nghiên cứu lựa chọn điều kiện thích hợp đến khả năng sinh enzyme ngoại bào manganese peroxidase, phân hủy thuốc nhuộm từ chủng nấm sợi aspergillus sp. fbh11 - Pdf 24



BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
~~~~~~*~~~~~~
CHÂU NGỌC ĐIỆP Đề tài:
Nghiên cứu lựa chọn điều kiện thích hợp đến khả
năng sinh enzyme ngoại bào manganese peroxidase
(MnP), phân hủy thuốc nhuộm từ chủng nấm sợi
Aspergillus sp. FBH11 LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC



Hà Nội – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Đặng Thị
Cẩm Hà - Nguyên Trưởng phòng Công nghệ sinh học môi trường - Viện Công nghệ sinh học
- Viện Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam. Người đã hướng dẫn luận văn cho tôi, cô đã tận
tình chỉ bảo, quan tâm, giúp đỡ và dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành công trình này, cung cấp nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa
học.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tận tình chỉ bảo, ủng
hộ của các cán bộ, anh, chị, em tại Phòng Công nghệ Sinh học môi trường như: HVCH.
Nguyễn Nguyên Quang, TS. Nguyễn Bá Hữu, , HVCH. Đàm Thúy Hằng, KS Nguyễn Quang
Huy, ThS. Đào Ngọc Ánh. Tôi cũng nhận được làm việc và thực hiện một phần của luận văn
tại Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia về công nghệ gen, Viện Công nghệ Sinh học.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo giảng dạy thuộc Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn
bè đã ủng hộ, động viên giúp đỡ tôi cả về tinh thần và vật chất để tôi có thể hoàn thành luân
Châu Ngọc Điệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1,2,3,4,6,7,8,9-OCDD 1,2,3,4,6,7,8,9-octachlorodibenzo-p-dioxin
2,3,7,8-TCDD 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin
2,4,5-T 2,4,5-trichlorophenoxyacetic acid
2,4-D 2,4-dichlorophenoxyacetic acid
2,7-DCDD 2,7-dichlorodibenzo-p-dioxin
ABTS axít 2,2’-azino-bis 3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic
BTEX Nhóm chất vòng thơm gồm benzene, toluene, ethylbenzene và DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.2 Phân hủy các chất ô nhiễm bởi nấm và các enzyme của chúng 25
Bảng 2.1

Các loại màu được sử dụng trong nghiên cứu

30
Bảng 2.2 Môi trường phân lập các chủng nấm sợi 31
Bảng 2.3 Môi trường sàng lọc chủng nấm sợi có khả năng sinh enzyme
ngoại bào MnP
32
Bảng 3.1 Hình thái khuẩn lạc của các chủng nấm đã được phân lập 44
Bảng 3.2 Hoạt tính MnP, LiP và laccase của 4 chủng nấm được tuyển
chọn
47
Bảng 3.3 Hoạt tính MnP của chủng FBH11 trong lên men rắn 68
Bảng 3.4 Hoạt tính enzyme MnP thô còn lại trong quá trình loại màu
sau 4 ngày
76
Bảng 3.5 Độ bền pH của MnP từ chủng FBH11 78


49
Hình 3.3 Mối quan hệ giữa sự phát triển và sinh MnP của chủng FBH11
trên môi trường cao malt sau 8 ngày
50
Hình 3.4 Ảnh hưởng của pH môi trường lên sinh trưởng và phát triển của
chủng FBH11
52
Hình 3.5 Ảnh hưởng của pH môi trường nuôi cấy lên sự phát triển và sinh
enzyme MnP của chủng FBH11
53
Hình 3.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự phát triển của chủng nấm FBH1

54
Hình 3.7 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên khả năng sinh enzyme
MnP của chủng FBH11
54
