Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của chuyên đề
Trong những năm 1997,1998 tại Thái Bình đã xảy ra tình trạng mất ổn
định kinh tế chính trị ở một số cơ sở xã, phờng, thị trấn, đã làm cho ngời dân
thiếu tin tởng vào chính quyền xã. Một trong những nguyên nhân đó là tình
hình vi phạm nghiêm trọng kỷ luật tài chính kế toán ở một số xã, phờng, thị
trấn; ngân sách xã, phờng, thị trấn thiếu sự quản lý thống nhất đã dẫn đến tình
trạng tham ô tiền ngân sách của một số cán bộ xã.
Để góp phần xây dựng Ngân sách nhà nớc lành mạnh, củng cố kỷ luật tài
chính, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tiền của Nhà nớc để đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân nhất thiết phải tăng cờng chức
năng kiểm tra, kiểm soát Ngân sách nhà nớc.
Rút kinh nghiệm tình hình quản lý tài chính ngân sách xã còn lỏng lẻo,
trong những năm qua Thái Bình đã cố gắng lập lại trật tự, kỷ cơng trong lĩnh
vực quản lý tài chính ngân sách xã nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong nền
kinh tế thị trờng hiện nay, đặc biệt là đáp ứng yêu cầu kiểm toán Ngân sách nhà
nớc tại địa phơng, góp phần làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, tăng thu
giảm chi cho Ngân sách nhà nớc. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc kiểm
tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã cũng còn gặp
nhiều khó khăn. Do vậy hiệu quả và hiệu lực quản lý Ngân sách nhà nớc tại các
cơ sở xã, phờng, thị trấn còn nhiều hạn chế. Vì vậy việc tăng cờng kiểm tra,
kiểm soát quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn ở
Thái Bình nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Ngân sách nhà nớc là hết
sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Do đó em mạnh dạn chọn đề tài: "Thực
trạng và giải pháp tăng cờng kiểm tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và
quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình" làm chuyên đề khoa
học.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất một số
giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình kiểm tra, kiểm soát quy trình lập, chấp
hành và quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình góp phần nâng cao
địa phơng ở Thái Bình góp phần quản lý ngân sách xã theo đúng luật Ngân
sách, làm lành mạnh hoá thu, chi Ngân sách nhà nớc tại cơ sở xã, phờng, thị
trấn ở Thái Bình.
Do khó khăn trong quá trình thu thập số liệu, do trình độ bản thân, điều
kiện thời gian và phơng tiện nghiên cứu còn hạn chế do đó luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô
giáo, các nhà khoa học để chuyên đề của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
chơng I
Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát
quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách
xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình
1. Đặc điểm chung của Thái Bình ảnh hởng tới công tác kiểm tra, kiểm soát
quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn
2. Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và
quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình
2.1. Kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách xã, phờng, thị trấn
2.2. Kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành dự toán ngân sách xã, phờng,
thị trấn
2.3. Kiểm tra, kiểm soát quá trình quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn
3. Đánh giá tổng quát về công tác kiểm tra, kiểm soát quy trình lập, chấp
hành và quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình
3.1. Một số kết quả đạt đợc
3.2. Một số tồn tại
chơng II
Phơng hớng và giải pháp nhằm tăng cờng công tác kiểm
tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và quyết toán
ngân sách xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình
1. Tính tất yếu phải tăng cờng công tác kiểm tra, kiểm soát quy trình lập,
chấp hành và quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình
2
. Là
một tỉnh thuần nông đất chật, ngời đông nên nguồn thu ngân sách chủ yếu dựa
vào sản xuất nông nghiệp, thể hiện trong cơ cấu thu, chi ngân sách hàng năm,
thuế sử dụng đất nông nghiệp tỷ trọng lớn. Từ năm 1996 trở về trớc, nhìn chung
Thái Bình luôn hoàn thành nhiệm vụ thu chi ngân sách đợc giao và số thu năm
sau thờng cao hơn năm trớc, đáp ứng đợc cơ bản các nhiệm vụ kinh tế - văn
hoá - xã hội của tỉnh, bộ mặt nông thôn đợc đổi mới thể hiện ở việc cứng hoá
kênh mơng, các công trình xây dựng điện - đờng - trờng - trạm đợc đầu t với ph-
ơng châm " Nhà nớc và nhân dân cùng làm" do đó đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân đợc cải thiện. Song năm 1997 đã xảy ra mất ổn định tình
hình ở nông thôn trong tỉnh đã có tác động tiêu cực đến tình hình phát triển kinh
tế xã hội trong tỉnh nói chung và tình hình quản lý thu, chi, điều hành ngân sách
nói riêng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình trên là công tác quản lý
ngân sách xã những năm 96; 97 tuy đã đạt đợc những kết quả nhất định song
vẫn còn bộc lộ những yếu kém, cơ chế quản lý thiếu đồng bộ và chậm đổi mới,
cha đáp ứng yêu cầu phát triển và chuyển đổi cơ chế quản lý của nền kinh tế xã
hội, không ít xã đã tự đặt ra các chế độ thu, chi, 90% số thu chi ngân sách xã
cha đợc quản lý hạch toán qua kho bạc nhà nớc, sổ sách chứng từ kế toán vừa
thiếu, vừa không thống nhất, nhiều xã còn hạch toán ghi đơn. Hầu hết các xã
trong điều hành ngân sách đều không dựa vào khả năng nguồn thu để quyết
định nhiệm vụ chi, nhất là trong chi đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, tình trạng chi
vợt khả năng thu là phổ biến dẫn đến công nợ nặng nề.
