trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa MARKETING
CHUYÊN Đề THựC TậP
Đề tài:
PHT TRIN H THNG KấNH PHN PHI LP XE ễ Tễ
FALKEN TI TH TRNG MIN BC VIT NAM CHO CễNG TY
TNHH LP V LAZANG CNG LAZANG
Sinh viên thực hiện : BùI HùNG THắNG
Mã sinh viên : cq502432
Lớp : MARKETING A K50
Giáo viên hớng dẫn : GS.TS TRầN MINH ĐạO
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
2
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
BẢNG
SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
Trong số các phụ tùng xe ô tô như má phanh, hệ thống giảm sóc, săm lốp,
v.v thì lốp xe là một trong những bộ phận luôn được quan tâm hàng ngày. Lốp của
bánh xe là bộ phận duy nhất của xe luôn tiếp xúc với mặt đường có nhiệm vụ mang
toàn bộ tải trọng của chiếc xe, đồng thời truyền tải các lực lái, phanh, quẹo, cua và
hấp thụ các chấn động xảy ra trên đường đối với xe.
Hiểu được tầm quan trọng của lốp xe, càng ngày, các chủ xe càng có ý thức
hơn trong việc kiểm tra, thay thế lốp định kỳ. Thông thường, việc kiểm tra lốp nên
diễn ra định kỳ 2 tháng một lần, còn với việc thay lốp, thì phụ thuộc vào số lượng
km đã di chuyển, hoặc số năm (thường tối đa là 5 năm)
Trên thị trường Việt Nam hiện nay, có hơn 20 thương hiệu lốp xe cả trong và
ngoài nước khiến cho sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Mỗi sản phẩm lại có một
thế mạnh riêng, có sản phẩm mạnh về chất lượng như Michelin, Brigestone, có sản
-
Tỉ lệ sở hữu ô tô của người Việt còn thấp và thu nhập bình quân đầu người
đang có xu hướng tăng
-
Nhu cầu vận tải gia tăng với tăng trưởng kinh tế
-
Giá xe ô tô rẻ hơn từ lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu xe
-
Cơ sở hạ tầng đang được cải thiện với các dự án lớn
Nguồn : Bộ Công An
Theo số liệu của Bộ Công an, đến hết 31/12/2010, tổng lượng xe lưu hành trên
cả nước là 1.624.406 xe các loại, tăng 113.515 xe hay 7,51% so với năm 2009. Tính
cả giai đoạn 10 năm 2001-2010, tốc độ tăng trung bình của lượng xe ôtô lưu hành
tại Việt Nam đạt 12,81%/năm. Và tính đến tháng 6/2011, số lượng xe lưu hành tính
trên đầu người vào khoảng 18,7 xe/ 1000 dân.
Tỉ lệ sở hữu ôtô & GNI bình quân đầu người
Theo nguồn số liệu do WB trích dẫn từ nguồn International Road Federation
và World Road Statistics, tại thời điểm cuối năm 2007, số lượng xe ôtô bình quân
2
trên 1.000 người tại Việt Nam là 13,46 xe tương đương số lượng xe lưu hành là
1.133.616 xe. Số lượng 13,46 xe/1000 người của Việt Nam là tương đối thấp so với
mức trung bình 17,21 xe/1.000 người của các quốc gia có GNI dưới 1.600
USD/người và mức trung bình 132 xe/1.000 người của Thế giới. Bên cạnh một số
vấn đề khác về giá cả, thuế, cơ sở hạ tầng…thì mức GNI đầu người của Việt Nam
là nguyên nhân của tỉ lệ sở hữu ôtô thấp tại Việt Nam.
Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2009, GNI bình quân đầu người của Việt
Nam tính bằng VND và USD giá thực tế tăng trưởng với tốc độ bình quân năm
(CAGR) lần lượt là 19,73% và 11,86%. Trong giai đoạn này, GNI bình quân đầu
người trên thế giới tính bằng USD giá thực tế tăng với tỉ lệ trung bình (CAGR)
4,13%/năm . Tính đến thời điểm cuối năm 2009, GNI bình quân đầu người ở Việt
khẩu tăng trưởng tốt.
•
Hoạt động Thương mại trên lãnh thổ Việt Nam cũng như hoạt động Xuất
nhập khẩu ngày càng
phát triển mạnh.
