BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
NGÔ TRANG HƯNG
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN THỂ DỤC THỂ THAO Ở MỘT
SỐ TỈNH, THÀNH PHÍA BẮC ĐỂ PHỤC VỤ
QUẢN LÝ THỂ DỤC THỂ THAO Ở NƯỚC TA
Chuyên ngành : Giáo dục thể chất.
Mã số : 62.14.01.03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2013
Công trình được hoàn thành tại: Viện khoa học Thể dục Thể thao.Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS Dương Nghiệp Chí
2. GS.TS Ngô Thắng Lợi
Phản biện 1:
PGS. TS Lương Kim Chung
Phản biện 2:
PGS. TS Lê Thị Anh Vân - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Phản biện 3:Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại Viện
Khoa học Thể dục thể thao vào hồi giờ ngày tháng năm
201
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
khảo sát công trình TDTT. Các phương pháp tính toán gắn liền với công cụ và lý
thuyết kinh tế, khoa học quản lý, khoa học TDTT để phục vụ quy hoạch phát
triển TDTT và chuyển đổi cơ sở thể thao (CSTT) sang cơ chế cung ứng dịch vụ.
Việc ứng dụng phiếu khảo sát công trình TDTT và 10 phương pháp tính
toán mà đề tài lựa chọn đều chưa được ứng dụng trong quản lý TDTT quần
chúng ở nước ta. Những cơ sở lý luận và các phương pháp tính toán là cơ sở
ban đầu để xây dựng mô hình toán kinh tế, nhằm cân bằng giữa nguồn lực công
trình TDTT (đầu vào) và dịch vụ TDTT (đầu ra). Việc phát triển mô hình quản
2
lý kinh tế công trình TDTT, để tiếp cận vấn đề quản lý TDTT trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, chính là những đóng góp mới của luận án.
3. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được trình bày trong 187 trang A4 bao gồm: Mở đầu (04 trang);
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (54 trang); Chương 2: Đối tượng,
phương pháp và tổ chức nghiên cứu (16 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu
và bàn luận (104 trang); phần kết luận và kiến nghị (02 trang). Trong luận án
có 35 biểu bảng, 02 hình, 06 sơ đồ và 07 đồ thị. Ngoài ra, luận án đã sử dụng
83 tài liệu tham khảo, trong đó có 70 tài liệu bằng tiếng Việt, 08 tài liệu bằng
tiếng nước ngoài, 05 trang thông tin điện tử và phần phụ lục.
B. NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu về tài sản TDTT ở trong và ngoài nước
1.2. CSTT công lập cung ứng dịch vụ và sự cần thiết ứng dụng phương
pháp tính toán kinh tế phục vụ quản lý TDTT
1.3. Tóm tắt chương tổng quan
Ở nước ngoài, tài sản TDTT chịu sự chi phối bởi các nguồn tài trợ. Để
nhận tài trợ từ các tổ chức bảo trợ, đa số các tổ chức thể thao hoặc hiệp hội thể
thao ở các nước phải trình bày các văn bản hoạch định phát triển (kế hoạch,
quy hoạch, chiến lược); báo cáo hoặc nộp các báo cáo thống kê có liên quan
đến tài sản TDTT nói chung và công trình TDTT nói riêng. Tuy nhiên, những
11/2006 đến tháng 11/2011 và được chia thành 3 giai đoạn nghiên cứu như
trình bày cụ thể trong luận án.
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Viện
Khoa học TDTT, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn về tài sản TDTT trong quy hoạch
của tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang
3.1.1. Các khái niệm và đặc tính của tài sản, trong đó có tài sản TDTT
a. Khái niệm tài sản, trong đó có tài sản TDTT
Qua việc khảo sát các khái niệm, định nghĩa tài sản ở nước ngoài và Bộ
luật Dân sự Việt Nam cho thấy: các định nghĩa về tài sản đều sử dụng cách thức
phân loại mà không đưa ra một phạm vi cụ thể, song gắn với quyền sở hữu.
