Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
NGUYỄN QUỐC THÁI
MỘT SỐ KIỂU LỖI THƢỜNG GẶP
TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
khảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn là trung thực và chƣa từng công bố ở
bất kì công trình nào khác. Tác giả Nguyễn Quốc Thái
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN iv
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 12
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
6. Cấu trúc của luận văn 15
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 16
1.1. Khái quát về văn bản và văn bản mắc lỗi 16
1.1.1. Sơ lƣợc về văn bản 16
1.1.2. Văn bản mắc lỗi 21
1.2. Khái quát về văn bản hành chính - công vụ và văn bản báo cáo 30
1.2.1. Sơ lƣợc về loại văn bản hành chính - công vụ 30
1.2.2. Sơ lƣợc về kiểu văn bản báo cáo 32
1.2.3. Vài nét về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính 35
1.3. Tiểu kết 36
Chƣơng 2: PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÁC KIỂU LỖI TRONG VĂN
BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT 38
2.1. Kết quả khảo sát các lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 38
2.1.1. Nhận xét chung 38
2.1.2. Bảng tổng kết các loại lỗi trong văn bản báo cáo đã thống kê 40
2.2. Miêu tả các kiểu lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
chủ thể ban hành 40
Bảng 2.4: Bảng tổng kết lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày 42
Bảng 2.5: Bảng tổng kết số lỗi thể thức và lỗi kĩ thuật trình bày theo chủ
thể ban hành báo cáo 42
Bảng 2.6: Lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản phân loại theo chủ thể
ban hành báo cáo 43
Bảng 2.7: Bảng tổng kết lỗi thể thức trong văn bản báo cáo đã khảo sát 44
Bảng 2.8: Bảng tổng kết loại lỗi thể thức tính theo kiểu văn bản báo cáo 44
Bảng 2.9: Báo cáo mắc lỗi thể thức đƣợc phân loại theo chủ thể ban hành 45
Bảng 2.10: Bảng tổng kết lỗi thể thức theo các kiểu báo cáo và theo 10
thành phần thể thức và chủ thể ban hành báo cáo 45
Bảng 2.11: Bảng tổng kết lỗi kỹ thuật trình bày trong văn bản BC đã khảo sát 52
Bảng 2.12: Bảng tổng kết loại lỗi kỹ thuật trình bày theo kiểu văn bản BC 53
Bảng 2.13: Báo cáo mắc lỗi kỹ thuật trình bày đƣợc phân loại theo chủ thể
ban hành 53
Bảng 2.14: Bảng tổng kết lỗi kỹ thuật trình bày văn bản theo 10 thành phần
thể thức và chủ thể ban hành báo cáo 54
Bảng 2.15: So sánh kỹ thuật định lề trang, đánh số trang, số phụ lục của
văn bản báo cáo khối đảng và khối quản lý nhà nƣớc 64
Bảng 2.16: Bảng tổng hợp lỗi sử dụng phƣơng tiện ngôn ngữ trong BC 66
Bảng 2.17: Bảng tổng kết lỗi chính tả trong các báo cáo đƣợc phân loại
theo cấp ban hành 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
Bảng 2.18: Bảng tổng kết các kiểu lỗi về từ theo kiểu văn bản và chủ thể
ban hành 69
Bảng 2.19: Số lƣợng câu mắc lỗi chia theo kiểu báo cáo và tỉ lệ % tính theo
số câu mắc lỗi 72
phƣơng cho thấy có khá nhiều văn bản báo cáo mắc lỗi. Những lỗi này rất đa
dạng: đó có thể là lỗi về thể thức văn bản và kĩ thuật trình bày; cũng có thể là
lỗi sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ, nhƣ lỗi sử dụng các yếu tố ngữ âm, lỗi
dùng từ hay lỗi đặt câu, v.v
Theo điều tra bƣớc đầu của chúng tôi, đến nay chƣa thấy có một công trình
nghiên cứu nào dành riêng cho việc tìm hiểu tình hình mắc lỗi trong văn bản
báo cáo một cách kĩ lƣỡng và bài bản, mặc dù nhƣ đã nói, đây là một kiểu văn
bản quen thuộc và đƣợc dùng thƣờng xuyên trong giao tiếp hành chính.
