vấn đề ruộng đất trong chính sách đối nội của nhà nguyễn ở nửa đầu thế kỷ xix - Pdf 24

VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI
CỦA NHÀ NGUYỄN Ở NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

PGS.TS Vũ Văn Quân

Việt Nam bước vào thế kỷ XIX sau mấy thập kỷ biến động dữ
dội. Vương triều Nguyễn, trước đó là tập đoàn - thế lực
Nguyễn Ánh, hậu duệ của chế độ chúa Nguyễn ở Đàng
Trong, một trong các nhân tố tham góp vào những diễn biến
lịch sử đó, cuối cùng đã giành được quyền cai trị đất nước.
Nhưng nền thống trị của nhà Nguyễn lúc này và cả trong
nửa thế kỷ sau đó đứng trước nhiều thách thức lớn, liên
quan đến sự sống còn của vương triều.
- Sau nhiều thế kỷ phân ly, đến đây nền thống nhất đất nước
được khôi phục. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một
lãnh thổ trải dài từ Lạng Sơn đến Cà Mau được xác lập. Đối
với lịch sử dân tộc, sự kiện này có ý nghĩa vô cùng to lớn, là
thành quả của những nỗ lực không ngừng của biết bao thế
hệ người Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có một thực tế, nhà
Nguyễn cũng là vương triều đầu tiên trong lịch sử Việt Nam
thực hiện quyền quản lý đất nước trên một phạm vi lãnh thổ
rộng lớn và trải dài theo chiều Bắc Nam.
- Trong phạm vi lãnh thổ rộng lớn đó, Nguyễn Ánh cũng như
cả bộ máy quan lại cao cấp của triều đình Nguyễn bấy giờ,
mà phần lớn là người Đàng Trong, với tư cách hậu duệ - tàn
dư của chính quyền - chế độ chúa Nguyễn, còn rất xa lạ với
vùng Đàng Ngoài vốn thuộc quyền kiểm soát của chính
quyền Lê - Trịnh. Mấy trăm năm chúa Trịnh o bế vua Lê là
một trong những nguyên nhân khiến sĩ phu và nhân dân
Bắc Hà nồng nhiệt chào đón Tây Sơn khi Nguyễn Huệ đem
quân ra Bắc phù Lê diệt Trịnh. Đến khi hết Trịnh cũng chẳng

biệt, đất nước xộc xệch rã rời sau hàng thế kỷ đầy biến
động… là những khó khăn và thách thách thức đặt ra cho
nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX.
Đứng trước những khó khăn, thách đố đó, các vua Nguyễn,
triều đình nhà Nguyễn sẽ thực thi những chính sách cai trị
như thế nào. Phản ứng tức thời của nhà Nguyễn trước thực
trạng đất nước đầu thế kỷ XIX là quyết tâm nhanh chóng ổn
định tình hình. Đây là yêu cầu của đất nước, của nhân dân
sau nhiều thập kỷ loạn ly. Nhưng đây trước hết - về mục tiêu
- là nhằm đảm bảo nền thống trị của dòng Nguyễn - vương
triều Nguyễn, bởi lẽ, nền thống trị của dòng họ - vương triều
Nguyễn chỉ thực sự được đảm bảo nếu đất nước được ổn
định. Giải pháp ổn định đất nước được nhà Nguyễn thực
hiện chủ yếu bằng việc tăng sức áp chế từ trên xuống. Theo
đó, về chính trị: tăng cường áp chế hành chính - quân sự; về
kinh tế: thi hành chính sách trọng nông; về văn hóa: phục
hồi và độc tôn Nho giáo; về xã hội: thiết lập thế bình quân
chủ nghĩa. Thiết lập thế bình quân chủ nghĩa là một giải
pháp hiệu quả nhất để tạo thế ổn định trong điều kiện một
xã hội nông thôn - làng xã - nông nghiệp phân hóa chưa cao
như Việt Nam. Chọn giải pháp này, nhà Nguyễn trước hết
thực thi nó ở một lĩnh vực có tính then chốt là ruộng đất.
1. BỨC TRANH CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT
Đầu thế kỷ XIX, cơ cấu ruộng đất Việt Nam vẫn bao gồm hai
bộ phận: ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và ruộng đất
thuộc sở hữu tư nhân. Sau hàng ngàn năm phát triển, chế
độ tư hữu đã mở rộng đồng thời với sự thu hẹp của chế độ
sở hữu nhà nước.
Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Nửa đầu thế kỷ XIX, theo
sách Sĩ hoạn tu tri lục của Nguyễn Công Tiệp soạn khoảng