Hình 3.8 Ảnh hưởng của các chất ô nhiễm khác nhau lên sinh trưởng của
chủng FBH11

55
Hình 3.9 Ảnh hưởng của các chất ô nhiễm khác đến khả năng sinh
MnP của chủng FBH11

56
Hình 3.10 Ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết malt lên sự phát triển của
chủng nấm FBH11 chủng FBH11

57
Hình 3.11 Ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết malt lên khả năng sinh enzyme


69
Hình 3.21 Hoạt tính enzyme MnP của chủng FBH11 trong quá trình lên men
lỏng trong bioreactor
70
Hình 3.22 Khả năng loại màu các loại thuốc nhuộm của chủng FBH11 sau
6 ngày
71
Hình 3.23 Khả năng loại màu màu thuốc nhuộm của chủng FBH11 sau 6
ngày nuôi
73
Hình 3.24 Hoạt tính MnP của chủng FBH11 trên môi trường nuôi cấy chứa
các màu khác nhau theo thời gian
74
Hình 3.25 Khả năng phân hủy màu thuốc nhuộm của MnP thô từ chủng
FBH11
75
Hình 3.26 pH tối ưu của MnP từ chủng FBH11 77
Hình 3.27 Ảnh hưởng của pH đệm lên hoạt tính của MnP từ chủng FBH11 77
Hình 3.29 Ảnh hưởng của nhiệt độ ủ lên hoạt tính của enzyme MnP 79
Hình 3.30 Ảnh hưởng của nhiệt độ ủ lên độ bền của MnP 80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỤC LỤC

Lời cảm ơn

i
Lời cam đoan



I.1.3 Các hợp chất dioxin chứa clo (PCDDs) 5

I.1.4

Thuốc nhuộm và vi sinh vật phân hủy thuốc nhuộm

6

I.1.5 Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm đang
được áp dụng tại Việt Nam
12

I.2 Tình trạng ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin ở Việt Nam 14

I.3 Tác hại của chất diệt cỏ/ dioxin đối với môi trường và con người 14

I.4 Sự phân hủy chất diệt cỏ/dioxin 15

I.4.1 Sự phân hủy chất diệt cỏ/dioxin trong môi trường 15

I.4.2 Phân hủy chất diệt cỏ/dioxin và quá trình đồng trao đổi chất ở nấm 15

I.5 Các phương pháp tẩy độc 18

I.5.1 Phương pháp tẩy độc bằng nhiệt 18

I.5.2 Phương pháp quang hóa, hóa học 18

I.5.3 Phương pháp khử độc bằng công nghệ phân hủy sinh học 19


27

6.3 MnP sinh ra từ xạ khuẩn

28

6.4 MnP sinh ra từ vi khuẩn

28

PHẦN II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

30

I Vật liệu
30

I.1 Nguyên liệu

30

I.2 Hoá chất

30

I.3 Thiết bị và máy móc thí nghiệm
31

II Phương pháp nghiên cứu


II.2.4 Phương pháp xác định hoạt tính MnP, LiP và laccase của vi sinh
vật
35

II.2.4.1 Xác định hoạt tính manganese peroxidase
35

II.2.4.2 Xác định hoạt tính enzyme lignin peroxidase
36

II.2.4.3 Xác định hoạt tính laccase
37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

II.2.5 Chọn lọc môi trường thích hợp
38

II.2.6 Khảo sát các điều kiện môi trường ảnh hưởng đến khả năng phát
triển và sinh MnP của chủng FBH11
38

II.2.7 Phương pháp lên men rắn
40

II.2.8 Lên men bằng bioreactor
41

II.2.9 Phương pháp đánh giá khả năng loại màu thuốc nhuộm của chủng

III.3.1 Lựa chọn môi trường thích hợp cho sự sinh tổng hợp enzyme
MnP của chủng FBH11
47

III.3.2 Mối quan hệ giữa sự phát triển và khả năng sinh MnP của chủng
FBH11 theo thời gian
50

III.3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH môi trường nuôi cấy đến sự phát
triển và khả năng sinh MnP
51

III.3.3.1 Ảnh hưởng của pH môi trường nuôi cấy
51

III.3.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ
53

III.3.4 Ảnh hưởng của một số chất ô nhiễm
55

III.3.5 Ảnh hưởng của nồng độ cao malt
57