1.2. Lí do chủ quan
Là ngƣời làm việc tại Ban Tuyên giáo của một tỉnh, chúng tôi thƣờng
xuyên đƣợc nhận văn bản báo cáo cũng nhƣ thƣờng xuyên phải viết báo cáo.
Đứng từ góc độ ngƣời nhận báo cáo, chúng tôi thấy tình trạng văn bản báo
cáo mắc lỗi, đặc biệt là lỗi sử dụng ngôn ngữ nhiều khi đã gây ra những cách
hiểu văn bản khác nhau cho ngƣời tiếp nhận báo cáo.
Đứng từ góc độ ngƣời viết báo cáo, chúng tôi cũng ý thức đƣợc tầm quan
trọng của văn bản báo cáo và cái khó khăn của những ngƣời viết báo cáo.
Muốn viết đƣợc một văn bản báo cáo tốt, ngƣời viết không những phải nắm
đƣợc thể thức cũng nhƣ kỹ thuật trình bày nội dung mà còn phải biết sử dụng
các phƣơng tiện ngôn ngữ sao cho đúng, cho hay. Bởi vậy, chọn đề tài “Một số
kiểu lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo tiếng Việt” để nghiên cứu, ngƣời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
viết hy vọng luận văn có thể làm tƣ liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên
cứu hay viết báo cáo, giúp họ tránh đƣợc những lỗi không đáng có trong sử
dụng ngôn ngữ khi tạo lập kiểu văn bản này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu văn bản báo cáo
Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều tài liệu bàn về cách viết văn bản, vấn
của từng thể thức nói trên, có kèm theo mẫu và ví dụ minh họa để ngƣời viết
văn bản có thể lấy đó làm căn cứ.
(3) Qui định số 251-QĐ/TW, ngày 31 tháng 7 năm 2009 của Ban Bí thƣ
“Qui định về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư” đã trình bày ba chƣơng
với ba nội dung lớn :
+ Chƣơng 1, Qui định chung: Chƣơng này gồm ba điều: 1) Đối tƣợng
điều chỉnh, 2) Thể loại và yêu cầu báo cáo, 3) Hình thức báo cáo, thẩm quyền
ký báo cáo và thời hạn báo cáo.
+ Chƣơng 2, Nội dung báo cáo: Chƣơng này gồm 4 điều: 1) Báo cáo
chung, 2) Báo cáo quí, báo cáo sơ kết 6 tháng và báo cáo tổng kết năm, 3) Báo
cáo chuyên đề, 4) Báo cáo đột xuất và các báo cáo khác.
+ Chƣơng 3, Tổ chức thực hiện: Chƣơng này gồm 2 điều: 1) Trách nhiệm
thực hiện, 2) Hiệu lực thi hành.
Quy định này là một trong những tài liệu quan trọng mà ngƣời viết các văn
bản hành chính - công vụ, trong đó có báo cáo cần tìm hiểu kỹ.
(4) Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ “về công tác văn thư”, Nghị định này gồm 6 chƣơng nêu những điều khoản
về công tác văn thƣ. Trong đó, chƣơng II là chƣơng qui định cụ thể về hình
thức văn bản, các thành phần thể thức và cách soạn thảo các văn bản thuộc
phong cách hành chính – công vụ. Theo Nghị định này, thể thức văn bản hành
chính - công vụ đƣợc qui định cụ thể căn cứ vào từng loại văn bản (Nghị định
chia thành 4 loại): văn bản quy phạm pháp luật, thể thức văn bản chuyên
ngành, thể thức văn bản của tổ chức chính trị - xã hội, văn bản trao đổi với cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân nƣớc ngoài đƣợc thực hiện theo thông lệ quốc tế.
