Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hoá nền kinh tế, môi trường kinh
doanh mang tính cạnh tranh cao. Mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp cần phải tìm
cho mình hướng đi riêng sao cho phù hợp với xu thế của thị trường, phát huy
được thế mạnh của doanh nghiệp nhằm tối đa hoá lợi nhuận và phát triển hơn
nữa trong tương lai.
Thực tế cho thấy rằng NVL là một trong ba yếu tố của quá trình sản
xuất: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động, và NVL chiếm tới
trên 60% giá thành sản phẩm, do đó nguồn NVL dù thiếu hay thừa cũng đều
gây tổn thất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại nhà máy.
Nếu thiếu nguyên liệu sẽ dẫn tới tình trạng đình chệ trong hoạt động
sản xuất từ đó gây thiệt hại cho nhà máy do không khai thác hết nguồn lực,
máy móc thiết bị, nhân lực,…Nhưng thừa nguồn nhiên liệu cũng phát sinh các
chi phí như chi phí bảo quản, chi phí lưu kho, chi phí ứ đọng vốn,…. Như vậy
việc xác định chính xác lượng NVL cần thiết để tổ chức mua sắm là rất quan
trọng đối với nhà máy.
Xuất phát từ sự ảnh hưởng không nhỏ của công tác quản trị cung ứng
NVL tới hoạt động SXKD nhà máy nên hoàn thiện nội dung công tác quản trị
cung ứng NVL vì nếu làm tốt công tác này mang lại hiệu quả không nhỏ trong
sản xuất do xác định chính xác nhu cầu nguyên liệu, giảm thiểu được các chi
phí không cần thiết như chi phí đặt hàng, chi phí lưu kho, chi phí bảo quản,
chi phí vốn,…
Qua một thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế tại nhà máy Luyện Gang
em thấy hoạt động quản trị cung ứng NVL chưa thực sự hiệu quả. Do đó em
chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị cung ứng
nguyên vật liệu của nhà máy Luyện Gang” để làm đề tài cho khoá luận.
1
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
2. Mục đích nghiên cứu
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CUNG ỨNG
NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm và vị trí của nguyên liệu đối với quá trình sản xuất
a. Khái niệm: Nguyên vật liệu là phạm trù mô tả các loại đối tượng lao
động được tác động vào để biến thành sản phẩm (dịch vụ).
b. Vị trí: Cơ sở để cấu thành thực thể của sản phẩm là nguyên vật liệu.
Nó là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất (Tư liệu lao động, đối
tượng lao động, sức lao động). Nguyên vật liệu chính là bộ phận chủ yếu tạo
ra thực thể của sản phẩm được chế tạo, do vậy việc nghiên cứu hoạt động
quản trị cung ứng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất có ý nghĩa kinh tế
to lớn. Cung cấp kịp thời và đầy đủ về số lượng và chất lượng các loại nguyên
vật liệu là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho quá trình tái sản xuất được diễn ra
liên tục và không bị gián đoạn.
1.2 Đặc điểm của nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu giữ vị trí quan trọng
và chiếm phần lớn trong chi phí sản xuất của sản phẩm. Nguyên vật liệu là đối
tượng lao động, dưới tác động của con người và máy móc nguyên vật liệu
thay đổi hình thái vật chất ban đầu. Mọi loại NVL đều chỉ tham gia một lần
vào quá trình sản xuất sản phẩm (dịch vụ). Sự tham gia này có thể dẫn đến
quá trình biến dạng NVL theo ý muốn của con người. Ví dụ như mía cây bị
ép để thành nước mía. NVL cũng có thể bị tiêu biến đi về mặt vật chất,…
chẳng hạn như xăng đưa vào làm nhiên liệu cho các phương tiện giao thông.
Song giá trị toàn bộ của mọi loại NVL không bị mất đi mà kết tinh vào giá trị
sản phẩm (dịch vụ) được tạo ra từ NVL đưa vào sản xuất.