III.3.6 Ảnh hưởng của một số nguồn nitơ
58

III.3.7 Ảnh hưởng của nồng độ NH
4
Cl


III.6.2 Khả năng loại màu thuốc nhuộm bằng dịch enzyme MnP thô
74

III.7 Một số tính chất của enzyme MnP từ chủng FBH11
76

III.7.1 pH tối ưu và độ bền pH
76

III.7.1.1 pH tối ưu
76

III.7.1.2 Độ bền pH
78

III.7.2 Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của MnP thô và độ bền nhiệt
78

III.7.2.1 Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của MnP thô
78

III.7.2.2 Độ bền nhiệt
79

KẾT LUẬN
81

KIẾN NGHỊ
82

độc hóa học là một nhiệm vụ hết sức cần thiết. Nhóm nghiên cứu các hợp chất khó
phân hủy (POP) - Viện Công nghệ sinh học đã và đang tiến hành nghiên cứu và triển
khai ứng dụng công nghệ phân hủy sinh học trong các hố chôn lấp tích cực (tức là cô
lập, hấp phụ kết hợp với kích thích sinh học) để xử lý đất nhiễm chất diệt cỏ chứa
dioxin tại sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa. Trong 11 năm nghiên cứu bằng công nghệ
phân hủy sinh học 50-70% tổng độ độc đã bị loại bỏ trong thời gian 2 năm [3]. Công
trình tẩy độc 3384 m
3
đất nhiễm chất diệt cỏ/dioxin tại sân bay Biên Hòa bằng công
nghệ phân hủy sinh học đã được thực hiện từ năm 2009 và đang trong quá trình quan
trắc và đánh giá hiệu quả khử độc.
Một trong bốn cơ chế phân hủy dioxin hay POP nói chung, cơ chế xúc tác phá
vỡ cấu trúc của dioxin và các chất vòng thơm khác gần đây đang rất được quan tâm.
Vì vậy phân lập và tuyển chọn những chủng vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp
enzyme ngoại bào để thúc đẩy việc xử lý khử độc đã được nhóm tác giả tiến hành
nghiên cứu.
Hệ enzyme ngoại bào thường được trong xử lý sinh học đất và sử dụng enzyme
ngoại bào cho các quá trình xử lý các chất hữu cơ khác là một định hướng rất quan
trọng, chúng có khả năng phá vỡ các liên kết trong các hợp chất hữu cơ hoặc xúc tác
chuyển hóa chúng thành các chất ít độc hơn và các dạng dễ phân hủy hơn. Nhóm
enzyme ngoại bào có vai trò lớn trong quá trình phân hủy các hợp chất khó phân hủy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

gồm có laccase (Lac), manganese peroxidase (MnP), lignin peroxidase (LiP), trong đó
enzyme MnP là một trong những enzyme có khả năng ứng dụng cao.
Trên thế giới, ba loại enzyme MnP, LiP và Lac được nghiên cứu nhiều nhất và
tập trung trên đối tượng nấm đảm. Như đã đề cập ở trên tại Việt Nam, việc nghiên cứu
và ứng dụng ba loại enzyme nói trên mới bắt đầu trong vài năm gần đây nhất là trên
đối tượng chất độc hóa học chất diệt cỏ chứa dioxin chưa có nhiều nghiên cứu. Do đó,
việc nghiên cứu và tìm ra được các loại enzyme ngoại bào sinh tổng hợp từ các chủng

4, Lên men rắn, lên men lỏng trong bioreactor, thu dịch enzyme để thử nghiệm xử lý
các chất vòng thơm trong đó có thuốc nhuộm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Axit 2,4,5-trichlorophenoxyacetic là chất diệt cỏ có độc tính cực mạnh, làm
nhiễm độc thai nhi, gây quái thái, ưng thư và gây nhiễm độc tuyến sinh dục Theo các nghiên cứu trước đây thì thời gian bán hủy của 2,4,5-T trong đất là 12-59
ngày [16], gần bề mặt nước là 15 ngày [17]. Tuy nhiên, đất tại các căn cứ quân sự cũ
của Mỹ ở sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa vẫn bị nhiễm 2,4-D và 2,4,5-T với nồng độ rất
cao. [20].