Từ năm 1997, thực hiện luật ngân sách nhà nớc, NĐ 87 CP của chính phủ
ngày 19/12/1996, thông số 14TC/NSNN ngày 28/03/1997 (đợc thay thế bằng
thông t số 118/2000/TT BTC ngày 22/12/2000) Thái Bình đã thực hiện phân cấp
nguồn thu và nhiệm vụ chi cho ngân sách xã, phờng, thị trấn (gọi chung là xã)
theo luật ngân sách nhà nớc. Nhờ vậy từ năm 1998 đến nay, ngân sách xã cơ
bản đợc quản lý theo quy luật ngân sách nhà nớc và dần đi vào nề nếp, tuyệt đại
thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đầu t nuôi dỡng phát triển nguồn thu, đầu
t cho việc nâng cao đời sống vật chất, cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân
trong xã còn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chính của những khó khăn đó
là với kết quả số thu hiện tại của các xã mà theo nguồn thu đợc phân cấp thì hầu
hết các xã trong tỉnh không thể cân đối ngân sách đợc nếu nh không có sự trợ
giúp của ngân sách cấp trên. Nhất là trong điều kiện hiện nay, ngân sách cấp xã
ở Thái Bình lại xuất hiện thêm một số nhu cầu chi mới, điều này đã ảnh hởng
không nhỏ tới quá trình lập dự toán ngân sách xã.
Mặt khác, Luật ngân sách nhà nớc yêu cầu việc thu, chi ngân sách nhà n-
ớc phải đợc thực hiện trên cơ sở dự toán ngân sách đã đợc phê duyệt, chi đúng
mục đích và chính sách, chế độ. Chính vì vậy công tác lập dự toán ngân sách ở
xã và việc kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách có vai trò hết sức
quan trọng giúp cho việc điều hành ngân sách đợc thuận lợi.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng đó, hàng năm ngay từ cuối năm trớc Uỷ
ban nhân dân Tỉnh đã đánh giá khả năng thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
trong năm, xác định nhiệm vụ chính trị, các mục tiêu kinh tế xã hội cho năm kế
hoạch để hớng dẫn các huyện chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các xã lập dự toán thu,
chi ngân sách xã năm sau, trình hội đồng nhân dân xã quyết định.
Để việc lập, phân bổ dự toán thu chi ngân sách xã sát với thực tế, bám sát
các căn cứ, yêu cầu mà luật quy định đó là:
- Tính đầy đủ, chính xác các khoản thu theo quy định của nhà nớc
- Bố trí hợp lý các nhu cầu chi đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của chính quyền cấp xã
- Dự toán phải lập theo mục lục ngân sách nhà nớc
Thì cần có sự chuyển biến về nhận thức của đội ngũ cán bộ xã, là những
ngời trực tiếp liên quan đến việc lập dự toán, quản lý và điều hành ngân sách xã
và việc kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách xã là biện pháp quan
trọng và có hiệu quả, là trách nhiệm của mọi cấp, ngành có liên quan. Đó là các
chủ thể kiểm soát sau:
- Uỷ ban nhân dân xã:
thiết, thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành) đối với
hộ kinh doanh t nhân trên địa bàn huyện, thành phố
2. Thuế sử dụng đất nông nghiệp
3. Thuế chuyển quyền sử dụng đất (ngân sách phờng không có khoản thu
này)
3. Thuế nhà đất (ngân sách phờng không có khoản thu này)
4. Lệ phí trớc bạ (ngân sách phờng không có khoản thu này)
5. Thu tiền sử dụng đất (ngân sách phờng không có khoản thu này)
6. Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh
Đối với các khoản thu này một mặt Uỷ ban nhân dân xã chỉ đạo, giám sát
Ban tài chính xã tính đầy đủ, chính xác các khoản thu và tỷ lệ phân chia giữa
các cấp ngân sách, đồng thời Uỷ ban nhân dân xã còn phải xây dựng biện pháp
huy động các khoản thu này sao cho có hiệu quả cao nhất nhằm đáp ứng nhiệm
vụ chi của ngân sách xã.