3
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
nghệ sản xuất sản phẩm, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị hoạt động
trong quá trình sản xuất như: Xăng, dầu, khí đốt, than...
+ Phụ tùng thay thế: Đây là những chi tiết, những phụ tùng dùng để
thay thế sửa chữa cho máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải...
+ Thiết bị xây dựng cơ bản: Là những vật kết cấu, công cụ khí cụ dùng
cho công tác xây lắp, xây dựng cơ bản. Gồm thiết bị cần lắp và không cần lắp.
+ Vật liệu khác: Là các loại vật liệu không được xếp vào các loại kể
trên, các loại vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra, phế liệu thu hồi từ
thanh lý tài sản cố định...
Căn cứ vào yêu cầu quản lý và đặc trưng của từng loại mà trong từng
loại vật liệu lại được chia thành từng nhóm, từng thứ một cách chi tiết. Việc
phân này trong các doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở xây dựng số điểm
danh vật liệu, dùng kí hiệu, mã số thay cho tên gọi quy cách của vật liệu.
Các cách phân loại trên đây chỉ mang tính tương đối, tuỳ từng doanh
nghiệp cụ thể mà người ta coi nó là nguyên vật liệu chính hay vật liệu phụ.
Nhờ cách phân loại này giúp các bộ phận trong doanh nghiệp phối hợp chặt
chẽ trong công tác quản lý và cung ứng nguyên vật liệu, có kế hoạch bảo quản
và sử dụng hợp lý.
Căn cứ vào nguồn hình thành
Nguyên vật liệu bao gồm 3 loại:
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu tự chế biến, gia công
- Nguyên vật liệu do các bên góp liên doanh
Cách phân loại này giúp kế toán có kế hoạch nắm bắt nguồn cung cấp
vật tư, nắm bắt việc hình thành giá nguyên vật liệu trong chi phí nguyên
vật liệu.
5
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
2. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CUNG ỨNG NGUYÊN
2.2.1 Xác định cầu nguyên vật liệu trong kỳ kế hoạch
a, Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu NVL trong kỳ kế hoạch
Kế hoạch dự trữ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
khác nhau. Trước hết đó là kế hoạch sản xuất (tiêu thụ) sản phẩm (dịch vụ)
trên cơ sở cầu thị trường và các nhân tố khác. Thứ hai là định mức tiêu dùng.
Thứ ba là tình hình giá cả và các yếu tố cạnh tranh trên thị trường nguyên vật
liệu. Thứ tư là tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch. Thứ
năm là năng lực kho tàng của doanh nghiệp...
Việc xác định cầu về nguyên vật liệu trong từng thời kỳ còn là kết quả
của sự thoả hiệp giữa nhiều bộ phận quản trị khác nhau trong doanh nghiệp
- Bộ phận tiêu thụ mong muấn có dự trữ thành phẩm nhiều nhằm luôn
thoả mãn các yêu cầu của khách hàng trong mọi tình huống
- Các bộ phận sản xuất muốn có dự trữ nguyên vật liệu, sản phẩm dở
dang cung như bán thành phẩm nhiều nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất
diễn ra liên tục
- Bộ phận tài chính muốn giảm thiểu dự trữ
- Bộ phận quản trị chung không muốn có dự trữ lớn vì như thế không
đảm bảo tính hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
b, Xác định cầu NVL cần thiết cho một thời kỳ kế hoạch gồm có các
phương pháp sau
Thứ nhất:Dựa theo định mức tiêu dùng và sản lượng sản phẩm sản xuất
trong năm kế hoạch
Theo phương pháp này thì kế hoạch mua sắm NVL được xây dựng trên
các căn cứ
- Nhu cầu sản phẩm cần sản xuất
- Định mức tiêu hao NVL
7
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
Ta có công thức:
j
dựa vào kinh nghiệm thực tế sản xuất.