I.1.2 Chất diệt cỏ 2,4-D
2,4-D có công thức hóa học C
8
H
6
Cl
2
O
3
được Giáo sư Krauss, trưởng khoa sinh
vật trường đại học Chicago tình cờ phát hiện ra vào năm 1941. Chất này khi phun lên
cây lá rộng nó sẽ làm trụi lá trong khoảng từ 24÷48h sau đó cây sẽ bị chết [13]. Thông
thường 2,4-D là một tinh thể không màu, nhiệt độ nóng chảy là 129,25
o
C, độ hòa tan
trong nước ở 20
o
C là 0,5 g/l [Technical Factsheet on: 2,4 -D]. 2,4-D là một chất gây
độc trên diện rộng cho môi trường và con người, làm rụng lá và gây chết cây. Các triệu
chứng khi bị nhiễm 2,4-D thường là gây bỏng rát da mắt, phát ban, nôn mửa, chóng
mặt đau đầu, sưng tấy cỏ họng, khó thở… Ngoài ra, các nhà khoa học ở trường đại học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
10
7

Hình 1.2 Cấu trúc hóa học của PCDDs

Đặc tính độc đối với người và động vật của các hợp chất dioxin là khác nhau.
2,3,7,8-TCDD là chất độc nhất đối với động vật có vú, trong 75 chất dioxin khác thì
chỉ có 7 chất là tính độc tương tự như 2,3,7,8-TCDD. Độ độc của những chất khác
được tính theo đương lượng độc (TEQ-toxic equivalent) của 2,3,7,8-TCDD dựa vào hệ
số đương lượng độc (TEF-toxic equivalent factor). Tổng độ độc của hỗn hợp chất
dioxin được đo bằng tổng đương lượng độc của các chất riêng lẽ trong hỗn hợp [13].
Để so sánh mức độ gây độc của các chất, WHO dùng chỉ số TEF để đánh giá (Phụ lục
1).
PCDDs trong tự nhiên được sinh ra từ những lò đốt rác, cháy rừng, cháy nhiên
liệu và là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất chất diệt cỏ trong công nghiệp [8].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2,3,7,8-TCDD nguyên chất có dạng chất rắn hoặc tinh thể không màu, không
mùi. Công thức hóa học C
12
H
4
O
2
C
l4
, khối lượng phân tử 321,97 g/mol, tỷ trọng 1,643
g/cm
3

bền vững và các cặn hữu cơ khác từ các nguồn nước thải [51]. Một số phương pháp
hóa-lý học đã được sử dụng để loại bỏ màu trong nước thải nhưng các phương pháp
này thường có chi phí cao, giới hạn trong việc ứng dụng và tạo ra một lượng bùn lớn.
Ngày nay, việc sử dụng các kỹ thuật sinh học hiện đại trong xử lý các vấn đề ô nhiễm
khác nhau đang trở nên tốt hơn và phân hủy sinh học (bioremendiation) được quan tâm
nhiều hơn do tính hiệu quả về lợi ích lâu dài và hầu như không ảnh hưởng có hại đến
môi trường. Các nhà khoa học công nghệ đã chứng minh được rằng phương pháp này
có tính hiệu quả kinh tế hơn các phương pháp hóa lý [51].