+ Đối với các khoản chi thờng xuyên bao gồm:
1. Chi cho hoạt động của cơ quan nhà nớc
2. Kinh phí hoạt động của các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam
3. Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội: Mặt trận tổ quốc,
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, hội
nông dân sau khi trừ đi các khoản thu (nếu có)
4. Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ và các đối tợng khác
theo chế độ quy định
5. Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội
6. Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hoá, nhà trẻ, lớp
mẫu giáo, kể cả trợ cấp chi sinh hoạt phí giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ
7. Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thờng xuyên và mua sắm các khoản
trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế và các hoạt động y tế
cộng đồng do xã quản lý
8. Chi công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao
do xã quản lý
Đối với các khoản chi này Uỷ ban nhân dân xã phải căn cứ vào sự phân
cấp của tỉnh, đợc cân đối chủ yếu từ nguồn thu nhân dân đóng góp, thu lao động
công ích, thu kết d sau khi đã cân đối đủ chi thờng xuyên.
Sau khi dự toán do Ban Tài chính xã lập xong phải trình Uỷ ban nhân dân
xã xem xét, kiểm tra, rà soát lại nguồn thu và nhiệm vụ chi đợc lập trong dự
toán có đúng với luật ngân sách nhà nớc, đúng theo sự phân cấp đồng thời phải
sát với thực tế của xã trớc khi gửi Uỷ ban nhân dân huyện, phòng Tài chính kế
hoạch huyện và trình Hội đồng nhân dân xã quyết định.
Tần suất kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách xã :
Quá trình kiểm tra, kiểm soát diễn ra trong suốt quá trình lập dự toán, thể
hiện ở việc Uỷ ban nhân dân xã thờng xuyên chỉ đạo Ban Tài chính xã rà soát
nguồn thu, nhiệm vụ chi đợc phân cấp để lập dự toán và thuyết minh dự toán
ngân sách xã. Nếu cần thiết, chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có thể yêu cầu Ban
Tài chính xã sửa đổi bổ sung cho hợp lý. Ban Tài chính xã có trách nhiệm điều
chỉnh dự toán theo chỉ đạo của chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã để đảm bảo dự toán
ngân sách xã đợc lập sát với thực tế, đúng luật quy định, không bỏ sót nguồn
thu, cơ cấu chi hợp lý và cân đối đợc thu, chi ngân sách xã.
