kỹ năng thực hành về công việc nhất định. Trình độ kỹ thuật được biểu hiện
qua các thông số: số lao động được đào tạo và lao động phổ thông; số lao
động có bằng kỹ thuật và không có bằng; trình độ tay nghề theo bậc thợ …
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau.
+ Về phẩm chất đạo đức, văn hóa của nguồn nhân lực được xem xét
qua các mặt: truyền thống dân tộc (yêu nước, ý chí xây dựng và bảo vệ tổ
quốc …); truyền thống văn hóa, văn minh dân tộc (lòng nhân ái, khoan dung,
vì con người, phục vụ con người, tạo ra sự phát triển với mức sống vật chất
cao, tinh thần phong phú, xã hội văn minh hơn. Muốn đạt được mục tiêu
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và gắn liền với sự phát triển con
người kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.
Trong nhiều thập niên qua, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức
được tầm quan trọng của chiến lược phát triển con người nên đã tổ chức thực
hiện chiến lược quốc gia về phát triển con người và đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn. Mặc dù, hiện nay nền kinh tế thế giới đã phát triển ở mức cao, đời
sống của nhân dân cũng được nâng cao nhưng ở một số khu vực, một số quốc
gia vẫn còn rất nhiều người dân đói nghèo, đời sống vô cùng cực khổ như:
Nam Á, chiếm 2/5 số người đói nghèo (515 triệu/1,3 tỷ người)
Châu Phi có tỷ lệ số người đói nghèo rất lớn và đang phải đối mặt với
đại dich AIDS, đói nghèo.
Môi trường thế giới xuống cấp trầm trọng.
Sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia, khu vực, trên thế giới vẫn
là vấn đề lớn của nhân loại.
Th.s Trần Thị Hoa Lý
9
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
Nhận thức về tầm quan trọng to lớn của con người vừa là cơ sở, mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
hiện nay chính là hàm lượng trí tuệ, phẩm chất đạo đức, tâm lý, khả năng lao
động, sáng tạo hiệu quả của con người.
Nguồn nhân lực còn được hiểu là sự kết hợp giữa thể lực, trí lực, những
giá trị phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm của từng người, của cộng đồng cho
thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới
phát triển của con người.
Nguồn nhân lực là tập hợp các chỉ số phát triển con người mà bản thân
con người và xã hội có thể huy động vào sự phát triển tiếp theo của toàn xã
hội vì lợi ích của cá nhân và xã hội. Do đó kết cấu của nguồn nhân lực gồm:
Xét theo số lượng trong dân cư thì nguồn nhân lực được chia làm ba
loại sau:
+ Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: bao gồm toàn bộ những người
nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động.
+ Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế: gồm số người có
công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế , văn hóa, xã hội.
+ Nguồn nhân lực dự trữ bao gồm: những người trong độ tuổi lao động
nhưng vì nhiều lý do khác nhau họ chưa có công việc ngoài xã hội.
Nếu căn cứ vào lĩnh vực hoạt động thì nguồn nhân lực được chia
thành:
+ Nguồn nhân lực hoạt động trong các ngành công nghiệp.
+ Nguồn nhân lực hoạt động trong các ngành nông nghiệp.
+ Nguồn nhân lực hoạt động trong các ngành dịch vụ.
Đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nguồn
trường. Thị trường là cái tất yếu, là hợp phần bắt buộc của sản xuất hàng hóa.
Thị trường là nơi diễn ra sự chuyển nhượng, sự trao đổi, sự mua – bán hàng
hóa.
Điều quan trọng để hiểu được thực chất của thị trường là ở chỗ, thị
trường không phải chỉ đơn thuần là lĩnh vực trao đổi, di chuyển hàng hóa,
dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng mà là trao đổi được tổ chức
theo các quy luật của lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ. Mác đã từng
chỉ ra rằng: lưu thông là một quá trình tổng thể của trao đổi và là quá trình
hình thành, tích lũy tiền tệ chỉ diễn ra khi các hành vi mua bán tách ra cả về
không gian và thời gian và cả người thực hiện hành vi đó. Lưu thông hàng
hóa giả định mua và bán tách ra, tiền và hàng hóa tách ra thành hai cực đối
lập nhau nhưng không thể thiếu nhau trên thị trường. Tức là, hàng hóa không
Th.s Trần Thị Hoa Lý
12
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
tức khắc chuyển thành tiền và tiền thành hàng. Vì thế bản thân sự trao đổi
không phải đương nhiên thực hiện được. Nhằm giải quyết những khó khăn và
mâu thuẫn ấy giữa các chủ thể của sản xuất - lưu thông có những quan hệ thị
trường, để giải quyết tương quan giữa giá cả và số lượng hàng hóa mua - bán.