Thứ hai: Hoạch định nhu cầu NVL bằng phương pháp MRP1
• Khái niệm MRP:
Mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh rất nhiều loại sản phẩm khác
nhau và có xu thế ngày càng đa dạng hoá những sản phẩm của mình. Để sản
xuất mỗi loại sản phẩm lại đòi hỏi có một số lượng chi tiết, bộ phận và
nguyên vật liệu rất đa dạng, nhiều chủng loại khác nhau. Hơn nữa lượng
nguyên vật liệu cần sử dụng và những thời điểm khác nhau và thường xuyên
thay đổi. Vì vậy tổng số danh mục các loại vật tư, nguyên liệu và chi tiết bộ
phận mà doanh nghiệp quản lý rất nhiều và phức tạp, đòi hỏi phải cập nhật
thường xuyên. Quản lý tốt nguồn vật tư, nguyên vật liệu góp phần quan trọng
8
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
giảm chi phí sản xuất và hạ gí thành sản phẩm. Lập kế hoạch chính xác nhu
cầu nguyên vật liệu, đúng khối lượng và thời điểm yêu cầu là cơ sở quan
trọng để dự trữ lượng nguyên vật liệu ở mức thấp nhất, nhưng lại là một vấn
đề không đơn giản. Các mô hình quản trị hàng dự trữ chủ yếu là dữ cho mức
dự trữ ổn định mà không tính tới những mối quan hệ phụ thuộc với nhau giữa
NVL, các chi tiết, bộ phận trong cấu thành sản phẩm, đòi hỏi phải đáp ứng
sẵn sàng vào những thời điểm khác nhau. Cách quản lý này thường làm tăng
chi phí. Để đảm bảo yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, giảm thiểu chi phí dự trữ trong quá trình sản xuất, cung cấp những loại
NVL, linh kiện đúng thời điểm khi có nhu cầu, người ta đưa ra phương pháp
hoạch định nhu cầu NVL.
MRP1 là hệ thống hoạch định và xây dựng lịch trình về những nhu cầu
NVL, linh kiện cần thiết cho sản xuất trong từng giai đoạn, dựa trên việc phận
chia nhu cầu NVL thành nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc. Nó được thiết
kế nhằm trả lời các câu hỏi:
- Doanh nghiệp cần những loại NVL, chi tiết, bộ phận gì?
- Cần bao nhiêu?
tại mọi thời điểm khi cần và là phương tiện để phân bổ thời gian sản xuất
hoặc đặt hàng. Những lợ ích này của MRP phụ thuộc rất lớn vào việc khai
thác sử dụng máy tính trong quá trình lưu trữ, thu thập, xử lý và cập nhật
thường xuyên các dữ liệu về NVL. Để MRP có hiệu quả cần thực hiện những
yêu cầu sau:
- Có đủ hệ thống máy tính và chương trình phần mềm để tính toán và
lưu trữ thông tin
- Chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý có khả năng và trình độ về sử dụng
máy tính và những kiến thức cơ bản trong xây dựng MRP
- Đảm bảo chính xác và liên tục cập nhật thông tin mới trong:
10
Trng HKT & QTKD Khúa lun tt nghip
+ Lch trỡnh sn xut
+ Hoỏ n NVL
+ H s d tr NVL
- m bo y v lu gi h s d liu cn thit.
S 1: Quy trỡnh hoch nh nhu cu NVL theo phng phỏp MRP1
11
Đầu vào
Quá trình xử
lý
Đầu ra
Chương trình máy
tính MRP
Lịch trình sản
xuất
Hồ sơ hoá đơn
NVL
Hồ sơ NVL dự
trữ
- Mức phế phẩm cho phép
Những thông tin này được thu thập, phân loại và xử lý bằng chương
trình máy tính. Chúng được thu thập từ 3 tài liệu chủ yếu sau:
- Lịch trình sản xuất
- Bảng danh mục NVL
- Hồ sơ dự trữ NVL
2.2.2 Phương pháp xác định kích cỡ lô hàng, lượng đặt hàng NVL
Cầu về nguyên vật lệu (hàng hoá) của một thời kỳ kế hoạch không
được cung ứng một lần mà phải chia ra làm nhiều lần cung ứng với số lượng
xác định.