(Xin xem điều 5, chƣơng II của Nghị định).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
(5) Hƣớng dẫn số 11-HD/VPTW, ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn
5
đƣa ra một số mẫu văn bản hành chính - công vụ, trong đó có báo cáo. Những
quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính và bản sao văn
bản đƣợc quy định tại Thông tƣ liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày
06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hƣớng dẫn thể
thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trái với Thông tƣ này bị bãi bỏ.
(8) Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ “về công tác văn thư” có quy định hình thức, thể thức văn bản của tổ chức
chính trị, chính trị - xã hội do ngƣời đứng đầu cơ quan Trung ƣơng của tổ chức
đó quy định. Chúng tôi đã khảo sát qui định về thể thức văn bản của một số tổ
chức chính trị - xã hội, cụ thể nhƣ sau:
- Hƣớng dẫn số 29-HD/TWĐTN-VP, ngày 29 tháng 10 năm 2013 của
Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về “thể thức văn bản của
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” có qui định văn bản chính thức của Đoàn bắt buộc
phải có đủ 8 thành phần thể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có các
thành phần thể thức bổ sung nhƣ: dấu chỉ mức độ mật; dấu chỉ mức độ khẩn;
các chỉ dẫn về phạm vi phổ biến, giao dịch, bản thảo và tài liệu hội nghị. Nhƣ
vậy thể thức văn bản của Đoàn về cơ bản giống thể thức văn bản của Đảng.
- Quy định về thể loại văn bản, thể thức và thẩm quyền ban hành các loại
văn bản của tổ chức Công đoàn ban hành kèm theo Quyết định số 1013/QĐ-
TLĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2011 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã
liệt kê 22 thể loại văn bản và một số loại giấy tờ hành chính khác. Về thể thức,
văn bản này qui định văn bản của tổ chức Công đoàn các cấp có 8 thành phần
thể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có các thành phần thể thức bổ
sung. Qui định này không khác nhiều so với Hƣớng dẫn số 11-HD/VPTW,
ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn phòng Trung ƣơng Đảng “Hướng dẫn về
thể thức văn bản của Đảng”.
- Tƣơng tự nhƣ trên, Hƣớng dẫn số 15-HD/VP, ngày 24 tháng 01 năm
2011 của Văn phòng Trung ƣơng Hội Nông dân Việt Nam cũng liệt kê 8 thành
Bàn về soạn thảo báo cáo, Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý
kinh tế và quản trị kinh doanh đã nêu các thành phần thể thức và những qui
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
định về kỹ thuật trình bày văn bản báo cáo. Theo đó, 10 thành phần bắt buộc và
1 thành phần bổ sung đƣợc hƣớng dẫn cách viết khá kỹ.
Cũng nhƣ các tài liệu nói trên, cuốn giáo trình này chƣa nói đến vấn đề
mắc lỗi trong báo cáo.
(11) Cuốn “Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan nhà nước”, Nhà
xuất bản Lao động, H. 2008 của tác giả Tạ Hữu Ánh là tài liệu trình bày tƣơng đối
tỉ mỷ về các loại văn bản hành chính - công vụ thƣờng gặp.
Cuốn sách đã nêu đƣợc những vấn đề chung về văn bản, nhƣ: Văn bản là
gì, khái niệm văn bản quản lí nhà nƣớc, khái niệm văn bản hành chính. Ý
nghĩa, tác dụng của văn bản, phân loại văn bản theo hình thức, thẩm quyền của
cơ quan, tổ chức ban hành hình thức văn bản. Theo đó, bốn kiểu văn bản đƣợc
tác giả bàn khá kĩ trong công trình này bao gồm: Văn bản qui phạm, văn bản
hành chính, văn bản chuyên ngành và văn bản của tổ chức chính trị - xã hội.
