i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lưu Thị Ngọc Huyền, Phó
trưởng Bộ Môn Sinh Học Phân Tử, Viện Di Truyền Nông Nghiệp – Bộ Nông
Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn. Cô là người trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ
bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đồ án.
Tôi xin gửi đến thầy, Th.S Lê Phương Chung lời cảm ơn sâu sắc nhất.
Thầy đã truyền cho tôi những kiến thức, chỉ hướng đi tốt nhất trong công việc
cũng như tận tụy hướng dẫn tôi trong học tập để đồ án của tôi được hoàn thiện.
Đặc biệt xin ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ: Ban Giám Hiệu, Ban Giám
Đốc Viện cùng các thầy cô giáo trong Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học và Môi
Trường – Trường Đại học Nha Trang, các anh chị trong Viện Di Truyền Nông
Nghiệp – Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đồ án này.
Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè. Chính họ
là nguồn cổ vũ, động viên, là chỗ dựa để tôi có thể hoàn thành đồ án.
Sinh Viên Nguyễn Thị Thu Thủy
ii
iii
2.3.2. Môi trường nuôi tảo 28
2.3.3. Phương pháp lưu giữ và bảo quản giống tảo 28
2.3.3.1. Lưu giữ trên môi trường thạch 29
2.3.3.2. Lưu giữ giống trên môi trường lỏng 30
2.3.4 Xác định các điều kiện tối ưu để nuôi cấy tảo N.Oculata 30
2.3.4.1 Quy trình nuôi cấy dự kiến 30
2.3.4.2. Phương pháp xác định mật độ tảo 32
2.3.4.3 Xác định nhiệt độ tối ưu 33
2.3.4.4 Xác định cường độ ánh sáng tối ưu. 34
2.3.4.5 Xác định độ mặn tối ưu 35
2.3.4.6 Xác định chu kỳ chiếu sáng tối ưu 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1. Kết quả phân lập tảo N.Oculata 38
3.2. Lưu giữ, bảo quản và nhân giống tảo N. Oculata 39
3.2.1 Lưu giữ và bảo quản giống 39
3.2.2 Nhân giống các cấp 40
3.3. Ảnh hưởng của các điều kiện tối ưu đến sinh trưởng, phát triển của tảo
N.Oculata 41
3.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 41
3.3.2 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng 45
3.3.3 Ảnh hưởng của độ mặn 48
3.3.4 Ảnh hưởng của chu kỳ chiếu sáng 51
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 54
1. Kết luận 54
2. Đề xuất 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 52
phát triển của tảo N. Oculata 37
Hình 3.1. Quá trình phân lập giống tảo thuần N.Oculata đã được phân lập 38
Hình 3.2. Lưu giữ tảo trên môi trường thạch nghiêng và môi trường lỏng trong tủ
lạnh (A và B) hoặc trong môi trường lỏng ánh sáng yếu ở nhiệt độ 25
o
C (C và D).40
Hình 3.3. Tảo giống các cấp 41
Hình 3.4. Biến động mật độ trung bình tảo N. Oculata theo nhiệt độ 43
Hình 3.5. Biến động mật độ tảo N. Oculata theo cường độ ánh sáng 45
Hình 3.6. Lô thí nghiệm nuôi tảo tại các cường độ ánh sáng khác nhau 46
Hình 3.7. Biến động mật độ tảo N. Oculata theo độ mặn khác nhau 48
Hình 3.8. Lô thí nghiệm nuôi tảo ở các độ mặn khác nhau 25‰ (A), 30‰ (B) và
35‰ (C) 50
Hình 3.9. Biến động mật độ tảo N. Oculata theo chu kỳ chiếu sáng khác nhau 51
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
% Phần trăm
‰ Phần nghìn
H Giờ
& Và
Tb/ml Tế bào/mililít
ml, L Mililít, Lít
T
o
Nhiệt độ
CĐCS Cường độ chiếu sáng
ĐM Độ mặn
cứu một số điều kiện thích hợp cho nuôi trồng tảo N.Oculata".