- Hội đồng nhân dân xã:
Theo luật ngân sách nhà nớc thì Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan có
thẩm quyền quyết định ngân sách cấp mình và giám sát thực hiện dự toán đã đ-
ợc quyết định. Để thực hiện đợc nhiệm vụ này việc quyết định, kiểm tra, kiểm
soát quá trình lập dự toán phải đợc Hội đồng nhân dân xã đa ra bàn bạc, thảo
luận trong kỳ họp của Hội đồng nhân dân và dự toán chỉ đợc quyết định khi dự
toán đợc lập theo đúng quy định, sát với thực tế địa phơng, bảo đảm nguồn thu,
nhiệm vụ chi đợc phân cấp và đợc các đại biểu Hội đồng nhân dân xã thông
qua. Nếu nh Hội đồng nhân dân xã không chấp nhận phần nào đó trong dự toán
dự toán, Hội đồng nhân dân sẽ yêu cầu Ban tài chính xã sửa lại theo đúng quy
định và Hội đồng nhân dân xã xem xét, thảo luận và quyết định trong kỳ họp
gần nhất. Dự toán sau khi hoàn chỉnh trình Hội đồng nhân dân xã thảo luận,
quyết định sẽ gửi cho phòng Tài chính huyện để tổng hợp, gửi Uỷ ban nhân dân
toán thu chi ngân sách xã phờng, thị trấn ở Thái Bình từ năm 2001 - 2003 nh
sau:
Dự toán thu chi ngân sách xã, phờng, thị trấn
Năm 2001 - 2003
(Đơn vị tính: 1.000 đồng)
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Phần I: Thu ngân sách xã
100.910.000,
0
91.960.000,
0
124.680.797,0
I. Các khoản thu 100%
52.830.271,7 25.275.000,0 40.159.217,9
1. Thuế môn bài bậc 4-6
1.239.423,1 1.315.000,0 1.999.611,7
2. Phí và lệ phí
5.798.181,9 5.590.000,0 5.833.387,8
3. Thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản
13.666.666,7 16.867.000,0 16.176.494,4
4.Thu hoạt động kinh tế và sự nghiệp
0 0 0
5. Đóng góp theo quy định
0 0 0
6. Đóng góp tự nguyện
0 0 0
7. Viện trợ trực tiếp từ nớc ngoài
0 0 0
8. Thu kết d ngân sách năm trớc
Trong đó:
- Hu xã thôi việc và trợ cấp khác
11.002.000,0 10.810.996,0 15.423.927,0
- Già cô đơn, trẻ mồ côi, cứu tế
1.393.714,3 1.066.448,8 1.309.709,85
2. Sự nghiệp giáo dục
6.676.428,6 7.849.002.1 10.489.202,0
3. Sự nghiệp y tế
2.193.571,4 2.383.427,9 3.258.487,7
4. Sự nghiệp văn hoá thông tin
1.357.142,9 1.770.945,4 3.451.403,85
5. Sự nghiệp thể dục thể thao
273.571,4 292.123,6 451.815,62
6. Sự nghiệp kinh tế
5.132.857,1 7.648.173,2 16.917.141,73
- Sự nghiệp giao thông
604.257,1 2.093.621,2 2.729.878,70
- Sự nghiệp nông - lâm - thuỷ lợi - hải
sản
766.428,6 1.356.967,8 10.363.777,60
- Sự nghiệp thị chính
803.571,4 863.278,1 318.812,30
- Thơng mại dịch vụ và các sự nghiệp
khác
2.948.600,0 3.334.306,1 3.504.673,13
7. Chi quản lý nhà nớc, Đảng, đoàn
thể
45.914.285,7 47.090.357,3 60.313.612,0
- Đảng
5.162.857,1 5.514.781,5 41.719.291,4
toán ngân sách xã, thuyết minh dự toán. Căn cứ vào đó phòng tài chính thẩm tra
chi tiết từng nguồn thu, từng nhiệm vụ chi trong dự toán ngân sách xã để giúp Uỷ
ban nhân dân xã định hớng trong quá trình xây dựng và thực hiện dự toán.
Căn cứ để các chủ thể nói trên tiến hành kiểm tra, kiểm soát đó là:
- Văn bản pháp lý quan trọng nhất đó là Luật ngân sách nhà nớc (đợc sửa
đổi năm 2002). Đó chính là công cụ cũng nh cơ sở để tiến hành công tác kiểm
tra kiểm soát quá trình lập dự toán của các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền,
phòng chức năng và Hội đồng nhân dân xã.
- Các văn bản hớng dẫn thực hiện Luật ngân sách nhà nớc, cụ thể nh nghị
định của Chính phủ là văn bản dới luật, thông t hớng dẫn của Bộ Tài chính quy
định chi tiết và hớng dẫn thực hiện luật ngân sách nhà nớc
- Các văn bản của Uỷ ban nhân dân Tỉnh nh Nghị quyết Hội đồng nhân
dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân Tỉnh về triển khai cụ thể và hớng dẫn thực
hiện luật ngân sách nhà nớc trên địa bàn tỉnh
- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng,
trật tự an toàn xã hội của xã
- Chính sách chế độ thu ngân sách nhà nớc, co chế phân cấp nguồn thu,
nhiệm vụ chi ngân sách xã và tỷ lệ phân chia nguồn thu do Hội đồng nhân dân
tỉnh quy định
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách xã hiện hành
- Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân huyện thông báo
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã về việc lập dự toán ngân sách xã
hàng năm
Khi tiến hành kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán phải căn cứ vào
các văn bản có tính chất pháp lý trên. Đó vừa là cơ sở, vừa là căn cứ để các cấp,
các ngành tiến hành kiểm tra, kiểm soát việc lập dự toán ngân sách xã có đảm
bảo đúng quy định hay không.