Báo cáo là một trong số 23 kiểu văn bản hành chính đƣợc cuốn sách nhắc
đến. Tác giả quan niệm: “Báo cáo là một hình thức văn bản dùng để gửi cho
cấp trên để tường trình hoặc xin ý kiến về một hoặc một số vấn đề, vụ việc nhất
định; để sơ kết, tổng kết công tác của một cơ quan, một tổ chức; để trình bày
một vấn đề, một sự việc hoặc một đề tài trước hội nghị hoặc trước một người
hay một cơ quan có trách nhiệm theo chế độ đã qui định”.
Ngoài việc nêu khái niệm, cuốn sách của tác giả Tạ Hữu Ánh còn phân
loại báo cáo thành nhiều kiểu theo chức năng và nhiệm vụ của chúng. Theo tác
giả, một văn bản báo cáo muốn có chất lƣợng phải đảm bảo ba yêu cầu cơ bản:
1) Trung thực, chính xác, 2) Thông tin phải đầy đủ, có chọn lọc, có tính tổng
hợp và 3) Kịp thời.
cách sửa các kiểu lỗi thƣờng gặp trong các văn bản hành chính - công vụ nói
chung, trong văn bản báo cáo nói riêng.
2.2. Tình hình nghiên cứu về các kiểu lỗi văn bản và lỗi thường gặp trong văn
bản báo cáo
2.2.1. Tình hình nghiên cứu về các kiểu lỗi văn bản
Có thể nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về
các kiểu lỗi văn bản nói chung, bao gồm cả văn bản báo cáo. Dƣới đây là một số
công trình tiêu biểu:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
(1) Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng Việt thực
hành, Nxb ĐHQG, H.1997: Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả không
nói cụ thể thế nào là một văn bản mắc lỗi, song theo các tác giả, để tạo lập đƣợc
một văn bản tốt, ngoài những kỹ năng khác, ngƣời viết cần phải có kỹ năng phát
hiện và chữa các lỗi về chính tả, dùng từ, viết câu và viết đoạn văn.
- Lỗi chính tả gồm những lỗi, nhƣ: viết sai qui tắc viết hoa, viết sai kí tự ghi
âm các âm vị, phiên âm tiếng nƣớc ngoài, v.v…
- Lỗi dùng từ bao gồm những lỗi nhƣ: dùng từ sai vỏ âm thanh, dùng từ sai
do không hiểu nghĩa, dùng từ không đúng khả năng kết hợp của từ, dùng từ thừa,
dùng từ không đúng phong cách, v.v…
- Lỗi về câu bao gồm những lỗi nhƣ: lỗi cấu tạo câu, lỗi sử dụng dấu câu , lỗi
về ngữ nghĩa, v.v…
- Lỗi về đoạn văn gồm những kiểu lỗi tiêu biểu, nhƣ: đoạn văn thiếu ý, đoạn
văn lặp ý, đoạn văn mâu thuẫn ý, đoạn văn sử dụng phƣơng tiện liên kết sai, v.v…
Theo đó, văn bản nào mắc những lỗi trên sẽ bị xếp vào loại văn bản mắc lỗi.
(2) Nguyễn Đức Dân, (2002), Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb ĐHQG
Tp HCM: Cũng nhƣ các tác giả vừa dẫn ở (1), tác giả Nguyễn Đức Dân quan tâm
đến vấn đề sử dụng chuẩn các phƣơng tiện ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năng viết câu
Công nghệ Thông tin về thực trạng mắc lỗi chính tả trong văn bản tiếng Việt và
kết luận lỗi chính tả trong văn bản ở một số ban ngành “đã ở mức báo động, vượt
quá cao với tiêu chuẩn”. Tác giả nêu rõ, tình trạng văn bản mắc lỗi không chỉ thấy
ở những văn bản do cấp địa phƣơng ban hành mà ngay cả ở những văn bản của
“… các cơ quan thuộc Bộ cũng có tỷ lệ lỗi chính tả khá cao. Đặc biệt, có đơn vị
có tỷ lệ mắc lỗi gần 40% như Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm…”.