Nếu đặt hàng với khối lượng lớn sẽ giảm được số lần đặt hàng, có thể
được giảm giá do mua hàng với số lượng lớn, tiết kiệm được chi phí kinh
doanh đặt hàng, đảm bảo tính chắc chắn của việc cung cấp NVL, loại trừ
được yếu tố tăng giá có thể xảy ra và còn có ý nghĩa đầu cơ khi giá cả NVL
trên thị trường biến động tăng, tạo sơ sở cho việc duy trì mối quan hệ bạn
hàng bền chặt với người cấp hàng,...Tuy nhiên lượng đặt hàng lớn lại dẫn đến
lượng lưu kho lớn, cầu về vốn lưu động lớn điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến
khả năng thanh toán của doanh nghiệp, dẫn đến chi phí kinh doanh trả lãi về
vốn cao, tăng chi phí kinh doanh liên quan đến thuê mượn hoặc mở rộng kho
12
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
tàng, chi phí kinh doanh bảo quản cũng như bảo hiểm NVL. Mặt khác đặt
hàng lớn sẽ dẫn đến thời gian bảo quản dài làm tăng lượng nguyên vật liệu bị
hỏng trước khi đưa vào sử dụng. Như vậy lượng đặt hàng lớn không đem lại
hiệu quả kinh doanh cao.
Nếu đặt hàng với số lượng nhỏ sẽ giảm chi phí kinh doanh lưu kho
song nếu lượng đặt hàng quá nhỏ cũng dẫn đến hiệu quả kinh doanh không
cao vì chi phí kinh doanh bình quân liên quan đến mua sắm và vận chuyển
lớn, hoặc nguyên vật liệu có thể không cung ứng kịp thời cho sản xuất (tiêu
thụ) hoặc phải chấp nhận mua NVL với giá cao.
dự trữ đạt tới mức thấp nhất có thể được. Đây là chính sách cỡ lô mà trong đó
lượng đặt hàng khác nhau tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chi phí đặt hàng và
chi phí lưu kho.
Phương pháp này không cho phép xác định cỡ lô tối ưu nhưng lại là
phương pháp có chi phí thấp. Do đó nó là cách tiếp cận được sử dụng
phổ biến.
Phương pháp này cố gắng cân đối giữa chi phí đặt hàng và chi phí lưu
kho. Thuật thực hiện là lấy tổng nhu cầu về NVL hoặc chi tiết, bộ phạn trong
các giai đoạn liên tiếp cho đến khi có chi phí đặt hàng gần nhất vớ chi phí lưu
kho thành một đơn vị đặt hàng. Về mặt kinh tế, cỡ lô tối ưu được tính theo
công thức sau:
EPP =
Chi phí đặt hàng
Chi phí lưu kho 1 đơn vị hàng trong 1 giai đoạn
Thực tế cỡ lô tìm được sau khi ghép các giai đoạn theo nguyên tắc công dồn
sẽ được lựa chọn khi tổng lượng nhu cầu gần nhất với cỡ tối ưu vừa tính được.
Phương pháp này tạo ra sự linh hoạt trong hình thành các đơn đặt hàng
mà vẫn quan tâm đảm bảo giảm thiểu được chi phí dự trữ. Nó cũng làm
khoảng cách chênh lệch giữa cỡ lô trong các đơn đặt hàng. Tuy nhiên nó
không phải là giải pháp tối ưu.