•
Hoạt động vận tải hành khách đường bộ có xu hướng gia tăng
3
Hình 2 : Khối lượng hàng hoá luân chuyển (triệu tấn.km)
Nguồn : Thổng cục thống kê
Hình 3: Khối lượng hành khách vận chuyển bằng đường bộ
(triệu lượt người)
Nguồn : Thổng cục thống kê
Giá xe ôtô và Thuế nhập khẩu xe ôtô
Giá xe ôtô ở mức cao là một trong những nguyên nhân cản trở khả năng sở
hữu xe ôtô tại Việt Nam. Giá xe ôtô cao xuất phát từ 2 nguyên nhân:
- Quy mô thị trường nhỏ dẫn đến không đạt được hiệu quả kinh tế. Hiệu quả
sản xuất thấp vì vậy nền công nghiệp phụ trợ kém phát triển. Giá phụ tùng
lắp ráp xe cao và do đó giá xe cao.
- Thuế Tiêu thụ đặc biệt và Thuế Nhập khẩu xe cao dẫn đến giá xe cao. Từ giá
4
xe ôtô cao lại dẫn đến nhu cầu tiêu thụ xe thấp và quy mô thị trường nhỏ.
Chính sách bảo hộ kéo dài ngành công nghiệp ôtô trong nước không tạo ra
ngành công nghiệp ôtô phát triển trong nước như mục tiêu của chính phủ. Nguyên
nhân là sự phụ thuộc chính sách bảo hộ dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong hoạt động
của các doanh nghiệp sản xuất. Với việc Việt Nam thực hiện các cam kết giảm
thuế nhập khẩu với WTO và ASEAN, thuế nhập khẩu ôtô trong thời gian tới dự
kiến sẽ liên tục được cắt giảm dẫn đến sự giảm giá ôtô qua đó tạo điều kiện cho
người tiêu dùng sở hữu ôtô phục vụ cho đi lại cũng như các doanh nghiệp vận tải
năm 2020
Khả năng vận tải 2020 (tỉ người) Nhu cầu VĐT (tỷ đồng) Tổng BQ năm
Lượng khách vận chuyển (tỷ
người)
5,5 Quốc lộ 160.3 13.4
Lương khách luân chuyển (tỷ
người.km)
165,5 Đường Hồ Chí Minh 60
Hàng hóa vận chuyển (triệu
tấn)
760 Đường bộ cao tốc 350 29.16
Hàng hóa luân chuyển (tỷ
tấn.km)
35 Đường bộ ven biển 14500 1.2
Phương tiện ôtô (triệu xe) 2,9 Đường tỉnh 120 10
- Xe con
1,4 –
1,5
Đường đô thị cho Hà Nội
và Tp.HCM
278.5 23.204
- Xe khách
0,48 –
0,5
Đường nông thôn 83.3 7000
- Xe tải 0,92 – 1
Nhu cầu vốn bảo trì (tỷ
đồng)
Tổng BQ năm
Số lượng xe máy (triệu xe) 34 – 36 Quốc lộ 52.5 4.5
bạ, phí cấp biển, phí đăng kiểm, phí xăng dầu và giờ đến phí bảo trì đường bộ, tiếp
tới có thể là phí lưu hành xe, thì quả thật đó là phí chồng lên phí.
Không những thế xu hướng tăng phí vẫn đang diễn ra. Trước kia lệ phí trước
bạ với ôtô chỉ từ 2-5% thì thời gian qua đã tăng lên 10-12% và mới đây một số địa
phương như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh lại tăng tiếp lên 20% và 15%. Rồi phí
cấp biển số cũng vậy trước chỉ 2 triệu đồng/ xe thì nay Hà Nội đã đi đầu nâng lên
gấp 10 lần. Các loại phí khác như: phí đăng kiểm, phí xăng dầu chưa chắc đã
đứng yên với mức thu như hiện nay.
Thuế cao kèm theo là phí đắt đỏ, thực sự trở thành khó khăn cực lớn đối với sự
phát triển của thị trường ô tô, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA)
vừa công bố doanh số bán xe trong tháng 2/2012. Đúng như dự đoán, thị trường ôtô
trong nước tiếp tục trầm lắng với mức giảm tới 25% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đây là mức giảm đáng quan ngại bởi các phân tích cho thấy, tháng 2/2011 trùng
vào thời điểm Tết nguyên đán Tân Mão, số ngày nghỉ khá dài nhưng lượng xe bán
ra vẫn đạt gần 8.000 chiếc. Trong khi năm 2012, Tết nguyên đán đến sớm, từ cuối
tháng 1, những ngày nghỉ đều tập trung vào tháng 1/2012, sang tháng 2 mọi hoạt
động đã trở lại bình thường, nhưng xe tiêu thụ vẫn chậm.