Mục tiêu của đề tài là phân lập, bảo quản và nghiên cứu các điều kiện thích
hợp để nuôi trồng loài tảo N.Oculata. Từ đó đề xuất quy trình hoàn thiện nuôi sinh
khối tảo N.Oculata.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về vi tảo
Vi tảo là những sinh vật xuất hiện sớm trên trái đất, trải qua hàng tỷ năm
tiến hóa, được xem như là sinh vật có cấu trúc hình thái đa dạng nhất [33]. Sự
phân bố và nơi sống của vi tảo rất đa dạng, chúng có thể sống và phát triển ở
các vùng ẩm ướt, thủy vực, biển sâu cho đến các vùng có băng tuyết và sa
mạc nóng bức
Chúng có kích thước hiển vi mà mắt thường không nhìn thấy được và
có chứa ít nhất một loại sắc tố chlorophyll - chlorophyll 1. Là một cấu
thành quan trọng của các sinh vật phù du, tạo nên năng suất sơ cấp của
thủy vực và giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự phát triển của
hệ sinh thái [24].
Là sinh vật có khả năng quang hợp, tạo ra các sản phẩm hữu cơ từ các
chất vô cơ (H
2
O, CO
2
) nhờ vào khả năng hấp thu năng lượng ánh sáng mặt
trời [4]. Do vậy, ở trong các thủy vực vi tảo tạo nên năng suất sơ cấp khởi đầu
trong chuỗi thức ăn, nền đáy của tháp dinh dưỡng trong hệ sinh thái. Không
giống với thực vật bậc cao, vi tảo là những sinh vật đơn bào, tập đoàn hay
dạng sợi phát triển đơn giản, hệ số vòng đời ngắn, tốc độ sinh trưởng nhanh,
Mặt khác sử dụng vi tảo đang được mở rộng trong các lĩnh vực khác
nhau và được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu công nghệ sản xuất vi tảo
đại trà.
Vào đầu năm 1940 ở Đức bắt đầu có những thực nghiệm nuôi trồng đại
trà Chlorella sau khi người ta thấy tế bào tảo này có tới 50% protein trong
sinh khối khô và có khả năng tăng sinh khối gấp nhiều lần trong ngày [30].
Đầu những năm 1950 các nhà khoa học Mĩ đã bắt đầu nuôi đại trà tảo Chlorella.
4
Năm 1953, các nhà khoa học Đức đã nghiên cứu khả năng dùng CO
2
, phế thải
của nhà máy công nghiệp vùng Rhur để nuôi trồng tảo Chlorella và
Scenedesmus acutus.Nghiên cứu này được giáo sư Soeder và cộng sự được tiếp
tục tiến hành trong nhiều năm sau đó. Cũng loài tảo này, năm 1957, Tamiya và
cộng sự ở Viện Sinh học Tokugama (Tokyo) đã công bố các kết quả nuôi trồng
tảo Chlorella ở ngoài trời và cũng từ Chlorella họ chiết ra một hợp chất gọi là
“nhân tố sinh trưởng Chlorella” cùng với 15 loại vitamin khác nhau, được ứng
dụng rộng rãi trong y học [37].
Năm 1960 tại Tiệp Khắc các nhà khoa học đã xây dựng một mô hình nuôi
tảo đại trà Scenedesmus trên nền bể có độ nghiêng 3
0
và tạo dòng chảy nhờ bơm
kĩ thuật Cascade. Mô hình bể này được ứng dụng thành công tại Rupite,
Bungart- một địa danh có suối nước nóng nổi tiếng để sản xuất đại trà tảo
Chlorella và Scenedesmus. Ở Nhật Bản đã sản xuất tảo Chlorella đạt sản lượng
1100 tấn/năm và Trung Quốc sản xuất 2798 tấn/năm tảo Spirulina để xuất khẩu.
Đầu năm 1960, vi khuẩn lam Spirulina lần đầu tiên được phát hiện tại
hồ Tchad, Châu Phi và nhanh chóng được các nhà khoa hcoj pháp nuôi đại
trà Mehico.
phát triển kể từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ 20, với thành công trong công trình
của Lê Viễn Chí về ứng dụng nuôi tảo Skeletonema costatum làm thức ăn
trong các trại sản xuất tôm giống ở Hạ Long [9].