Như vậy, thị trường gắn với lưu thông hàng hóa, nó ra đời và gắn với
sản xuất và lưu thông hàng hóa. Do đó, thị trường là hợp phần bắt buộc của
Khoa Giáo dục Chính trị
Như vậy, căn cứ vào các loại hàng hóa, dịch vụ, quy mô, tính chất,
vùng miền … có các loại thị trường tương ứng. Song ở mỗi thị trường này
người ta đều đưa ra được các số liệu thống kê về tổng cung, tổng cầu, về giá
cả, về sự vận động và phát triển của nó.
Kinh tế thị trường.
“Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều
được thực hiện trên thị trường thông qua quá trình trao đổi mua - bán”. Quan
hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển đến một trình độ nhất định sẽ đạt đến kinh tế
thị trường. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa
dựa trên sự phát triển cao của lực lượng sản xuất.
Kinh tế thị trường là cách thức tổ chức nền kinh tế - xã hội, trong đó
các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua
– bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên
chủ thể kinh tế là hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn
dắt của giá cả thị trường.
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất
cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất XH đều được tiền tệ hóa;
các yếu tố của sản xuất như đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật
chất, sức lao động, công nghệ và quản lý; các sản phẩm và dịch vụ tạo ra; chất
xám đều là đối tượng mua - bán, là hàng hóa.
Thực chất kinh tế thị trường không phải là phương thức sản xuất mà nó
chỉ là cách thức tổ chức nền kinh tế có hiệu quả cao, là công nghệ để tổ chức
nền kinh tế được loài người sử dụng để phân bố hiệu quả các nguồn lực xã
hội.
Kinh tế thị trường có một số đặc trưng cơ bản sau:
Th.s Trần Thị Hoa Lý
hay muộn khác nhau nhưng quốc gia nào cũng đã, đang và sẽ bước vào giai
đoạn phát triển kinh tế hàng hóa mà giai đoạn cao của hình thái sản xuất này
chính là kinh tế thị trường.
Việc tổ chức nền kinh tế theo phương thức và nguyên tắc thị trường đã
tạo ra khả năng huy động và khai thác tối đa mọi nguồn lực của XH cũng như
mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên vào guồng máy sản xuất ra của cải vật chất
Th.s Trần Thị Hoa Lý
15
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
và tinh thần cho xã hội, đồng thời nó kích thích việc sử dụng hiệu quả các
nguồn lực đó.
Tổ chức nền kinh tế theo phương thức và nguyên tắc thị trường còn tạo
ra môi trường thuận lợi kích thích phát triển khoa học công nghệ, sử dụng
hiệu quả những thành tựu khoa học công nghệ. Sau đó khoa học công nghệ lại
là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển. Nghĩa là phát
triển kinh tế hàng hóa mà giai đoạn cao là kinh tế thị trường đã trở thành con
đường, là nấc thang phát triển tất yếu của bất kỳ một quốc gia nào trong phát
triển kinh tế nói riêng và trong quá trình tiến bộ của dân tộc nói chung.
Việt Nam cũng là nước nằm trong quy luật chung của nhân loại. Phát
triển kinh tế thị trường ở Việt Nam còn cần thiết hơn khi xuất phát điểm ở
nước ta về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu; nền sản
Nam mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới.
Đã có một thời nền kinh tế ở Việt Nam đã đặt “kinh tế hàng hóa” và
nền “kinh tế có kế hoạch” là hai phạm trù ngang nhau; coi chúng là hai loại
kinh tế đối lập nhau, có tính loại trừ, cho nên sự lựa chọn chỉ có thể hoặc là
kinh tế hàng hóa hoặc là kinh tế có kế hoạch. Bên cạnh đó, theo quan điểm
truyền thống này còn đồng nhất kinh tế hàng hóa với tính tự phát mù quáng,
vô chính phủ và khủng hoảng coi đó là đặc trưng của kinh tế tư bản. Do vậy
trong suốt một thời kỳ dài Việt Nam đã duy trì mô hình kinh tế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu bao cấp.