Bài báo này còn bình luận: “ Ý tưởng ngô nghê, ngôn từ phản cảm, thậm chí
là quá mức đời thường đang xuất hiện ngày một nhiều trong các công thư nhân
danh cơ quan nhà nước, tổ chức nghề nghiệp… khiến tính trang nghiêm và chuẩn
mực vốn có của văn bản này bị ảnh hưởng nghiêm trọng…”.
Nhƣ vậy, vấn đề văn bản mắc lỗi không phải là vấn đề xa lạ với chúng ta. Chỉ
có điều nó chƣa đƣợc quan tâm một cách đúng mức để tìm ra những giải pháp hạn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
chế lỗi khi soạn thảo văn bản nói chung, soạn thảo văn bản báo cáo nói riêng một
cách tốt nhất.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu về lỗi trong các văn bản báo cáo
Nhƣ đã nói ở mục Lí do chọn đề tài, đến nay chƣa có một công trình nghiên
cứu nào dành riêng cho việc nghiên cứu lỗi trong văn bản báo cáo một cách công
phu, bài bản. Tuy vậy, về vấn đề này cũng có một vài bài báo với tƣ cách “tản
văn”, xin dẫn hai bài báo:
(1) Bài “Giật mình vì ông chủ tịch”, đăng tải trên ,
ngày 05-7-2013: Bài báo nói về lỗi trong văn bản báo cáo của ông Chủ tịch Hiệp
hội Vận tải ô - tô Hà Nội gửi Ban Thƣờng vụ Thành ủy và UBND Tp Hà Nội về
tình hình điều chuyển phƣơng tiện nhằm giảm tải cho bến xe Mỹ Đình dẫn tới dƣ
luận không tốt của nhiều ngƣời.
Lỗi của văn bản báo cáo này là đã đƣa ra những “lƣu ý hết sức ngô nghê”,
nhƣ: “… ngoài ra cũng cần phải lưu ý đến các mối quan hệ: Thái Bình là quê của
Tóm lại, thực trạng viết những văn bản hành chính nói chung, văn bản báo
cáo nói riêng mắc lỗi đang ở mức “báo động”. Hiện tƣợng soạn thảo văn bản
mắc lỗi không chỉ gặp ở cấp địa phƣơng mà còn gặp ở cả cấp Trung ƣơng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những kiểu lỗi thƣờng gặp trong văn
bản báo cáo tiếng Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Về ngữ liệu khảo sát
Văn bản báo cáo đƣợc luận văn chọn làm ngữ liệu khảo sát lỗi thuộc các cơ
quan, đơn vị sau:
- Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng, Chính phủ; của một số
Bộ, Ban, ngành và cơ quan ở Trung ƣơng (nhƣ: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ
Công Thƣơng, Uỷ ban Dân tộc, Ban Tuyên giáo Trung ƣơng, Ban Tổ chức
Trung ƣơng, Ban Dân vận Trung ƣơng, Trung tâm Thông tin công tác Tuyên
giáo Ban Tuyên giáo Trung ƣơng, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
thuật Trung ƣơng, Bộ Tƣ pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn
phòng Trung ƣơng Đảng, Bộ Nội vụ, Bộ Giao thông vận tải).
- Báo cáo của một số sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan Đảng, chính
quyền các tỉnh, thành phố: Thái Nguyên, Bình Định, Bắc Kạn, Cần Thơ, Thừa
Thiên – Huế, Bắc Giang, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang.
- Báo cáo của cơ quan Đảng, chính quyền cấp huyện thuộc các tỉnh,
thành phố: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Thừa Thiên – Huế, Hải Dƣơng, thành phố
Hồ Chí Minh, Bắc Giang.