Từ khái niệm tài sản và TDTT thì khái niệm tài sản TDTT nằm trong khái
niệm chung về tài sản và thuộc phạm trù văn hoá xã hội. Để hiểu khái niệm tài
sản TDTT cần thông qua việc phân loại và quyền sở hữu.
b. Phân loại tài sản
Căn cứ phân loại TSCĐ và tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ đã được Bộ Tài
chính quy định, thì TSCĐ, trong đó có tài sản TDTT, được phân thành hai loại:
TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
4
Việc dùng tài sản TDTT để tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm sinh lợi
sẽ giống như hoạt động của một doanh nghiệp. Xét về mặt giá trị và tính chất
luân chuyển của tài sản, toàn bộ tài sản của các doanh nghiệp được chia làm 2
loại: tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động) và tài sản dài hạn (TSCĐ). Trong đó,
TSCĐ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những tài sản của doanh nghiệp có thời
gian luân chuyển dài. Căn cứ vào hình thái biểu hiện, toàn bộ TSCĐ của doanh
nghiệp được chia làm hai loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
c. Hình thức, quyền sở hữu và tài sản của Nhà nước
Từ những phân tích tổng hợp về hình thức, quyền sở hữu và tài sản của
Nhà nước cho thấy: công trình TDTT là TSCĐ hữu hình thuộc sở hữu Nhà nước
được sử dụng để tổ chức và điều khiển những dịch vụ TDTT. Khác biệt với
những cơ sở sản xuất của nhiều ngành, nơi mà những thành tố, yếu tố tích cực
của vốn cố định là máy móc và các trang thiết bị, công cụ sản xuất còn thành
phần thụ động là nhà và các công trình xây dựng. Còn ở những công trình
TDTT, phương tiện lao động chủ yếu lại chính là nhà và những công trình xây
dựng thể thao với các trang thiết bị đi kèm.
Những nguồn vốn cố định của các công trình TDTT không giống nhau về
cấu trúc, về đặc tính và về mục đích sử dụng. Ở những sân vận động lớn thì
vốn cố định có ý nghĩa quan trọng hơn, thể hiện ở những hạng mục xây dựng
phục vụ khán giả, khán đài và trang bị ở khán đài (sân vận động Mỹ Đình).
Nhưng ở một số trường hợp khác, khuôn khổ vốn cố định chiếm ưu thế lại là
những công trình kiến thiết thể thao cơ bản.
Ngoài ra, còn có những vấn đề sau đây liên quan đến điểm khác biệt
trong những nguồn vốn cố định của công trình TDTT:
Thứ nhất, chúng trực tiếp tham gia vào việc phục vụ dân sinh trong thời
gian dài và nhiều lần mà không thay đổi hình dạng tự nhiên.
Thứ hai, giá trị của công trình dần dần, theo từng phần được chuyển dịch
sang chi trả cho việc thực hiện những dịch vụ TDTT (khấu hao TSCĐ).
6
Vốn lưu động của những công trình TDTT bao gồm những vật chất cơ
bản và vật liệu bổ trợ có giá trị dịch vụ dưới một năm. Đặc điểm cơ bản của
vốn lưu động là giá trị của chúng được chi phí để thực hiện dịch vụ hoàn toàn
và ngay lập tức hoặc trong một thời gian ngắn. Nó thường gắn với biến phí khi
tính giá thành sản phẩm dịch vụ TDTT.