Trong thời kỳ có chiến tranh, mô hình kinh tế này đã đáp ứng được nhu
cầu của đất nước. Nhưng khi đất nước được hòa bình, thống nhất thì mô hình
kinh tế này đã bộc lộ những khuyết điểm, trong công tác chỉ đạo đã phạm một
số sai lầm mà những nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo
điều, chủ quan, duy ý chí, là lối suy nghĩ và hoạt động đơn giản, nóng vội,
không tôn trọng quy luật khách quan nhận thức CNXH không sát với thực tế
ở Việt Nam vì thế đã đưa nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm
trọng. Nước ta chọn con đường đi lên CNXH là một tiến bộ lớn nhưng xác
định con đường để thực hiện đi lên CNXH thì lại vấp phải nhiều sai lầm.
Với sự lựa chọn mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao
cấp làm cho nước ta rơi vào khủng hoảng toàn diện, cùng với sự sụp đổ của
Liên Xô - thành trì của CNXH - và Đông Âu ngững năm đầu thập kỷ 90, cuộc
Th.s Trần Thị Hoa Lý
17
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Th.s Trần Thị Hoa Lý
18
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
1.2.2. Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta vừa mang đặc trưng
chung của kinh tế thị trường tự do cạnh tranh theo pháp luật, mặt khác, lại vừa
mang tính đặc thù, thể hiện được bản chất của chế độ xã hội mới.
Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam được
thể hiện:
Thứ nhất, về mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường XHCN ở nước ta nhằm mục tiêu phát triển lực lượng
sản xuất, phát triển nền kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân … phát triển lực lượng sản
xuất phải gắn liền với xây dựng và củng cố hoàn thiện QHSX trên cả ba mặt:
sản xuất, sở hữu, tổ chức. Tính định hướng XHCN trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội quy định qúa trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là
quá trình thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Để thực hiện mục tiêu này thì nền kinh tế phải có lực lượng sản
xuất phát triển cao, cơ sở vật chất kỹ thuật phải hiện đại, năng lực sản xuất
ngày càng phát triển. Do đó, phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, mở cửa hội nhập vào khu vực và thế giới trong xu thế quốc tế hóa, toàn
dựng xong.
+ Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay còn được xác định ở chủ thể sở hữu.
+ Nền kinh tế gồm nhiều sở hữu về tư liệu sản xuất. Do đó, gồm nhiều
thành phần kinh tế trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Thứ ba, về hệ thống thị trường: cần xây dựng được một hệ thống thị
trường đồng bộ, thống nhất.
Thị trường nói chung và các thị trường đều có các yếu tố cơ bản cấu
thành như: hàng hóa, tiền tệ, cung - cầu, giá cả thị trường … sự phát triển thị
trường tùy thuộc sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội, các mối quan hệ kinh tế, đặc biệt là cơ cấu nền kinh tế, quy mô kinh tế …
Xem như vậy thì quá trình hình thành phát triển thị trường sẽ phải đi theo con
đường tuần tự từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao. Song trong điều kiện
cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, xu thế hội nhập … thì việc phát triển
thị trường có thể bằng con đường rút ngắn. Để phát triển thị trường cần:
Th.s Trần Thị Hoa Lý
20
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
+ Ban hành, tiếp tục sửa đổi, thực thi nghiêm hệ thống pháp luật liên
quan đến thị trường.
+ Tổ chức và quản lý thị trường.
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
+ Xác định những chỉ tiêu hiệu quả, cần thiết, cần đạt của kinh tế thị
trường như GNP, GDP, phát triển giáo dục – đào tạo, giải quyết việc làm …
+ Nâng cao chức năng xã hội của Nhà nước XHCN trong chế độ bảo
hiểm xã hội và trong chính sách phân phối thu nhập và trong những chính
sách xã hội khác.
Phân phối trong kinh tế thị trường định hướng XHCN cần phải kết
hợp:
+ Kết hợp lợi nhuận với các vấn đề xã hội nhằm đảm bảo cho các chủ thể
có lợi nhuận cao và phải tạo ra những điều kiên để ổn định chính trị - xã hội.
+ Kết hợp chặt chẽ nguyên tắc phân phối XHCN và nguyên tắc phân
phối kinh tế thị trường nhằm tạo ra những hình thức thu nhập đa dạng xen kẽ.