14
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
2.2.2.4 Phương pháp xác định cỡ lô theo mô hình EOQ
Số lượng đặt hàng kinh tế (EOQ): Số lượng mỗi lần mua làm cự tiểu
chi phí dự trữ. Mô hình EOQ được xây dựng trên các giả thuyết:
- Dòng nhu cầu không đổi ở tốc độ r
- Không cho phép thiếu hụt
- Mỗi lần mua một lượng không đổi Q và chấp nhận số thập phân
- Hàng được cung cấp ngay lập tức và giá mua không phụ thuộc vào
số lượng mua
Bước2: Ta có công thức
15
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
l u w
d d Q
∗ >
Thì Q
*
= d
L
l u w
d d Q
∗ <
Thì Q
*
= d
U
l u w
d d Q
∗ =
Thì Q
*
= d
L
hay Q
*
= d
U
Trong đó d
L
−
p
r
q
Tổng chi phí
q
kr
p
r
hq
TC
+
−
=
2
1*
Gọi b
i
là giá mua ở ngưỡng giá thứ i và f là tỷ lệ của chi phí bảo quản
so với giá mua. Phương trình tổng chi phí là
i
i
rb
fb
q
kr
TC
++=
2
(*)
Bước1: Tính Qw ở từng mức giá b
i
i
W
fb
kr
Q
2
=
Bước2: Tính
i
fb
kr2
và tổng chi phí TC theo công thức (*)
Bước3: Chọn lượng đặt hàng có TC tính ở bước 2 là nhỏ nhất.
4. Đặt hàng nhiều loại một lần và từ một nhà cung cấp
2
2.2.3 Xác định lượng dự trữ của doanh nghiệp
2.2.3.1 Mô hình lượng đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ)
Mô hình xác định lượng đặt hàng kinh tế (EOQ)
Giả thiết quan trọng của mô hình là:
- Nhu cầu phải biết trước và không đổi
- Phải biết trước khoảng thời gian kể từ khi đặt hàng cho tới khi nhận
được hàng và thời gian đó không đổi.
- Lượng hàng trong mỗi đơn hàng được thực hiện trong một chuyến
hàng và được thực hiện ở một thời điểm đã định trước
- Chỉ tính đến hai loại chi phí là chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng
17
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
- Sự thiếu hụt dữ trữ hoàn toàn không xảy ra nếu như đơn hàng được
thực hiện đúng.
Với những giả thiết trên đây, sơ đồ biểu diễn mô hình EOQ có dạng sau
đây:
Sơ đồ 2: Biểu diễn mô hình EOQ
Trong đó:
Q
*
: Lượng hàng của một đơn hàng (lượng hàng dự trữ tối đa: Q
max
= Q
*
).
O : Mức dự trữ tối thiểu (Q
min
= 0)
Sơ đồ 3: Mối quan hệ giữa các loại chi phí
Trong đó:
C
dh
: Là chi phí đặt hàng
C
lk
: Là chi phí lưu kho
TC : Là đường tổng chi phí dự trữ
Q
*
: Là lượng dự trữ tối ưu (hay lượng đặt hàng tối ưu).
H
DS
Q
2
=
∗
Trong đó: D - là nhu cầu về hàng dự trữ trong một gai đoạn
Q - Lượng hàng trong một đơn đặt hàng
H – Là chi phí lưu kho1đơn vị trong một giai đoạn
b. Xác định điểm đặt hàng lại (ROP)
Trong mô hình dự trữ EOQ chúng ta giả định rằng sự tiếp nhậ một đơn
hàng là thực hiện trong một chuyến hàng. Nói cách khác chúng ta giả định
rằng doanh nghiệp sẽ chờ đến khi hàng trong kho hết mới tiến hành đặt hàng
19
Q* Khối lượng dự trữ
Chi
phí
C
A L B
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
được tập kết. Mô hình này cũng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp
vừa sản xuất vừa bán hoặc doanh nghiệp tự sản xuất lấy vật tư để dùng. Trong
những trường hợp như thế này, chúng ta phải quan tâm đến mức sản xuất
hàng ngày của nhà sản xuất hoặc mức cung ứng của nhà cung ứng.