Thuốc nhuộm sử dụng trong công nghiệp thường có nguồn gốc từ tổng hợp hóa
học và có cấu trúc phân tử đa vòng thơm làm cho chúng ổn định hơn, khó phân hủy
sinh học. Các nhóm màu khác nhau như azo, triphenylmethan và phthalocyanine đã
làm cho màu của thuốc nhuộm có cấu trúc đa dạng. Hơn 50% chúng được sử dụng
trong công nghiệp. Bên cạnh đó, một điều không mong muốn là các loại nước thải nhà
máy dệt, giấy, thuộc da… bị ô nhiễm màu rất cao, hầu hết các màu và các sản phẩm
phân huỷ của chúng là độc [47]. Ngoài ảnh hưởng đến thị giác và tác động bất lợi do
nhu cầu oxy hóa học của màu thuốc nhuộm, nhiều loại màu tổng hợp còn thể hiện tính
độc, gây ung thư và đột biến gene. Đặc biệt là các màu tổng hợp có lưu huỳnh và các
sản phẩm phân hủy liên quan đến chúng có chứa các nguyên tố cấu trúc, đặc tính chưa
được biết rõ hay rất hiếm trong tự nhiên; chúng không chỉ có ảnh hưởng xấu đến thẩm
mỹ mà còn kháng lại sự tấn công của VSV và tăng tính độc của nước và đất [75]. Nếu
như các loại nước thải này không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường thì sẽ cản
trở sự khuyếch tán của ảnh sáng vào nguồn nước gây ảnh hưởng tới khả năng quang
hợp của hệ thuỷ sinh thực vật, ô nhiễm nguồn nước sông hồ và nguy hại nhất là ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của cộng đồng dân cư lân cận [47].
Nhóm màu azo là các màu quan trọng và được xác định nhờ sự hiện diện của 1
hoặc nhiều nhóm azo (-N = N-) và tạo thành một lớp màu lớn nhất được ứng dụng
rộng rãi trong công nghiệp dệt, giấy, thuộc da, xăng dầu, công nghiệp thực phẩm và
mỹ phẩm [66].
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển, trong đó các ngành công nghiệp
may mặc, dệt nhuộm và in ấn đang phát triển rất mạnh. Đi đôi với sản lượng và năng

vào loài nấm đảm Phanerochaete chrysosporium, loài mày được biết đến với khả năng
khoáng hóa một phạm vi lớn các hợp chất khó phân hủy. Nhiều chủng nấm khác nhau
đã chứng tỏ khả năng hoạt động của chúng đạt hiệu quả cao trong quá trình loại màu
thuốc nhuộm, hầu hết nhóm vi sinh vật này thuộc vào chi nấm mục trắng. Thuốc
nhuộm được loại bỏ bởi sự hấp phụ của nấm và bị khoáng hóa bởi hệ enzyme ngoại
bào (LiP, MnP, MIP, Lac) [77].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Nhiều loài nấm sợi khác nhau không phân hủy lignin thuộc chi Aspergillus đã
được chứng minh khả năng loại được nhiều màu khác nhau. Chủng Aspergillus sojae
B10 thể hiện khả năng loại màu azo amaranth, congo red và sudan III trong môi
trường nghèo nitơ sau 3-5 ngày nuôi cấy [60]. Nghiên cứu cũng chứng minh được khả
năng loại màu của chủng Aspergillus alliaceus 121C với hai màu indigo và congo đỏ
cho hiệu quả rất tốt sau 9 ngày nuôi cấy [26]. Nhiều chủng nấm sợi phân hủy gỗ khác
như Aspergillus fumigatus G-2-6 và Aspergillus oryzae cũng thể hiện khả năng loại
nhiều màu ở một phạm vi lớn. Nấm sợi Aspergillus ochraceus NCIM-1146 thể hiện
hiệu quả loại màu thuốc nhuộm màu xanh lục và xanh cotton khi sử dụng hệ sợi của
nấm sau khi nuôi cấy 96 h [62]. Sự loại màu và phân hủy màu thuốc nhuộm xanh hòa
bình đậm 25 bởi A. ochraceus NCIM-1146 và xác định sản phẩm phân hủy của nó,
cũng như giám sát việc sinh tổng hợp enzyme ngoại bào Lac, tyrosinase và LiP trong
dịch nuôi cấy trong quá trình loại màu đã được nghiên cứu [55]. Chủng Pinicillium
ochorochloron MTCC 517 trong quá trình phân hủy màu sinh học màu xanh