3.1.2.3. Sản phẩm của ngành TDTT và phân loại dịch vụ TDTT
a. Sản phẩm của ngành TDTT: Những dịch vụ văn hóa xã hội như là sản
phẩm cơ bản của ngành TDTT. Văn hóa và thể thao là một trong các ngành của
lĩnh vực không sản xuất, mà kết quả lao động là các dịch vụ. Khác với hàng
hóa sản xuất và tiêu thụ, các dịch vụ được tiến hành cùng một lúc, liên quan
đến vấn đề này thì sản xuất và tiêu thụ không thể tích lũy được. Nếu quá trình
phù hợp với lý luận về cơ cấu tài sản TDTT quần chúng. Chủ yếu là công trình
TDTT như theo phân loại công trình TDTT hiện hành, phần lớn thuộc sở hữu
Nhà nước với dòng vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách. Trong quy hoạch TDTT,
cả hai tỉnh đều chưa làm nổi bật được cơ sở tính toán để xác định các mục tiêu
về số lượng công trình TDTT, đặc biệt là số lượng từng loại công trình TDTT.
Các chỉ tiêu đặt ra trong quy hoạch phát triển TDTT của tỉnh Bắc Ninh và
Bắc Giang chưa có sự phân tích cụ thể, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa tài
sản TDTT và quản lý TDTT, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa số lượng
công trình TDTT và dịch vụ TDTT. Những cơ sở lý luận và thực tiễn về những
mối quan hệ này được trình bày cụ thể trong mục 3.1.5 của luận án. Đây là vấn
đề đặt ra trong quy hoạch phát triển TDTT của tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang,
cần tiếp tục được giải quyết nhằm đáp ứng nhu cầu tập luyện TDTT của người
dân và dự báo nhu cầu tập luyện TDTT trong tương lai.
3.1.5. Mối quan hệ giữa tài sản TDTT và quản lý TDTT
3.1.5.1. Mối quan hệ giữa tài sản TDTT và quản lý TDTT
Dưới góc độ cơ sở lý luận thì mối quan hệ giữa tài sản TDTT và quản lý
TDTT là sự thống nhất về quản lý kinh tế. Được thể hiện thông qua sơ đồ 3.5:
Sơ đồ 3.5 Mối quan hệ giữa tài sản TDTT và quản lý TDTT
(dưới góc độ cơ sở lý luận)
8
Từ những cơ sở lý luận, mối quan hệ giữa tài sản TDTT và quản lý
TDTT phải được xem xét trên cả ba yếu tố: nguồn lực, quá trình quản lý, kết
quả. Căn cứ phương pháp nghiên cứu hệ thống, vấn đề xác định mối quan hệ
giữa công trình TDTT và quản lý TDTT thực chất là xác định mối quan hệ
giữa đầu vào (công suất công trình TDTT) và đầu ra (dịch vụ TDTT). Vì trong
trường hợp này, chúng ta chưa có mô hình quản lý kinh tế tài sản TDTT.
Từ những phân tích và cơ sở lý luận, thì mối quan hệ giữa đầu vào (công
trình TDTT) và đầu ra (dịch vụ TDTT) là mối liên hệ phụ thuộc. Tức là công
suất công trình TDTT thay đổi phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng người tham
gia hoạt động TDTT, để đảm bảo phân bổ nguồn lực tối ưu nhất. Để thiết lập
Mức độ
5 4 3 2 1
1 Thông tin chung 19 37 4 1 1 2 4.62 0.997
2 Phục vụ quản lý và kinh doanh 10 40 3 2 0 0 4.84 0.997
3
Công trình xây dựng cơ bản và
phòng tập
8 43 1 1 0 0 4.93 0.998
4 Công trình xây dựng bổ trợ và nhà 4 40 2 1 1 1 4.76 0.997
5 Khu nhà ở và những ngôi nhà khác 6 38 2 2 1 2 4.62 0.997
6 Công trình phục vụ khán giả 4 37 3 3 1 1 4.64 0.997
7 Phương tiện kỹ thuật 6 34 6 3 1 1 4.58 0.997
8 Đặc điểm kỹ thuật 3 36 2 4 2 1 4.56 0.997
9 Bổ sung và ghi chú 1 30 3 7 2 3 4.22 0.999
Cronbach’s Alpha = 0.998
Kết quả thu được ở bảng 3.5 có kết quả tương đồng với lần kiểm tra thứ
nhất, giá trị trung bình > 4.21, hệ số tin cậy cao (Cronbach’s Alpha = 0.998).