Năm 1995, Hoàng Thị Bích Mai đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn,
nhiệt độ ánh sáng, hàm lượng muối dinh dưỡng lên sinh trưởng, phát triển và
6
đưa ra quy trình nuôi hai loài tảo Skeletonema costatum và Chaetocerosp làm
thức ăn cho ấu trùng tôm sú. Năm 1996, Lê Viễn Chí nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học, công nghệ nuôi tảo Silic Skeletonema costatum làm thức ăn
cho ấu trùng tôm biển. Trần Thị Tho và cộng sự (2000) đã tiến hành những thí
nghiệm nuôi đại trà Chlorella pyrenoidosan tại bể 10 m
3
đối với môi trường
đạm vô cơ có bổ sung hữu cơ (0.4% bột cá) và dịch triết đất (1%).[7]
1.2.3. Giá trị dinh dưỡng của vi tảo
Tảo đóng góp nguồn sinh khối sơ cấp khổng lồ. Việc nghiên cứu giá trị
dinh dưỡng của tảo đang ngày càng được chú trọng. Với kỹ thuật nuôi đơn
giản, thời gian sản xuất hầu như quanh năm. Sinh khối thu được có giá trị
dinh dưỡng cao với hàm lượng protein đạt 40 - 50%, Lipid (7,2 - 23%),
Cacbohidrate (4,6 - 27%) [17], đầy đủ các axit amin đặc biệt là các axit amin
không thay thế, giàu các vitamin, các nguyên tố khoáng, các chất khoáng, các
sắc tố và nhiều chất có hoạt tính sinh học khác [23].
Mười loại vitamin đã tìm thấy ở vi tảo, trong đó hàm lượng vitamin C và
vitamin B12 là cao nhất, tiếp theo là các vitamin A, D, E, K. Các vi tảo còn
được coi là nguồn giàu axít ascorbic (0,11 - 1,62% trọng lượng khô) [35].
Hàm lượng Protein trong mỗi tế bào vẫn được xem là một trong những
yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị dinh dưỡng của vi tảo dùng làm thức
ăn trong nuôi trồng thủy sản. Protein cũng được chứng minh là thành phần
nhạy cảm nhất với những biến động của môi trường nuôi hơn những thành
D. bioculata 49 8 4 Eddy (1956)
Euglena gracilis 39 – 61
14 - 20 14 - 18 Collyer (1955)
Skeletonema sp 37 4.7 20,8 Parson (1961)
Chaetoceros sp 35 6,9 66 Parson (1961)
Nanochloropsis Oculata
35 18 7,8 Brown (1991)
Tetrselmis chui 31 10 12 Brown (1991)
Isochrysis galbana 20 23 12,9 Brown (1991)
1.2.4 Ứng dụng của vi tảo
Nói đến vi tảo, đặc biệt là vi tảo biển, đã có nhiều công trình nghiên cứu
trên thế giới cho biết rằng tảo có vai trò rất quan trọng trong nghề nuôi trồng
thủy sản đặc biệt ở giai đoạn ở ấu thể [33].
Bên cạnh đó, Tảo còn là mắt xích thức ăn đầu tiên của chuỗi thức ăn
ngoài tự nhiên, chúng là thức ăn không thể thay thế cho giai đoạn ấu trùng và
8
trong suốt giai đoạn trưởng thành của động vật thân mềm. Đối với ấu trùng
giáp xác và ấu trùng một số loài cá, tảo cũng chính là thức ăn bắt buộc ở giai
đoạn sớm.
Ngoài vai trò làm thức ăn cho động vật thủy sản, tảo còn sản xuất ra
lượng lớn khí ôxy hoà tan vào ban ngày góp phần làm ổn định nhiệt độ và pH
trong môi trường của các ao,hồ khi tiến hành nuôi chung với động vật thủy sản.
Tảo còn được sản xuất đại trà để chiết suất các hoạt chất như: vitamine,
lipid, các sắc tố (carotenoit, chlorophyll (a, b, c1, c2), phycobiliprotein),
cacbohydrat, và một số chất chống ôxy hoá khác.