Trong tháng 2/2012, doanh số bán xe tải, xe thương mại giảm 20%; xe du lịch
giảm 28%; xe đa dụng, thể thao đa dụng giảm 38% so với cùng kỳ 2011. Có lẽ đỡ
bi quan hơn cả là Toyota Việt Nam với số lượng xe bán ra 1.846 chiếc và Trường
Hải 1.872 chiếc. GM Việt Nam bán được 534 chiếc và Vinaxuki bán được 592
chiếc. Tính chung cả 2 tháng 4 DN này có số xe bán ra tương đối tốt. Toyota Việt
Nam đạt 3.888 xe, Trường Hải đạt 2.748 xe, GM Việt Nam đạt 1.094 xe và
Vinaxuki đạt 1.112 xe.
Còn lại các DN khác gặp nhiều khó khăn do lượng xe bán ra giảm mạnh, mà
điển hình nhất có lẽ là Ford Việt Nam với vỏn vẹn 216 chiếc bán ra trong tháng 2.
Cộng cả hai tháng đầu năm 2012, hãng này bán được 392 chiếc. Honda Việt Nam
tháng 2 vừa qua chỉ bán được 14 chiếc, toàn bộ là xe Civic; hai mẫu xe còn lại CR-
7
V và Accord nhập khẩu không bán nổi một chiếc nào, cộng cả 2 tháng bán được 47
về đảm bảo an toàn trong giao thông. Đây là lốp xe được tiêu thụ với mục đích thay
thế.
- Nhu cầu tiêu thụ lốp xe cho mục đích lắp mới trong từng năm tăng trưởng
cùng với tốc độ tăng trưởng của số lượng ôtô sản xuất trong năm của nền công
nghiệp ôtô quốc gia.
Theo ước tính, trong năm 2010 số lượng lốp xe ôtô tiêu thụ ở Việt Nam là
8
vào khoảng 6.023.380 lốp xe trong đó có 916.232 lốp xe tiêu thụ cho mục đích lắp
mới. Với ước tính này, nhu cầu tiêu thụ lốp xe với mục đích thay thế của 1 xe tại
Việt Nam là vào khoảng 3,42 lốp xe/1 xe và số lượng
lốp xe tiêu thụ bình quân cho
1 xe ôtô lắp mới là 6 lốp xe.
Hình 4 : Tỷ lệ lốp xe ô tô thay thế và lắp mới
Nguồn : Phòng kinh doanh
1.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường lốp ô tô
Nhu cầu mua lốp ô tô chỉ có ở đối tượng có sử dụng xe ô tô, vì vậy, thị trường
lốp ô tô có sự phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường ô tô. Khu vực có càng nhiều ô tô,
thị trường lốp ô tô càng phát triển. Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường ô tô
cũng tác động đến thị trường lốp.
1.2.1.Môi trường kinh tế
Như đã đề cập ở phần trên, khu vực có càng nhiều ô tô, thì thị trường lốp càng
phát triển. Nhu cầu sử dụng ô tô xuất phát từ hai nguồn chính :
- Phục vụ cho lợi ích cá nhân, gia đình. Để đáp ứng nhu cầu này đòi hỏi cá
nhân phải có thu nhập cao và ổn định. Các dòng xe cá nhân và gia đình sử dụng
thường là xe du lịch hoặc thể thao đa dụng
- Phục vụ cho hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Mỗi tổ chức, doanh
nghiệp lại có một mục đích sử dụng xe riêng, bởi vậy yêu cầu về xe ô tô của họ
cũng khác nhau.
o Nhu cầu quan hệ hợp tác, đi công tác
o Nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách
1.2.2. Môi trường văn hóa – xã hội
Người Việt Nam có câu “chọn mặt gửi vàng”, “nhìn mặt mà bắt hình dong” –
để nói về cách nhìn nhận sự việc thông qua vẻ bề ngoài. Và việc đánh giá một
doanh nghiệp/ cá nhân có thành công hay không thường được đánh giá qua những
gì mà họ sở hữu
Tỷ lệ sở hữu ô tô ở Việt Nam chưa cao, đa số mọi người vẫn sử dụng xe máy
làm phương tiện di chuyển hàng ngày của mình. Bởi vậy, nhiều người vẫn coi việc
có ô tô là điều xa xỉ, và ô tô cũng để thể hiện đẳng cấp. Bentley là một trong ba
dòng xe siêu sang trên thế giới cùng với Roll Royce và Mayback, việc sở hữu một
chiếc Bentley, người chủ thể hiện mình là người sang trọng và thành đạt.