- Báo cáo của một số phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện thuộc các
tỉnh: Thái Nguyên, Bình Định, Hải Dƣơng, Hà Nội.
- Phân tích, miêu tả các kiểu lỗi văn bản báo cáo đã thống kê và tổng kết
kết quả nghiên cứu;
- Phân tích nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất hƣớng sửa lỗi.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đặt ra, luận văn sẽ sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc
dùng để thống kê lỗi trong các văn bản báo cáo chọn làm ngữ liệu khảo sát. Sau
khi đã có số liệu lỗi chính xác, luận văn dùng phƣơng pháp phân loại để chia
các lỗi đã thống kê thành các nhóm theo các tiêu chí.
- Phương pháp miêu tả: Sau khi phân loại các lỗi thành từng nhóm, luận
văn tiếp tục sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu này để miêu tả từng kiểu lỗi,
nhằm làm rõ đặc điểm của chúng.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phƣơng pháp nghiên cứu này vừa
đƣợc dùng để phân tích các kiểu lỗi trong quá trình miêu tả chúng, vừa đƣợc
dùng để phân tích nguyên nhân mắc lỗi của ngƣời viết văn bản. Sau khi đã
phân tích các lỗi và nguyên nhân mắc lỗi, luận văn dùng phƣơng pháp tổng hợp
để khái quát hóa kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phƣơng pháp nghiên cứu này trƣớc hết
đƣợc dùng để so sánh tần số xuất hiện của các kiểu lỗi trên các kiểu văn bản
báo cáo, xem loại lỗi nào ngƣời viết thƣờng mắc và loại lỗi nào ngƣời viết ít
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
mắc, từ đó tìm nguyên nhân mắc lỗi. Tiếp đến, phƣơng pháp nghiên cứu này
còn đƣợc dùng để so sánh tình trạng viết văn bản báo cáo của các chủ thể viết
báo cáo, chẳng hạn, xem chủ thể viết báo cáo là ngƣời làm việc ở cấp Trung
ƣơng hay ngƣời ở cấp tỉnh, v.v…
6. Cấu trúc của luận văn
toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những mối quan hệ và
liên hệ ấy”. [28]
Nhà Việt ngữ học Bùi Minh Toán lại đƣa ra một cách hiểu về văn bản:
“ Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chủ yếu ở
dạng viết, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính
hoàn chỉnh về hình thức, tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục đích giao
tiếp nhất định”. [31]
Hai tác giả Đình Cao và Lê A định nghĩa văn bản từ góc nhìn của môn
Làm văn nhƣ sau:
“ Văn bản là một hệ thống gồm một chuỗi câu được sắp xếp theo hình tuyến
và có tổ chức chặt chẽ. Trong đó mỗi câu là một đơn vị liên kết của văn bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
17
Các văn bản tổ hợp, gắn bó với nhau tạo thành một cấu trúc hoàn chỉnh, nhằm
thực hiện một ý đồ giao tiếp chung”. [13].
Các định nghĩa của các tác giả dẫn trên tuy có chỗ khác nhau nhƣng đều
thống nhất ở chỗ:
- Văn bản là một đơn vị có qui mô lớn hơn câu. Mỗi câu là một đơn vị liên
kết của văn bản;
- Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và chủ yếu
ở dạng viết;
- Các đơn vị của văn bản liên kết với nhau chặt chẽ tạo thành một cấu trúc
hoàn chỉnh cả hình thức lẫn nội dung.
Luận văn này hiểu văn bản theo tinh thần cơ bản của tác giả Bùi Minh Toán:
Văn bản là một đơn vị có qui mô lớn hơn câu (trừ ngoại lệ) và mang
những đặc trưng cơ bản như: tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình
thức và tính liên kết.
1.1.1.2. Đặc trưng của văn bản