Có thể nói rằng hiện nay, tảo được khai thác dưới góc độ là nguồn thức ăn
thì công nghệ nuôi trồng và sử dụng tảo đang ngày càng phát triển mạnh mẽ
đặc biệt là việc sử dụng tảo để sản xuất sản phẩm chức năng có giá trị như:
Tảo xoắn (Spirulina) rất giàu protei ,các vitamin nhóm B, hàm lượng vitamin
B12 cao gấp 2 lần trong gan bò, aroten cao gấp 10 lần trong củ cà rốt. Ngoài
ra tảo xoắn còn chứa các khoáng vi lượng (coban, kẽm, sắt ) và chất chống
oxy hoá: betacaroten và carotenoid. Đặc biệt kẽm và các acid amin có trong
tảo xoắn giúp tăng cường khả năng hoạt động tình dục ở nam giới, làm cân
bằng dinh dưỡng, tổng hợp các chất nội sinh, tăng hormon và điều hòa sinh
lý, khiến cho người đàn ông có một "sức mạnh" tự nhiên, bền vững. Với phụ
nữ, ngoài tác động làm tăng rõ rệt hormon nữ, Tảo xoắn còn giúp giảm cân,
làm đẹp da và giảm nếp nhăn bằng cách “trong uống ngoài thoa”. Với những
giá trị dinh dưỡng và sinh học đặc biệt như thế Tảo xoắn được coi là thực
phẩm chức năng, một thức ăn cho sức khoẻ, đặc biệt có tác dụng rất tốt cho
người cao tuổi.
10
*Nguồn phân bón sinh học
Phân bón chứa nitơ được coi là yếu tố hạn chế trong sản xuất lương
thực. Người ta dự báo nhu cầu phân bón của các nước đang phát triển khoảng
gần 100 triệu tấn/năm trong đó 30% là phân nitơ. Với việc cố định nitơ từ
khồn khí, tảo có vai trò rất quan trọng trong chu trình biến đổi nitơ.Hiện nay
trên thế giới đang chú ý đến việc sử dụng tảo Lam để cố định đạm. Nhiều các
tác giả( De Singh, Watanabe, Venkataraman ) đã chỉ ra rằng: ở cánh đồng lúa
và đất nhiệt độ tảo Lam là yếu tố chủ yếu tạo nên sự căn bằng đạm và sự màu
mỡ của đất đai. Tảo năng cao hiệu quả của Azotobacter, kích thích sự phát
triển của các loài vi khuẩn Azotobacter, Clostridium. Như vậy tảo đã khích lệ
hệ vi sinh vật cố định đạm.
*Tảo trong xử lý nước thải
Theo Wilde & Beneman(1997) đã nghiên cứu một số chủng vi tảo đã
qua chọn lọc có tiềm năng rất lớn trong việc giảm ô nhiễm kim loại nặng
trong nước thải công nghiệp. Việc phát triển cố định tế bào là bước đột phá
bao bọc bởi 2 lớp màng trong đó lớp màng ngoài dính liền với màng nhân [24]. Hình 1.1 Hình ảnh của N.Oculata qua kính hiển vi.
12
Do những loài này đều có kích thước nhỏ, hình cầu không di động,
không biểu hiện bất kỳ các điểm đặc trưng về hình thái học, khó phân biệt
được dưới kính hiển vi điện tử hoặc kính hiển vi quang học nên phân loại
những loài này bằng phương pháp hình thái học rất khó, do đó phải dựa trên
kỹ thuật di truyền bằng việc phân tích các trình tự gen. Chi tảo này khác biệt
với những chi tảo khác là không có chlorophyll b và c [27], nhưng có khả
năng tạo một số loại sắc tố có hàm lượng cao là astaxanthin, zeaxanthin và
canthaxanthin [20].