Hiện nay, nhiều trường học cấp 1, cấp 2 tại Hà Nội có thêm dịch vụ đưa đón
học sinh bằng ô tô (như Lômônôxốp, Đoàn Thị Điểm). Tuy việc này thực sự không
liên quan đến chất lượng giảng dạy, song nhờ đó, mà các vị phụ huynh có sự tin
tưởng, đánh giá cao hơn về trường. Xu hướng hợp tác cùng thành công đang rất phổ
10
biến trong các doanh nghiệp, việc lựa chọn đối tác nào để cùng phát triển gần như
trở thành nhiệm vụ sống còn của mỗi doanh nghiệp. Đánh giá khả năng đối tác một
cách trực quan nhất là qua cơ sở vật chất mà họ đang sở hữu, đó là nhà xưởng, văn
phòng, phương tiện.
Đó là những lý do có thể thúc đẩy nhu cầu sở hữu ô tô của các tổ chức, cá
nhân, khiến cho thị trường ô tô phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường lốp xe.
Ngoài ra, văn hóa Việt Nam cũng mang đến những quan niệm về sự tương
xứng trong xã hội. “Nồi nào úp vung nấy”, bởi vậy rất khó để tìm ra một chiếc
Mercedes lại sử dụng lốp ô tô Yokohama hay DRC, hay Kia Morning lại sở hữu bộ
lốp Michelin hoặc Brigestone. Bởi vậy, sự phân chia về đẳng cấp xe và lốp là điều
cần lưu ý đến khi doanh nghiệp nhắm đến một khu vực thị trường nào đó. Ví dụ, tại
thị trường có mức thu nhập cao, xe ô tô chủ yếu mang các thương hiệu nổi tiếng
như BMV, Audi, Mercedes,… thì lốp Brigestone, Michelin, Continental sẽ tiêu thụ
tốt hơn, và ngược lại, với thị trường có mà các dòng xe phổ biến là Toyota,
Huyndai, … thì lốp Yokohama, Maxxis, … sẽ có cơ hội chiếm lĩnh thị trường.
Thời tiết càng khắc nhiệt, nhu cầu về ô tô càng tăng. Ngoài ra, thời tiết khắc
11
nhiệt cũng là nguyên nhân làm giảm tuổi thọ của lốp do sản phẩm này được sản
xuất chủ yếu từ cao su, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.
1.2.4. Môi trường chính trị - luật pháp
Môi trường chính trị - pháp luật tại nước ta hiện nay bên cạnh những chính
sách thúc đẩy thị trường tiêu thụ ô tô phát triển lại có nhiều quy định khác mang
tính chất kìm hãm,điều này khiến cho việc dự báo về thị trường trở nên phức tạp
hơn so với các thị trường khác.
Như đã đề cập ở trên, lộ trình giảm thuế nhập khẩu ô tô của Việt Nam sẽ từng
bước làm tăng số lượng xe ô tô được sử dụng tại Việt Nam, kéo theo sự phát triển
của các ngành nghề có liên quan như : dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, phân phối
phụ tùng và lốp ô tô.
Tuy nhiên, với việc phải chịu tới 3 loại thuế và 7 loại phí, ước tính mỗi chủ xe
phải chịu từ 20 đến 50 triệu đồng mỗi năm. Đây là một trở ngại lớn cho những ai
muốn mua xe mới trong thời điểm này. Ngoài ra, với sự thiếu minh bạch trong việc
quản lý giá xăng dầu – nguyên liệu chủ yếu cho các loại xe ô tô hiện nay tại Việt
Nam, khiến cho giá cả ngày càng đắt đỏ, càng tăng thêm chi phí sử dụng xe.