đất đai. Vì thế, Nam Bộ là địa phương tập trung đồn điền
dưới thời Nguyễn. Nhà nước chủ yếu sử dụng lực lượng
binh lính, bên cạnh đó còn có một số tù phạm đi khai khẩn,
canh tác ruộng đất trong các đồn điền. Sản phẩm thu hoạch
từ ruộng đất đồn điền phần lớn nộp kho nước, chủ yếu để
đáp ứng nhu cầu tại chỗ của binh lính. Diện tích đồn điền ở
thời điểm cao nhất ước khoảng vài chục ngàn mẫu. Nhìn
chung, các loại ruộng đất thuộc quản lý trực tiếp của Nhà
nước chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu ruộng đất.
Bộ phận chủ yếu của sở hữu Nhà nước là ruộng đất công
làng xã. Trong 17,08% ruộng đất công các loại còn tồn tại
đến đầu thế kỷ XIX, phần lớn là loại ruộng đất này. Tuy
nhiên, sự phân bố rất không đều giữa các địa phương. Phan
Huy Chú nhận xét: “Nước ta duy có trấn Sơn Nam Hạ là rất
nhiều ruộng và đất bãi công, phép quân cấp chỉ nên làm ở
xứ ấy là phải, còn các xứ khác thì các hạng ruộng công có
không mấy”[2]. Vào năm 1852, theo lời Thượng thư bộ Hộ
Hà Duy Phiên: “Thừa Thiên, Quảng Trị thì ruộng công nhiều
hơn ruộng tư, Quảng Bình thì công tư bằng nhau, còn các
hạt khác thì ruộng tư nhiều mà ruộng công ít, tỉnh Bình
Định càng ít hơn”[3]. Kết quả nghiên cứu tư liệu địa bạ
những năm gần đây cũng cho thấy điều đó. Sự phân bố
không đều thể hiện trong phạm vi từng miền, từng tỉnh, có
khi từng huyện, từng tổng. Tại Bắc Bộ, trong khi tỷ lệ công
điền thổ ở Thái Bình còn tới 31,43% thì ở Hà Đông chỉ còn
22,12% (thời điểm 1805). Giữa các huyện của hai địa
phương này cũng có sự khác biệt. Ở Thái Bình, tỷ lệ công
điền thổ huyện Thanh Quan còn 7,2%, huyện Quỳnh Côi còn
17,32%, huyện Đông Quan còn 20,75%, thì tỷ lệ đó ở huyện
Vũ Tiên là 56,85%. Ở tỉnh Hà Đông, tỷ lệ công điền thổ

Thái Bình
31,43
53,24
15,33
1805
3
Bình Định
8,71
89,62
1,67
1815
4
Phú Yên
1,34
98,66
-
1815
5
Nam Bộ
7,85
92,15
-
1836
Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân: Tỷ lệ ruộng đất tư đầu thế
kỷ XIX, theo Nguyễn Công Tiệp, là 82,92%, khẳng định vị trí
bao trùm và chi phối của loại hình sở hữu này trong toàn bộ
chế độ ruộng đất. Tuy nhiên, đặc điểm phân bố không đều
làm cho vai trò của nó ở các địa phương có sự khác biệt
nhất định. Trong khi ở hầu hết các nơi ruộng đất tư là
nguồn sống chính của cư dân, cả địa chủ với thu nhập từ

Sự phân hoá ruộng đất ở một số địa phương
TT
Quy mô
Thái Bình
Hà Đông
Bình Định
Số chủ
Ruộng đất
Số chủ
Ruộng đất
Số chủ
Ruộng đất
1
Dưới 1 mẫu
2,2
0,15
27,1
4,51
61,49
19,15
2
1- 3 mẫu
16,61
3,51
35,4
17,88
30,07
40,37
3
3 - 5 mẫu

7
Trên 50 mẫu
0,78
5,37
-
-
-
-
2. THÁI ĐỘ CỦA NHÀ NGUYỄN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ RUỘNG
ĐẤT
Bức tranh ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX đã đi vào
chặng cuối của vận động tiến hoá. Tư hữu hoá đã bao trùm,
đã có sự phân hoá trong sở hữu tư nhân, một số nơi đã đạt
đến mức độ khá cao. Trước thực trạng đó, chính sách của
nhà Nguyễn đối với ruộng đất lại thể hiện rõ tính bảo thủ,
làm cho quá trình tự nhiên của chế độ ruộng đất bị chững
lại.
Thái độ tương đối nhất quán của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế
kỷ XIX là duy trì, bảo vệ và tham vọng mở rộng sở hữu nhà
nước về ruộng đất. Thái độ này quy định chính sách của nhà
nước đối với vấn đề ruộng đất nói chung và với từng loại sở
hữu nói riêng.
Dưới thời Nguyễn, việc ban cấp ruộng đất chỉ còn lại duy
nhất hình thức tự điền (ruộng thờ) được thực hiện rải rác
dưới thời Gia Long và đầu Minh Mệnh, số lượng rất hạn chế,
một phần do quỹ ruộng đất của nhà nước đã thu hẹp, mặt
khác là để đề phòng tư hữu hoá từ việc ban cấp ruộng đất
vốn đã từng diễn ra. Đối với bộ phận ruộng đất công làng xã
còn lại, nhà nước cấm ngặt việc mua bán, cầm cố. Năm
1803, Gia Long xuống dụ: “… nếu xã thôn nào trái lệnh cấm,