Như vậy, đề tài đã lựa chọn được 9 tổng thể bộ phận với 61 tiêu thức được
dùng để thống kê công trình TDTT. Các tiêu thức này được trình bày thành
phiếu kiểm kê công trình TDTT (xem phụ lục 2 trong luận án).
3.1.5.3. Cơ sở xây dựng phương pháp tính toán về quản lý kinh tế công
trình TDTT
Dưới góc độ toán học, phương pháp xác định là cách thức định lượng một
cách chính xác bằng các trị số (giá trị bằng số) thể hiện được trạng thái (số
lượng, giá trị, biến động) của công trình TDTT. Nhờ việc xác định cơ sở lý
luận, đề tài đã tổng hợp được 10 phương pháp tính toán là:
(1) Nhu cầu công trình TDTT.
(2) Khả năng cần phục vụ cùng lúc của công trình TDTT.
(3) Tỷ lệ cung cấp công trình TDTT cho người dân.
10
mà các đề tài đã nghiên cứu chưa đề cập.
Điểm khác biệt khi so sánh với những tác giả khác: Từ giả thuyết đặt ra
nên mối quan tâm chủ yếu của đề tài là mối liên hệ giữa công trình TDTT và
dịch vụ TDTT phục vụ quản lý kinh tế TDTT. Công cụ lựa chọn là các phương
trình hành vi, phương pháp tính toán để phục vụ hai vấn đề lớn của công trình
TDTT: điều tiết và kinh doanh.
11
Đã bước đầu phát triển một mô hình quản lý kinh tế phục vụ quy hoạch
công trình TDTT và chuyển đổi CSTT sang cơ chế cung ứng dịch vụ. Lượng
tăng (giảm) công trình TDTT cùng những tác động đến hoạt động quản lý (điều
tiết) và kinh doanh (thị trường) được đề cập toàn diện. Mục tiêu tối ưu hoá
nguồn lực đầu vào được tiến hành một cách hệ thống, có tính khả thi và phù
hợp với các chủ trương, đường lối về phát triển TDTT trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Đảm bảo việc tiết kiệm các nguồn lực của Nhà
nước là đất dành cho TDTT và ngân sách Nhà nước.
Lý giải điểm khác biệt: Kết quả của đề tài có sự khác biệt là do phương
pháp tiếp cận công trình TDTT theo phương pháp hệ thống, lấy quy luật cung
cầu để khái quát trạng thái cân bằng giữa công trình TDTT và dịch vụ TDTT.
Đồng thời ứng dụng các phương trình, phương pháp tính toán để dự báo, tối ưu
hoá nguồn lực công trình TDTT với kinh doanh công trình TDTT. Điểm khác
biệt này thể hiện ở chỗ, việc lựa chọn phương pháp tính toán phản ánh các
điểm đặc trưng trong xây dựng mô hình về: (1) Phạm vi; (2) Mức độ tổng quát;
(3) Thời gian; (4) Hành vi; (5) Tính chặt chẽ; (6) Khuôn mẫu tính toán. Các nội
dung này được trình bày cụ thể trong luận án.
3.2. Ứng dụng phương pháp tính và dự báo định mức kinh doanh tài sản
trong quản lý nhằm đảm bảo thực hiện quy hoạch TDTT đến năm 2020
(giới hạn tài sản công về công trình TDTT trong TDTT quần chúng)
3.2.1. Ứng dụng phương pháp tính và dự báo kinh doanh dịch vụ công
trình TDTT trong quản lý nhằm đảm bảo thực hiện quy hoạch TDTT
Dự báo đất cơ sở TDTT với dân số của tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang: Cơ sở
Thấp 1.624 1.128
Không đổi 1.670 1.163
2 Mục tiêu đất cơ sở TDTT (m
2
/người) 2 – 3 2 – 3
3 Dự báo đất cơ sở TDTT (ha)
Trung bình 499.8 346.8
Cao 512.1 355.2
Thấp 487.2 338.4
Không đổi 501.0 348.9
Từ kết quả bảng 3.17 cho thấy, với mục tiêu đất cơ sở TDTT đạt
3m
2
/người thì đến năm 2020 với mức dự báo dân số tăng cao, thì diện tích đất
cơ sở TDTT của tỉnh Bắc Ninh là 355.2 ha, Bắc Giang là 512.1 ha.