1.2.5.3. Đặc điểm sinh lý
Nannochloropsis sp. là một chi thuộc dạng phiêu sinh vật tự dưỡng,
trong tế bào có các hợp chất chlorophylls [24]. N.Oculata là loài vi tảo sống
tối ưu trong môi trường nước mặn, tuy nhiên đôi khi cũng hiện diện trong môi
trường nước ngọt hay nước lợ [26]. Hình dạng của loài tảo này thường không
thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể trong các môi trường này. N.Oculata có
khả năng thích nghi khá rộng ở các dải nhiệt độ và độ mặn khác nhau. Đặc
biệt, chúng có thể thích nghi tốt trong điều kiện nhiêt độ thấp [20]. Điều kiện
sinh trưởng tốt nhất của N.Oculata khoảng 20 - 25
o
C và độ mặn khoảng 22 -
29‰ [29],[27].
Ở nước ta, N.Oculata thường phân bố chủ yếu ở các vùng biển có nhiệt
độ từ 20 - 30
tế bào vi tảo, đó là galactolipid, phospholipid và lipid trung tính. Galactolipid
của N.Oculata giàu các acid béo C20:5 và C20:4, kết hợp với C16:0 và
C16:1, một lượng nhỏ C14:0. Lipid trung tính của Nannochloropsis sp. thì
chủ yếu là các triacylglycerol, gồm các acid béo C16:0 và C16:1, một ít acid
béo C14:0 và C18:0. Phospholipid của N.Oculata giàu C16:1, một lượng đáng
kể C18:1 và C18:4[4].
14
Đồ thị trên chứng tỏ rằng Nannochloropsis Oculata là loài vi tảo quang
tự dưỡng phù hợp cho việc sản xuất acid eicosapentaenoic (C20:5; EPA). Vì
vậy, Nannochloropsis Oculata được xem là nguồn acid béo chưa bão hòa C3
quan trọng cho con người [4].Dưới các điều kiện môi trường khác nhau, tỷ lệ
các thành phần lipid và acid béo trong tế bào vi tảo có thể thay đổi[35].
1.2.5.5. Đặc điểm sinh trưởng
Trong điều kiện thuận lợi của môi trường về dinh dưỡng, ánh sáng, độ
mặn và nhiệt độ, các loài vi tảo sinh sản theo kiểu phân cắt tế bào, do vậy số
lượng tế bào tăng lên một cách nhanh chóng. Theo Lavens & Sorgeloos
(1996) [25],sự sinh trưởng của vi tảo N.Oculata cũng giống như các loài vi
tảo khác, được đặc trưng bởi 5 giai đoạn (pha):
Pha thích nghi (I): pha này vi tảo bắt đầu làm quen với môi trường nuôi, hấp
thụ chất dinh dưỡng và bắt đầu phân chia tế bào nhưng số lượng tế bào tăng chậm.
Pha logarit(II): hay còn gọi là pha tăng trưởng theo hàm số mũ số lượng
tế bào tăng theo cấp số nhân. Vi tảo ở giai đoạn này hấp thụ dinh dưỡng
mạnh. Mật độ vi tảo tăng trưởng theo hàm logarit.
Pha giảm tốc độ sinh trưởng(III): pha này môi trường dinh dưỡng có
chiều hướng giảm mạnh cùng với mật độ tế bào cao sẽ làm tốc độ sinh sản
giảm tuy vậy số lượng tế bào vẫn còn tăng.
Pha cân bằng(IV): hay còn gọi là pha ổn định, là khi vi tảo đạt mật độ
cực đại và số lượng ổn định.
Pha suy vong(V): hay còn gọi là pha sụp đổ, là sau khi vi tảo đạt mật độ
cực đại, khả năng sinh sản giảm dần và số lượng tảo giảm một cách rõ rệt,
16
Dunaliella, Tetraselmis suecica, là những loài vốn được sử dụng làm nguồn
cung vitamin E [19].
b. Vai trò của tảo N.Oculata
Tảo N.Oculata nói riêng và các loài vi tảo nói chung có vai trò rất quan
trọng trong hệ sinh thái thủy vực. Ngoài chức năng cung cấp oxy và thức ăn sơ
cấp cho cá và các động vật thủy sinh khác - góp phần bảo vệ môi trường nuôi
thủy sản bằng cách tiêu thụ bớt lượng muối khoáng dư thừa, vi tảo này còn
đóng góp vai trò khá quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống.