Bên cạnh đó, chính sách bảo hộ đối với nhiều mặt hàng trong nước nói chung
và lốp ô tô nói riêng, đang tạo điều kiện rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước
phát triển. Thuế nhập khẩu đối với mặt hàng săm lốp hiện nay vào khoảng 5 – 40%,
có thể thấy chủ trương của nhà nước vẫn là bảo vệ ngành công nghiệp sản xuất săm
lốp do đây là ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp ô tô.
Có thể thấy rằng, có cả những sự tác động tích cực lẫn tiêu cực từ môi trường
chính trị – pháp luật tới thị trường săm lốp ô tô. Trong ngắn hạn, có thể sự tăng
trưởng về thị trường ô tô sẽ không khả quan, dẫn đến thị trường săm lốp cũng
không có nhiều sự phát triển tích cực song trong dài hạn, với sự đổi mới hơn về các
chính sách hay quy định đang vấp phải rất nhiều sự phản đối của người dân như
hiện nay, sẽ làm cho tình hình khả quan hơn
1.2.5.Môi trường khoa học công nghệ
a. Nhận dạng vấn đề
Ngoài nhu cầu sử dụng lốp của các xí nghiệp lắp ráp ô tô cho việc lắp mới, thì
có 85% là dành cho nhu cầu thay thế. Các nguyên nhân khiến khách hàng có nhu
cầu thay thế lốp xe gồm 2 vấn đề chính :
- Thay lốp theo định kỳ : mỗi lốp xe đều có hạn sử dụng riêng, vào khoảng 3 –
5 năm để đảm bảo vận hành tốt, quá thời gian này, lốp có thể bị hao mòn gây ảnh
hưởng đến an toàn của xe. Đây là trường hợp thay lốp chủ động, vì vậy, khách hàng
có nhiều thời gian để lựa chọn cho mình một sản phẩm lốp ưng ý
- Thay lốp do sự cố : nổ lốp, xịt lốp, hoặc một số các sự cố khác khiến lốp xe
bị hỏng hóc cần thay thế. Đây là trường hợp thay lốp bị động, nếu đã có chuẩn bị
lốp dự phòng, khách hàng có thể tự thay. Nếu không, họ sẽ phải gọi cứu hộ hoặc sự
trợ giúp của các đại lý lốp địa phương. Tuy nhiên, nhiều đại lý thường bị hạn chế về
thương hiệu và mẫu mã lốp xe, khiến chủ xe không có được sản phẩm ưng ý.
13
b. Tìm kiếm thông tin
Về cơ bản, lốp của nhà sản xuất xe gốc là loại được trang bị cho xe từ trong
nhà máy. Song, mua cùng loại lốp đó khi thay thế chưa hẳn là sự lựa chọn tốt nhất.
Các nhà sản xuất đã cân nhắc và chế tạo lốp xe có thể cung cấp hiệu suất chấp nhận
được trong các điều kiện thời tiết, địa hình khác nhau. Tuy nhiên, là người tiêu
dùng, khách hàng có yêu cầu cao hơn thế, để có thể phát huy hiệu suất cao nhất của
lốp, tạo cho người lái một cảm giác thoải mái.
Đối với những người am hiểu về xe và lốp xe, thì việc lựa chọn cho mình một
sản phẩm lốp xe ưng ý không phải chuyện khá phức tạp. Tuy nhiên, với nhiều
người thì không đơn giản như vậy, họ cần tới các nguồn tham khảo thông tin, mà
phổ biến nhất là các nguồn sau :
- Bạn bè, người thân : đây là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất. Dựa trên kinh
nghiệm tiêu dùng của bản thân, bạn bè, người thân có thể đem lại cho chủ xe một sự
lựa chọn tốt trong việc sử dụng sản phẩm
- Đại lý sửa chữa và thay thế lốp xe : với kinh nghiệm và sự hiểu biết về lốp xe
nói riêng, xe và điều kiện đường xá Việt Nam nói chung, thì các đại lý là nơi tư vấn
thị trường Việt Nam được sản xuất từ Thái Lan, Indonesia, và Ấn Độ… Số lượng
sản phẩm có xuất xứ tại nước thứ nhất chiếm tỷ trọng nhỏ và thường có giá rất cao.