Dự báo đất cơ sở TDTT với tỷ lệ người tham giam tập luyện TDTT
thường xuyên của tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang: Ứng dụng tiêu chuẩn giả định
theo bảng 3.7, bảng 3.8, bảng 3.12 đến bảng 3.14 trong luận án và các quy
chuẩn khác, đề tài dự báo đất cơ sở TDTT của tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang như
trình bày ở bảng 3.18.
Bảng 3.18 Kết quả dự báo đất cơ sở TDTT với tỷ lệ người tập luyện TDTT
thường xuyên đến năm 2020 của tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang
TT Nội dung
Bắc Giang
Bắc Ninh
1 Dự báo dân số (nghìn người) 1.707 1.184
2 Mục tiêu người tập TDTT thường xuyên (%) 30 – 35% 45 – 55%
Tương ứng (người) 512.100-597.450 473.600-532.800
3 Diện tích cung cấp cho 1 người tập cùng lúc
(m
5 Dự báo số người tập luyện TDTT có thể đáp ứng
(người)
928.768 280.934
6 Dự báo tỷ lệ người tham gia tập luyện (%) 54 24
Từ kết quả bảng 3.19 cho thấy, với đất cơ sở TDTT của tỉnh Bắc Giang là
1.315ha, tỉnh Bắc Ninh là 397ha đến năm 2020 với mức dự báo dân số tăng
cao, thì tỷ lệ người tập luyện TDTT mà công trình TDTT có thể đáp ứng của
tỉnh Bắc Ninh khoảng 24%, Bắc Giang khoảng 54%.
Dự báo số lượng người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên theo thời
kỳ và thu nhập bình quân: Ứng dụng phương pháp OLS vào việc xác định tốc
độ tăng trưởng trung bình năm thời kỳ hiện tại. Kết quả thu thập số liệu được
trình bày tại bảng 3.20 trong luận án.
Kết quả ước lượng tham số k trong tính tốc độ tăng trưởng người tập bình
quân (
g
) thời kỳ 2005 – 2010 là: k
Bắc Giang
= 0.05779 và k
Bắc Ninh
= 0.05604
Vậy tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2005 – 2010 là:
g
Bắc Giang
= e
k
– 1 = e
0.09623
– 1 = 0.05779 khoảng 5,779%
g
Bắc Ninh
trưởng trung bình
giai đoạn 2005-2010
5.779 5,604
3. Kết quả dự báo 36.54 39.83 1,707.0 1,184.0 623.791 471.629
Tính hệ số co giãn giữa số người tập luyện với thu nhập: kết quả thu thập
số liệu được trình bày tại bảng 3.22 trong luận án.
Hệ số co giãn theo thu nhập bình quân hàng tháng giai đoạn 2005 – 2010
là: β
Bắc Giang
= 0.3272 và β
Bắc Ninh
= 0.3293. Nghĩa là khi thu nhập bình quân tăng
lên 1% thì số người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên của tỉnh Bắc
Giang tăng lên 0,3272%, còn của tỉnh Bắc Ninh tăng lên 0,3293%.
Mục tiêu đến năm 2020 của tỉnh Bắc Ninh về thu nhập bình quân đầu
người là 50 triệu đồng/năm (khoảng 4.166,700 đ/tháng). Như vậy, so với năm
2010 (2.823,500 đ/tháng) sẽ tăng khoảng 147.57%. Căn cứ kết quả xác định hệ
số co giãn, với dự báo dân số Bắc Ninh đến 2020 ở mức thấp (1.128 nghìn
người), thì tỷ lệ người tập luyện TDTT thường xuyên sẽ đạt khoảng 40.78%.