Vai trò đầu tiên và quan trọng của loài vi tảo này là làm thức ăn cho ấu
trùng cá biển, nhuyễn thể (ngao, sò huyết, hầu…), luân trùng. Chúng được sử
dụng trong ương nuôi giai đoạn ấu trùng, ấu thể và cả giai đoạn đầu của cá thể
trưởng thành [12]. Trong sản xuất giống thủy sản, nuôi sinh khối tảo N.
Oculata được xem là một khâu quan trọng và đã được ứng dụng rộng rãi trong
các trại giống.
Hình 1.4. Các đối tượng sử dụng thức ăn là vi tảo biển [24]
17
o
C, nhiệt độ tối ưu là 25
o
C [10]. Nhìn chung, nhiệt độ ảnh
hưởng lên vi tảo N.Oculata bởi 2 yếu tố chính: nhiệt độ tác động lên cấu trúc
tế bào và nhiệt độ ảnh hưởng lên tốc độ phản ứng trao đổi chất của tảo [7].
Trong quá trình sản xuất đại trà việc lựa chọn thời điểm nuôi trồng thích hợp
là rất cần thiết, quyết định đến năng suất sinh khối của tảo.
b. Yếu tố ánh sáng
Ánh sáng là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong đời sống
thực vật nói chung và của vi tảo nói riêng. Ánh sáng là nguồn năng lượng
18
cho quá trình quang hợp, giúp tảo hấp thụ carbon vô cơ để chuyển hóa thành
các hợp chất hữu cơ cần thiết để duy trì và phát triển cơ thể như protein,
đường, lipid
Cũng giống như các loài vi tảo khác, ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp lên
sinh trưởng và phát triển của tảo N.Oculata và được xem xét ở các khía cạnh:
cường độ ánh sáng và chu kỳ sáng tối.
Cường độ ánh sáng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình quang
hợp của vi tảo. Cường độ ánh sáng thấp, tế bào vi tảo sinh trưởng và phát
triển chậm, ngược lại cường độ chiếu sáng mạnh thì sự sinh trưởng và phát
triển của tảo sẽ diễn ra nhanh hơn và tảo sẽ đạt được mật độ cao hơn. Tuy
nhiên, cường độ ánh sáng quá mạnh có thể ức chế quá trình quang hợp của
tảo, ức chế sự sinh trưởng của tế bào. Cường độ chiếu sáng cao hay thấp phụ
thuộc vào thể tích nuôi, ở thể tích nhỏ thì cường độ ánh sáng cần thiết khoảng
1000 lux, nhưng ở thể tích nuôi lớn hơn thì khoảng 5000 – 10000 lux [25].
Các sản phẩm tổng hợp được trong quang hợp phụ thuộc nhiều vào chu
kỳ chiếu sáng. Mặc dù nuôi trồng vi tảo phát triển bình thường dưới ánh sáng
tự nhiên. Nhưng tùy theo mục đích thu hoạch tảo mà chu kỳ chiếu sáng sẽ
được điều chỉnh cho phù hợp. Chu kỳ chiếu sáng nhân tạo trong nuôi sinh
, KNO
3
), nhóm phốt pho (một số hợp chất muối phốt pho
NaH
2
PO
4,
KH
2
PO
4
), các nguyên tố vi lượng (hợp chất chứa Co, Cu, Fe…),
vitamin (B6, B12, B1…) và một số nhóm chất khác.
Nitơ chiếm từ 1- 10% trọng lượng khô tế bào tảo, nitơ là thành phần cơ
bản cấu tạo nên các loại protein, trong đó có protein cấu trúc và protein chức
năng, hình thành các thành phần của thành, màng và tế bào tảo. Ngoài ra, nitơ
còn tham gia vào cấu tạo của nhiều loại vitamin B1, B2, B6, BP là thành phần
quan trọng của hệ men oxy hóa khử và nhiều men quan trọng khác. Tảo
N.Oculata không có khả năng cố định N
2
mà chỉ có thể sử dụng nitơ dưới
dạng NO
-
3
và NH
+
4
[7].Trong quá trình nuôi cần phải đảm bảo nhu cầu về
hàm lượng muối nitơ cho vi tảo.
Phốt pho được coi là chìa khóa của quá trình trao đổi chất. Hàm lượng