nửa hoặc một phần ba. Việc giảm khẩu phần của quan lại và
binh lính xuống bằng dân đinh, theo giải thích của Minh
Mệnh là vì các đối tượng này đã có lương bổng của nhà
nước.
Việc Gia Long ban hành phép quân điền chỉ hai năm sau khi
nắm được chính quyền cho thấy ông vua này khá nhạy bén
trong nhận thức về vai trò của ruộng đất công đối với việc
ổn định tình hình xã hội. Chỉ có điều, sự thu hẹp lại phân bố
không đều của ruộng đất công làm cho tác dụng thực tế của
chính sách này hạn chế, mỗi nơi mỗi khác. Những nơi ruộng
đất công còn nhiều, vẫn là nguồn sống chủ yếu của cư dân,
chính sách quân điền góp phần thể chế hoá việc phân phối,
hạn chế sự thao túng của tầng lớp hào cường.
Thể hiện tập trung nhất thái độ của nhà nước đối với vấn đề
ruộng đất là những biện pháp mở rộng sở hữu công. Trong
khai hoang, có tới gần một nửa các quyết định của nhà
nước quy định ruộng đất khai khẩn được trở thành sở hữu
công cộng. Đặc biệt quyết liệt là chủ trương công hữu hoá
một bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân.
Tỷ lệ bao trùm của sở hữu tư nhân về ruộng đất là thực tế
mà nhà Nguyễn đã nhận thức được ngay sau khi xác lập nền
thống trị. Trong chính sách của mình, nhà Nguyễn cũng có
thái độ tôn trọng quyền tư hữu ở một mức độ nhất định. Tuy
nhiên, với chủ trương tăng cường sở hữu công cộng làm bệ
đỡ kinh tế - xã hội cho thiết chế quân chủ tập quyền, nhà
Nguyễn từ khá sớm đã có tham vọng can thiệp vào ruộng
đất tư. Năm 1803, một số quan cai trị ở Bắc Thành đề nghị
Gia Long thi hành phép quân điền, bắt các chủ ruộng tư
sung công 70% ruộng đất làm công điền quân cấp. Chủ
trương này quá mạnh mẽ, lại vào lúc nhà Nguyễn mới được

tư hoặc công tư ngang nhau, những thôn ấp nào tư nhiều
hơn công thì ruộng đất công vẫn giữ nguyên, cắt một nửa
ruộng đất tư sung công quân cấp. Theo quy định trên, 645
trên tổng số 678 thôn ấp ở Bình Định chịu tác động của cuộc
cải cách này.
Cuộc cải cách ruộng đất ở Bình Định năm 1839 là một thí
điểm của nhà Nguyễn trong chủ trương can thiệp vào sở
hữu tư nhân, “cân bằng công tư”, “san bớt giàu nghèo”, như
ước ao của các hoàng đế Nguyễn. Tại đây, ruộng đất tư đã
chiếm tỷ lệ bao trùm, nhưng không hề có tình trạng tập
trung ruộng đất mà rất manh mún, không như lời tâu của
Vũ Xuân Cẩn. Vì thế, một lý do khác nữa mà nhà Nguyễn
chọn Bình Định, rất có thể vì đây là quê hương của phong
trào Tây Sơn, trước kia quân Tây Sơn đã tịch thu ruộng đất
của địa chủ chia cho dân nghèo, nhà Nguyễn muốn thông
qua cuộc cải cải này triệt để xoá bỏ dấu ấn của nhà Tây
Sơn[8].
Cuộc cải cách Bình Định đã làm rung động cả xã hội Đại
Nam bấy giờ, gây nên sự phản ứng của các chủ tư hữu ở
Bình Định, nhất là với bộ phận có quy mô ruộng đất lớn hơn,
và cũng tiềm ẩn sự phản ứng đối phó của giai cấp địa chủ cả
nước nói chung. Đến nỗi, hơn mười năm sau, vào năm 1853,
Lang trung trí sĩ Trần Văn Tuân dâng sớ nêu 10 việc cần
làm ngay, trong đó có việc lập tức trả lại ruộng đất tư ở
Bình Định[9].
Bức tranh ruộng đất Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XIX với tỷ lệ
bao trùm của sở hữu tư nhân, sự phân hoá nhất định trong
chế độ tư hữu là kết quả tất yếu của sự vận động lịch sử.
Trong quá trình đó, do những đặc điểm riêng, có sự khác
biệt nhất định giữa các địa phương. Trước thực trạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status