- Nhà phân phối, đại lý : đây là nơi cung cấp các sản phẩm lốp xe, và một đại
lý uy tín sẽ mang lại cho các chủ xe cảm giác an tâm về chất lượng sản phẩm…
Hiện nay, ngoài các đại lý chính hãng của các công ty lớn như Michelin, Goodyear,
còn có rất nhiều các doanh nghiệp phân phối lốp Việt Nam đã khẳng định được chỗ
đứng của mình với chất lượng dịch vụ cao như Bách Thái, Lốp Ô tô Dân Chủ,…
Các đại lý này được có mặt bằng rộng để có thể phục vụ nhiều xe một lúc, hệ thống
máy móc hiện đại, và có nhiều dịch vụ bổ sung tiện ích như : cân bằng động, bảo
dưỡng, sơn xe,… cùng đội ngũ nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp, có tay nghề cao
d.Quyết định mua
Sau khi hình thành ý định mua, bình thường người tiêu dùng sẽ tiến hành mua
sản phẩm. Tuy nhiên thì vẫn có hai yếu tố khiến chủ xe thay đổi quyết định là :
- Thái độ của bạn bè : ví dụ khi chủ xe quyết định mua lốp xe của hãng
Michelin, tuy nhiên, anh bạn thân đã từng sử dụng hãng này và không có sự hài
lòng, thái độ phản đối của anh này có thể sẽ khiến chủ xe suy nghĩ lại
- Yếu tố hoàn cảnh bất ngờ : có thể, trong một ngày lễ kỉ niệm 130 năm thành
lập hãng xe Mercedes – Benz, chủ xe được tặng 1 đôi lốp. Điều này có thể khiến
chủ xe không còn nghĩ đến việc mua lốp mới
Các trường hợp này hoàn toàn có thể xảy ra trong cuộc sống, song không thực
sự nhiều. Và vì vậy, thường thì sau khi hình thành các ý định mua, các chủ xe sẽ
tiến hành mua sản phẩm
e. Hành vi sau khi mua
Lốp xe ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề di chuyển của xe, và sau khi được thay
mới, khách hàng sẽ thực sự được trải nghiệm chất lượng của lốp. Từ đó, sẽ có
những cảm nhận dẫn đến sự hài lòng hay không hài lòng đối với sản phẩm. Ở giai
đoạn này, đại lý, nhà phân phối hay hãng sản xuất có thể áp dụng một số biện pháp
để có thể tăng sự hài lòng về sản phẩm cho khách hàng như
- Cho phép đổi lốp tùy ý sau 7 ngày cảm nhận (đang được Goodyear áp dụng)
- Chế độ bảo hành chuyên nghiệp
Niềm tin và thái độ : dẫn khách hàng đến quyết định thích hay không thích
một sản phẩm nào đó. Một người có quan niệm đồ rẻ tiền là đồ kém chất lượng – sẽ
dẫn đến việc anh ta loại ngay những sản phẩm có giá thành thấp ra khỏi lựa chọn
mua sắm. Một người khác, luôn tin tưởng vào chất lượng của các sản phẩm trong
nước, sẽ dẫn đến việc anh ta có sự kém ưu tiên hơn đối với các sản phẩm nước
ngoài.
Nhận thức : một người tiêu dùng có thể thấy chiếc xe Cadilac là biểu tượng
của sự thành công, nhưng người khác thấy đó là sự xa xỉ. Một người sử dụng lốp
Brigestone vì đó sản phẩm được sản xuất với công nghệ cao, nên sẽ có chất lượng
16
cao, người khác thì nghĩ đó là sự tốn kém. Nhận thức của mỗi người không gống
nhau, dẫn đến việc lựa chọn sản phẩm của nó cũng khách nhau
1.4.Thị trường lốp xe ô tô tại Việt Nam
Thị trường lốp xe ô tô Việt Nam hiện đang xuất hiện rất nhiều các hãng lốp xe
cả trong và ngoài nước, trong đó có cả những hãng nổi tiếng thế giới như Michelin
(Pháp), Bridgestone (Nhật Bản), Continental (Mỹ), Pirelli (Italia), hứa hẹn sự cạnh
tranh gay gắt. Ngoài ra, không thể không kể đến sự có mặt của 3 hãng lốp Việt Nam
– cùng thuộc công ty Vinachem là Cao Su Sao Vàng (SRC), Cao Su Miền Nam
(CSM) và Cao Su Đà Nẵng (DRC) – những doanh nghiệp nắm vai trò là chủ nhà.