+ Điều tiết thu nhập: một mặt Nhà nước phải có những chính sách để
giảm bớt chênh lệch giầu nghèo, mặt khác phải có những biện pháp nâng cao
thu nhập chính đáng cho các tầng lớp trong xã hội.
Để thực hiện phân phối thu nhập phù hợp với kinh tế thị trường định
hướng XHCN thì phải luôn kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công
bằng xã hội.
1.3. Vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng
XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Trong sự phát triển của xã hội nói chung, con người đóng vai trò rất
quan trọng. Xã hội muốn phát triển phải phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt
động sản xuất vật chất, mà quá trình này diễn ra là sự kết hợp của hai yếu tố
cơ bản: tư liệu sản xuất và sức lao động. Trong đó yếu tố con người với kỹ
năng, kỹ sảo của mình có ý nghĩa quyết định nhất như Lê Nin đã khẳng định:
“lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là người công nhân, là người
lao động” [12, 430].
là một yếu tố quyết định quy mô và cơ cấu sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Trong thời đại ngày nay các nước có thể khắc phục sự yếu kém của kỹ
thuật, công nghệ … thông qua con đường chuyển giao, nhập khẩu hoặc gia
tăng nguồn vốn bằng cách vay mượn của nước ngoài. Tuy nhiên lại không thể
vay mượn, nhập khẩu khả năng sáng tạo của con người. Vì vậy có thể khẳng
định rằng nguồn nhân lực là yếu tố nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển
kinh tế - xã hội.
Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh cho tính đúng đắn của việc phát
triển nguồn nhân lực lấy đó làm đòn bẩy để phát triển kinh tế. Kinh nghiệm
của các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapo … đã
cho thấy nhờ biết đầu tư, phát triển nguồn nhân lực đã tạo nên bước phát triển
thần kỳ cho nền kinh tế. Ở những nước này, họ đã coi phát triển nguồn nhân
Th.s Trần Thị Hoa Lý
23
Trần Thị Linh - K34GDCD-GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
lực là yếu tố hàng đầu trong mọi quá trình phát triển xã hội, đầu tư cho con
người là đầu tư có hiệu quả nhất cho sự phát triển. Như vậy, sự phát triển
nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, quyết định nhất cho sự phát triển của đất
nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dạy: “phải biết quý trọng sức người, là
vốn qúy của ta. Chúng ta phải hết lòng chăm lo sức khỏe và sử dụng hợp lý
sức lao động của nhân dân ta” [13, 313].
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khoa Giáo dục Chính trị
- Vai trò quyết định của nguồn nhân lực còn thể hiện: nó là nhân tố
quyết định việc tổ chức, sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực khác. Lý
luận và thực tiễn đều khẳng định rằng: nguồn nhân lực là yếu tố quyết định
việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn nhân lực khác như vốn, tài nguyên
thiên nhiên, khoa học công nghệ … chỉ thông qua các nguồn nhân lực mới
phát huy được tác dụng.
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nguồn nhân lực đóng
vai trò rất quan trọng. Nguồn nhân lực tham gia các hoạt động trong các
ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Mặt khác, là bộ phận dân
số, nguồn nhân lực tham gia vào tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ của xã
hội. Như vậy, với tư cách là bộ phân dân số, thực hiện quá trình tiêu dùng,
nguồn nhân lực trở thành nhân tố tạo cầu cho nền kinh tế, là động lực thúc
đẩy sự phát triển của sản xuất xã hội.
Sau khi hòa bình thống nhất đất nước, Việt Nam lựa chọn con đường
đi lên CNXH, với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặc dù là nước
có rất nhiều thuận lợi cả về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên lẫn nguồn nhân
lực dồi dào nhưng Việt Nam còn rất khó khăn, vẫn là nước đang phát triển,
cần nhiều sự viện trợ, giúp đỡ của nước ngoài. Để khắc phục khó khăn, phát
triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thì cần phải ứng dụng rộng rãi và
phổ biến những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại vào tất cả các lĩnh
vực của đời sống. Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ, nhiều nước trên thế giới đã bước vào nền kinh tế tri thức, cho phép các
nước chậm phát triển có trình độ khoa học công nghệ trung bình và thấp như
nước ta có thể đi tắt đón đầu, đi thẳng vào công nghệ mới thông qua chuyển
giao khoa học công nghệ. Để có thể thực hiện được việc chuyển giao này có
hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải có đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, đội