Vì mô hình này đặc biệt thích hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của người đặt hàng nên nó được gọi là mô hình đặt hàng theo sản xuất (POQ).
Trong mô hình này, các giả thiết về cơ bản giống như mô hình EOQ, điểm
khác biệt duy nhất là hàng được đưa đến nhiều chuyến. Bằng phương pháp
giống như EOQ ta có thể tính được lượng đặt hàng tối ưu Q
*
.
Gọi: p – Là mức sản xuất (mức cung ứng) hàng ngày
d – Nhu cầu sử dụng hàng ngày (d<p)
t - Thời gian sản xuất để có đủ số lượng cho 1 đơn đặt hàng (hoặc
thời gian cung ứng).
Mô hình POQ có dạng như sau:
Sơ đồ 5: Mô hình POQ
21
Thời gian
BA
t
T
0
Q
Q*
Lượng
hàng*
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
trữ thiếu hụt có chủ định trước và do đó ta xác định được chi phí thiếu hụt do
việc để lại một đơn vị dự trữ tại nơi cung ứng hàng năm. Như vậy, mô hình
này giống với các mô hình trước đây, duy chỉ có một yếu tố bổ sung được đưa
vào xem xét là chi phí cho một đơn vị hàng để lại nơi cung ứng hàng năm.
22
Trường ĐHKT & QTKD Khóa luận tốt nghiệp
Gọi: B – Chi phí cho một đơn vị hàng để lại nơi cung ứng hàng năm
b - Lượng hàng còn lại sau khi đã trừ đi lượng thiếu hụt có chủ
định.
Sơ đồ của mô hình được thể hiện như sau:
Sơ đồ 6: Mô hình dự trữ thiếu BOQ
Tổng chi phí dự trữ trong trường hợpnày gồm 3 loại:
- Chi phí dặt hành
- Chi phí lưu kho
- Chi phí cho lượng hàng để lại
B
BH
H
DH
Q
+
×=
∗
2
BH
B
H
DH
b
+
D
xDC
2
Pr
++=
Trong đó: Pr x D là chi phí mua hàng
Để xác định được lượng hàng tối ưu trong một dơn hàng, ta tiến hành 4
bước sau đây:
Bước 1:Xác định lượng hàng tối ưu Q
*
ở từng mức giá i theo công thức
i
i
I
DS
Q
Pr
2
*
=
Trong đó: I – Chi phí lưu kho tính theo giá mua
Pr
i
- Là gái mua một đơn vị hàng dự trữ
i – Các mức giá.
Bước 2:Xác định lượng hàng điều chỉnh Q
**
theo mỗi mức khấu trừ
khác nhau. Ở mỗi mức khấu trừ, nếu lượng hàng đã tính ở bước1 tấp không
gian, phương thức giao nhận và kiểm tra hàng hoá...
Tiếp đến là nhân tố chất lượng như sự thích hợp về kỹ thuật của NVL,
tuổi thị của NVL; sự tin cậy đối với người cấp hàng cả về thời gian, số lượng
và chất lượng NVL, tính rõ ràng và minh bạch của người cung cấp...
Tìm kiếm và lựa chọn người cấp hàng
Xét về mặt hình thức có hai nguồn cung cấp chủ yếu: Người cấp hàng
đã có sẵn trên thị trường và người cấp hàng mới xuất hiện
Để lựa chọn người cung cấp một cách khách quan doanh nghiệp phải
xác định trước các tiêu chuẩn nhất định đối với người cung cấp cho mình như
các tiêu chuẩn về năng lực của người cấp hàng, độ tin cậy về chất lượng
nguyên vật liệu và thời gian cung ứng, các yêu cầu tối thiểu về giá cả và
phương thức thanh toán, cự li vận chuyển...Tuỳ thuộc vào số lượng, tầm quan
trọng và đặc điểm của từng loại nguyên vật liệu được cung cấp mà doanh
25