Hình 5: Thị phần thị trường lốp ô tô Việt Nam
Nguồn : Tổng công ty hóa chất Việt Nam Vinachem
1.4.1.Các sản phẩm săm lốp từ Việt Nam
Hiện tại Tổng công ty hóa chất Việt Nam Vinachem là đơn vị sản xuất săm
lốp lớn nhất được đại diện bởi 3 doanh nghiệp đó là : Công ty cổ phần cao su Miền
Nam (CSM), Công ty cổ phần cao su Sao Vàng (SRC), và Công ty cổ phần cao su
Đà Nẵng (DRC). Mỗi công ty đều có thế mạnh riêng, DRC thì chuyên sản xuất lốp
xe ô tô như xe tải nặng, nhẹ, xe khách với sản phẩm chủ lực là lốp đặc chủng. CSM
chuyên sản xuất lốp xe tải nhẹ, xe máy còn SRC là doanh nghiệp duy nhất sản xuất
được lốp máy bay. Nhìn chung, sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp này lốp xe
tải và chưa thực sự chú trọng đến lốp xe ô tô du lịch.
tính năng chịu mài mòn tốt, lý trình chạy cao, tuổi thọ cao; cho phép đắp lại nhiều
lần…. Nhờ những đặc tính sử dụng ưu việt này mà lốp radial được sử dụng và sản
xuất rộng rãi tại các nước công nghiệp phát triển (ở Mỹ, Nhật, Pháp, Đức tỷ lệ này
là 100%), ở các nước khác tỷ lệ sử dụng lốp radial cũng ngày càng tăng.
Bảng 2 : Dự báo nhu cầu lốp Radial tiêu thụ tại Việt Nam đến 2020
(ngàn chiếc)
Phương tiện 2008 2009 2010 2020
Xe con, xe tải nhẹ 1380 1775 2347 4580
Xe tốc độ cao 400 510 663 1270
Tổng cộng 1780 2285 3010 5850
Nguồn : Dự báo của tập đoàn Cao su Đà Nẵng
Nhu một xu hướng tất yếu, các doanh nghiệp săm lốp Việt Nam cũng đang
dần chuyển dịch tỷ trọng sản xuất lốp Bias sang Radial, điều này được minh chứng
qua các dự án đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất lốp radial với công suất lớn.
Tình trạng độc chiếm thị trường lốp Radial của các doanh nghiệp nước ngoài gần
như chấm dứt từ tháng 9.2003, khi công ty Công Nghiệp Cao Su Miền Nam
18
Casumina tung ra sản phẩm lốp Radial bán thép, chất lượng tương đương nhưng giá
chỉ bằng 80%. Cuối năm 2011, nhà máy sản xuất lốp radial được đầu tư 1000 tỷ
đổng của Casumina tại Bình Dương đã đi vào hoạt động với công suất khoảng 1
triệu lốp/ năm. Ngoài ra, công ty cao su Đà Nẵng đang đầu tư dự án “Nhà máy sản
xuất lốp radial công suất 600.000 lốp/ năm” , dự án này dự kiến đến đầu năm 2013
sẽ cho ra sản phẩm và nâng tổng công suất sản xuất lốp radial cả nước lên đến 2
triệu lốp / năm.
Hệ thống phân phối rộng rãi khắp cả nước : các sản phẩm lốp xe của công ty
Vinachem hiện đang có mặt ở trên tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Đây là một
ưu thế hơn so với các sản phẩm đến từ nước ngoài, sản phẩm có thể dễ dàng đến với
người tiêu dùng trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Xu thế “người Việt dùng hàng Việt”
ngày càng được phổ biến rộng rãi trên từng loại sản phẩm cũng đem đến cho các
doanh nghiệp trong nước những hy vọng về việc mở rộng thị phần
cũng như xe tải, song đối với thị trường lốp xe con, xe du lịch thì các doanh nghiệp
trong nước lại lép vế hoàn toàn. Sản lượng thấp, chất lượng chưa thực sự cao, bởi
vậy những sản phẩm trong nước chưa thể chiếm được lòng tin của khách hàng. Một
thực tế đáng buồn khi phần thị trường béo bở này lại bị xâu xé hoàn toàn bởi các
công ty nước ngoài.