Kết quả kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán sẽ là căn cứ để phê
duyệt dự toán và là cơ sở có tính pháp lý để chấp hành dự toán ngân sách xã,
đảm bảo cho quá trình chấp hành dự toán diễn ra thuận lợi, đạt hiệu quả cao,
chức thu, chính quyền xã xây dựng phơng thức tổ chức thu cụ thể phù hợp với
từng đối tợng thu, chỉ đạo ban Tài chính xã theo dõi sát nội dung kinh tế phát
sinh, đôn đốc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào ngân sách nhà nớc. Nhiều xã đã
quản lý, khai thác tốt các nguồn thu từ quỹ đất công ích 5 %, thu hoa lợi công
sản, đồng thời chú trọng quản lý, khai thác các nguồn thu phí, lệ phí, phạt tịch
để có thêm nguồn vốn đáp ứng nhiệm vụ chi hoạt động của bộ máy chính quyền
cơ sở.
+ Đối với các khoản thu từ chợ, hiện nay cùng với đà phát triển chung
của đời sống kinh tế xã hội thì việc giao lu hàng hoá là một nhu cầu không thể
thiếu, nó thúc đẩy thị trờng ở khu vực nông thôn ngày càng phát triển. ở những
xã có vị trí thuận lợi trong giao lu hàng hoá nếu xã đầu t xây dựng chợ quy mô
thì khả năng thu từ chợ rất tốt. Tuy nhiên chính quyền xã phải kiểm soát tốt các
khoản thu này bằng một số biện pháp nh ở một số kiốt bán hàng cố định phải
thu khoán từng tháng, còn đối với ngời bán hàng không cố định thì phải tiến
hành thu lệ phí chợ và giao khoán cho ngòi hợp đồng với uỷ ban số thu khoán
từng tháng để nâng cao số thu cho ngân sách, không để bỏ sót nguồn thu. Song
cũng cần có biện pháp khuyến khích, hỗ trợ những ngời buôn bán tại chợ để tạo
cho nguồn thu này có tính ổn định và lâu dài
+ Đối với khoản thu từ quỹ đất công ích 5% do Uỷ ban nhân dân xã quản
lý và thu từ hoa lợi công sản: đây là nguồn thu chiếm tỷ trọng cao trong tổng
thu thờng xuyên tại xã và nó cũng là nguồn thu mà hầu hết các xã, thị trấn trong
tỉnh đều có, vì vậy nếu các xã tập trung đầu t và có hớng quản lý tốt thì sẽ đảm
bảo đợc nguồn thu tơng đối ổn định và lâu dài cho ngân sách xã. Tuy nhiên một
số ít xã vẫn còn cho thầu khoán với thời gian khá dài (5 năm, 10 năm, thậm chí
20 năm) và thu tiền một lần từ những năm trớc đây (1993, 1994) nên đã ảnh h-
ởng rất lớn đến khả năng cân đối ngân sách hiện nay. Một số xã chia quỹ đất
công ích 5% cho tất cả các hộ trong xã từ khi giao đất ổn định theo luật (1993)
và có nghị quyết của UBND xã tính mức thu khoán rất thấp. Một số xã lại giao
cho hợp tác xã cho dân thầu khoán, hàng vụ thu và nộp trả ngân sách xã. Không
những thế hiện nay còn xảy ra tình trạng ngời dân không nộp trực tiếp khoản
trải đủ các nhu cầu chi, vì vậy việc bổ sung kinh phí từ ngân sách cấp trên cho
ngân sách xã là hết sức cần thiết. Nó không những giúp cho cấp xã có đủ nguồn
thu để đáp ứng cho những nhu cầu chi thiết yếu mà nó còn giúp cho việc điều
hoà ngân sách, khắc phục đợc sự khó khăn do tính thời vụ của một số nguồn thu
chính gây nên.
+ Công tác kiểm tra ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác ở xã
thể hiện ở việc thẩm tra phơng án thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của
nhân dân theo quy định của pháp luật, phơng án huy động vốn đầu t xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng về các nội dung: sự cần thiết phải huy động, mức
huy động, hình thức và thời gian huy động, lãi suất, phơng án sử dụng tiền huy
động và mức trả nợ hàng năm.