triphenylmethan ngoài sinh LiP loài nấm này còn sinh laccase, mà không thấy sự xuất
hiện của enzyme ngoại bào MnP [65]
Rất ít nghiên cứu thực hiện xử lý loại màu bởi nấm men. Chỉ tìm thấy một vài
đại diện nấm men Ascomycetous như Candida zeylanoides, C. tropicalis,
Debaryomyces polymorphus và Issatchenkia occidentalis thực hiện phân hủy màu
bằng hệ enzyme và loại màu các thuốc nhuộm azo khác nhau [50]. Loài nấm men
Debaryomyces polymorphus có khả năng loại được 4 màu Reactive Red M-3BE,
Procion Scharlach H-E3G, Procion Marine H-EXL và Reactive Brillant Red K-2BP

Azo

NY1
519,6
10
520 NY5
580,6
20
600 Azo
NY7 467,8
Azo IN13 637,7 45 560 Azo IN22 1232,0 20

Các yếu tố được cân nhắc khi lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho nước thải
dệt nhuộm là: hiệu quả xử lý, hiệu quả kinh tế, tính chất và lưu lượng nước thải, thành
phần và nồng độ các chất ô nhiễm có trong nước thải,
Nhìn chung, phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm được áp dụng phổ biến ở
các cơ sở dệt nhuộm ở nước ta hiện nay chủ yếu là 3 phương pháp và thường được ứng
dụng riêng rẽ hoặc kết hợp để xử lý nước thải dệt nhuộm là: phương pháp hóa lý,
phương pháp oxy hóa bậc cao và phương pháp sinh học.
Quá trình xử lý hóa lý với phương pháp keo tụ - tạo bông, tuyển nổi và hấp phụ
thu được hiệu quả cao trong việc khử độ màu và giảm nồng độ BOD [26]. Tuy nhiên,
nhược điểm của phương pháp này là chi phí hóa chất cao và lượng bùn sinh ra lớn (0,5
- 2,5 kg TS/ m
3
nước thải xử lý)
Trong quá trình xử lý nước thải dệt nhuộm bằng phương pháp oxy hóa bậc cao,
các chất oxy hóa thường được sử dụng là chlorine (Cl
2
), hydroxy peroxide (H
2
O
2
), và
ozone (O
3
), với Cl
2
được đánh giá là chất oxy hóa kinh tế nhất [58’]. Nhược điểm của
phương pháp oxy hóa bậc cao là chi phí đầu tư và chi phí vận hành cao, không thích
hợp để xử lý nước thải dệt nhuộm có nồng độ chất ô nhiễm lớn.
Bên cạnh đó, quá trình xử lý sinh học với bùn hoạt tính hiếu khí và kỵ khí cũng
có thể được sử dụng để xử lý nước thải dệt nhuộm với hiệu quả cao, tuy nhiên nhược

rừng Trường Sơn trên một không gian rộng lớn khoảng 17 triệu hecta của miền Nam
Việt Nam. Sau nhiều năm chiến tranh đã kết thúc, lượng chất độc còn lại trong môi
trường rất lớn, có nồng độ dioxin và 2,4,5-T trong đất và trầm tích rất cao tại các điểm
nóng là các căn cứ quân sự cũ của Mỹ [12].
Các thống kê được tiến hành tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức đã chỉ ra rằng,
trong các bệnh nhân mà họ đã từng phơi nhiễm chất diệt cỏ trong chiến tranh thì tỷ lệ
ung thư chiếm 67%. Tỷ lệ này là 28% đối với nhóm người không bị phơi nhiễm. Cũng
trong báo cáo này, trong các năm từ năm 1952-1981, tỷ lệ sẩy thai tự nhiên của sản
phụ tại Việt Nam tăng lên cùng với cường độ của quá trình rải chất độc hóa học của
quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam [24].
Dioxin còn là nguyên nhân gây ra hàng loạt bệnh lý như chứng ban clo, sạm da,
các loại ung thư phân mềm (hodgkin, lymphoma, sarcoma co trơn v.v…), đa u tủy, các
loại ung thư đường hô hấp trên và ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến, dị tật bẩm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Cơ chế hoạt động của MnP 468 10 Thời gian (ngày)ME + NH4Cl
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status