1.4.2.Các thương hiệu nước ngoài
Các thương hiệu nước ngoài được chia làm 2 loại chính gồm :
- Các thương hiệu nhập khẩu
- Các thương hiệu đã có nhà máy tại Việt Nam
a.Các thương hiệu nhập khẩu
Như đã trình bày ở phần trên, thị trường săm lốp ô tô Việt Nam hiện đang có
sự cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm nước ngoài, đặc biệt tập trung vào phân khúc
lốp radial cho xe du lịch, nơi mà các doanh nghiệp trong nước còn bỏ ngỏ. Có
khoảng hơn 20 thương hiệu quốc tế đã tham gia vào thị trường Việt Nam, trong đó
đáng kể nhất là Michelin, Brigestone với chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiếp đó
là Maxxis, Hancook với giá thành cạnh tranh.
Các thương hiệu hàng đầu thế giới : Michelin (Pháp), Brigestone (Nhật),
Goodyear (Mỹ),… Được sản xuất với công nghệ hàng đầu thế giới, với chất lượng
tuyệt hảo, được sở hữu các sản phẩm này là mong muốn của nhiều chủ xe. Hiện
nay, tại Việt Nam, hai thương hiệu đang có sự phát triển mạnh mẽ nhất là Michelin.
Các sản phẩm của Michelin xuất hiện tại Việt Năm từ năm 2001, cho đến
3/11/2009, công ty Michelin Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước ngoặt quan
trọng trong sự phát triển mạnh mẽ của thương hiệu này tại Việt Nam. Michelin hiện
đang nắm giữ 10% thị phần lốp ô tô Việt Nam, là đối thủ đáng gờm cho mọi thương
hiệu lốp
Đặc điểm
- Sản phẩm có chất lượng cao do được sản xuất bởi những công nghệ hàng
đầu thế giới. Với hơn 100 năm kinh nghiệm trong việc thiết kế lốp, Michelin không
ngừng sáng tạo, hoàn thiện để cung cấp đến cho khách hàng những sản phẩm hoàn
hảo và đáng tin cậy nhất. Các sản phẩm của Michelin được đánh giá cao về độ bền,
- Giá thành cao : giá lốp Michelin nói riêng, và các sản phẩm từ các thương
hiệu còn lại khá cao so với mặt bằng chung. Đây là một trở ngại cho khách hàng khi
lựa chọn các sản phẩm này.
Ngoài Michelin, các thương hiệu còn lại cũng đang hướng sự quan tâm của
mình hơn tới thị trường Việt Nam, trong đó, đáng kể nhất là Brigestone – thương
hiệu số một thế giới về lốp xe, đang xây dựng nhà sản xuất với công suất 24.700
lốp/ ngày tại khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng) – và dự kiến sẽ đi vào hoạt
động từ 2014.
Các thương hiệu châu Á : Maxxis(Đài Loan), Falken (Nhật), Hancook (Hàn
Quốc),… Được nhập khẩu và phân phối bởi các doanh nghiệp Việt Nam như công
ty TNHH Hưng Triều Tiên ( Công ty Duy Linh
(www.duylinh.vn), Công ty TNHH Cương Lazang,… Với chất lượng tốt và giá
thành không quá đắt như các sản phẩm của Michelin, Brigestone, những sản phẩm
này đang là sự lựa chọn phù hợp với các chủ xe.
21
Đặc điểm :
- Chất lượng đã được khẳng định : được sản xuất từ những nền công nghiệp
hàng đầu châu Á, những thương hiệu kể trên mang đến cho khách hàng sự an tâm
về chất lượng. Ví dụ thương hiệu Maxxis (Đài Loan), đã có hơn 45 năm tồn tại và
phát triển với 20.000 nhân viên trên toàn thế giới, sản phẩm có mặt trên 150 quốc
gia, là đối tác của các hãng xe lớn như Toyota, Ford, công ty GM, Huyndai,
Voflwagen, …
- Giá thành phù hợp hơn với thị trường Việt Nam : đây là lợi thế lớn của các
thương hiệu này khi phải cạnh tranh với các thương hiệu nổi tiếng khác tại Việt
Nam
Bảng 3 : So sánh giá của Falken, Hancook, Michelin và Brigestone
Size Mã lốp Falken Hancook Michelin Brigestone
Size13 165/65R13 861 662 1030 982
Size13 175/70R13 798 893 1131 1086
Size14 185/65R14 1020 1181 1578 1342