+ Về kiểm tra, kiểm soát trong quá trình điều hành chi ngân sách xã:
Rút kinh nghiệm từ việc quản lý còn lỏng lẻo của các năm trớc đây, dẫn
đến việc cán bộ cấp xã tham ô, lợi dụng chi tiêu lãng phí, gây mất lòng tin của
nhân dân nên Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thái Bình đã quyết định thực hiện đa thu, chi
ngân sách xã qua kho bạc nhà nớc đối với tất cả các xã, phờng, thị trấn, từ
01/01/1998. Về phía các xã cũng đã nhận thức đợc chủ trơng trên là đúng đắn,
từ đó thực hiện khá nghiêm túc và tự giác. Đa số các xã điều hành thực hiện chi
ngân sách đã đảm bảo tuẩn thủ dự toán đợc duyệt và chất hành chế độ chính
sách, u tiên chi trả sinh hoạt phí, phụ cấp và chế độ cho cán bộ xã. Hầu hết các
khoản chi đều đợc thực hiện qua kho bạc nhà nớc, đảm bảo đầy đủ điều kiện để
kho bạc nhà nớc kiểm soát chi, bớc đầu phát huy đợc hiệu quả giám sát chi của
kho bạc nhà nớc. Một số xã đã tiết kiệm, giành một phần vốn đầu t cho phát
triển nguồn thu, đầu t chuyển dịch cơ cấu kinh tế nh hỗ trợ vốn đầu t các giống
cây, giống con có năng suất và hiệu quả cao, du nhập và phát triển ngành nghề
sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại địa phơng.
Tuy nhiên do công tác lập dự toán có những lúc ngân sách thiếu nguồn
trầm trọng đã gây không ít khó khăn cho việc tổ chức điều hành chi ngân sách,
gây lúng túng trong việc cân đối ngân sách, không ít những trờng hợp nh thế đã
dẫn đến việc làm sai luật của chính quyền cấp xã (vay nóng về chi hoặc rút tiền
phí, phụ cấp.
Tuy nhiên việc chấp hành dự toán đã dần đi vào nề nếp và đảm bảo đúng
chế độ, tiêu chuẩn, trong dự toán đợc duyệt.
Tần suất kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành dự toán:
Quá trình kiểm tra, kiểm soát diễn ra thờng xuyên trong suốt quá trình
điều hành ngân sách nhằm đa công tác quản lý tài chính ngân sách xã đi vào nề
nếp theo quy định của Luật ngân sách nhà nớc
- Hội đồng nhân dân xã:
Theo quy định của luật Ngân sách nhà nớc Hội đồng nhân dân xã có
nhiệm vụ kiểm tra, giám sát quá trình chấp hành dự toán ngân sách. Cụ thể Hội
đồng nhân dân xã thờng xuyên giám sát việc tổ chức huy động các khoản thu để
tập trung các khoản thu vào ngân sách xã, tránh tình trạng bỏ sót nguồn thu
hoặc thu không đúng theo dự toán đợc duyệt. Đồng thời trong quá trình điều
hành chi ngân sách xã, vai trò kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân thể
hiện ở việc thờng xuyên kiểm tra các khoản chi ngân sách có đúng theo dự toán,
có đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ hay không. Thông qua việc kiểm tra,
kiểm soát quá trình chấp hành ngân sách, Hội đồng nhân dân xã sẽ phát hiện và
ngăn chặn kịp thời những sai phạm và cùng với Uỷ ban nhân dân giải quyết kịp
thời những vớng mắc trong quá trình điều hành ngân sách.
Tần suất kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành dự toán:
Nh vậy quá trình kiểm tra, kiểm soát diễn ra một cách thờng xuyên và liên
tục trong suốt quá trình điều hành ngân sách, thể hiện vai trò giám sát của Hội
đồng nhân dân xã theo quy định của Luật ngân sách nhà nớc
- Phòng Tài chính kế hoạch huyện:
Thông qua công tác kiểm soát thu, chi tại kho bạc nhà nớc cơ quan tài
chính cấp trên đã phát hiện các khoản thu sai, chi sai chế độ, từ đó có giải pháp
xử lý kịp thời. Việc thực hiện dự toán đã tiến hành theo đúng dự toán đã lập,
hầu nh không phải điều chỉnh dự toán năm. Có đợc kết quả trên đó chính là do
đã chú trọng tới công tác kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành dự toán thu,
chi ngân sách xã của cấp uỷ, chính quyền địa phơng cũng nh của các cấp, các