Tương tự cách thực hiện như vậy sẽ tính được cho tỉnh Bắc Giang.
Đánh giá tỷ lệ về số lượng công trình TDTT với dân số tỉnh Bắc Giang:
kết quả thu thập số liệu như trình bày ở bảng 3.23
Bảng 3.23 Tỷ lệ số công trình TDTT với dân số năm 2010 của Bắc Giang
TT Tỉnh/Huyện Dân số (người) Số lượng (cái) Tỷ lệ (cái/10.000 dân)
A BẮC GIANG 1.567.557 2.507 16.0
1 Tp. Bắc Giang 103.335 229 22.2
2 Lục Ngạn 207.388 239 11.5
3 Lục Nam 200.339 269 13.4
4 Sơn Động 69.112 168 24.3
5 Yên Thế 95.110 141 14.8
Kết quả từ đồ thị 3.1 cho thấy: nếu coi số phường, thị trấn là cố định thì
điểm cân bằng của công trình bể bơi của tỉnh Bắc Giang là 23. Vì vậy, cần có
những chính sách tác động để dịch chuyển đường cung công trình bể bơi theo
chiều dọc (từ S1 sang S2). Tức là các phường, thị trấn chưa có công trình bể
bơi phải có kế hoạch bổ sung để đảm bảo nhu cầu tập luyện của nhân dân địa
phương. Cần lưu ý rằng, vì tiêu chuẩn hiện nay đặt ra theo số lượng đơn vị
hành chính nên không tránh khỏi những bất cập với các phường, thị trấn có
đông dân số sinh sống và nhu cầu cao về công trình bể bơi.
Đồ thị 3.2 Cân bằng cung cầu về công trình sân tập của tỉnh Bắc Giang
Kết quả từ đồ thị 3.2 cho thấy: đường cung sân tập TDTT (S1) đã vượt
quá điểm cân bằng rất lớn. Vì vậy, cần có quyết định điều chỉnh nhằm dịch
chuyển đường cung công trình sân tập theo chiều ngang (từ S1 sang S2). Có
thể dừng việc thêm mới các sân tập và tiến hành tăng cường đầu tư trang thiết
bị, dụng cụ thể thao nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TDTT. Có thể theo
hướng tăng thêm số lượng bể bơi hiện đang thiếu. Cần thiết phải có quy hoạch
công trình TDTT nhằm tránh ảnh hưởng đến quỹ đất của tỉnh.
Tuy nhiên, việc quy chuẩn số lượng công trình TDTT dựa trên phân cấp
hành chính và vùng lãnh thổ có thể không phù hợp với điều kiện tự nhiên – xã
hội của mỗi địa phương. Vì mỗi xã có dân số, diện tích, các yếu tố đặc thù khác
nhau (chưa tính đến phân đoạn nhất định của dân số, di cư, nhập cư) thì lại có
chung tiêu chuẩn về số lượng công trình TDTT. Điều này có thể dẫn đến sự
mất cân đối trong quy hoạch đất đai về công trình TDTT và khả năng đáp ứng
nhu cầu tập luyện của nhân dân. Để thấy rõ sự bất cập này, đề tài xác lập kết
quả giả định khi một số xã của huyện Sơn Động, Lục Nam đều đạt tiêu chuẩn
của Bộ VH,TT&DL: có đủ 1 sân tập và 1 nhà tập. Huyện Sơn Động như đã
17
phân tích ở bảng 3.25 là huyện có tỷ lệ công trình TDTT là 24.3/10.000 dân,
Lục Nam là 13.4 công trình TDTT. Kết quả như trình bày ở bảng 3.25.
Bảng 3.25 Kết quả giả định về các xã có cùng số lượng công trình TDTT
theo quy chuẩn của tỉnh Bắc Giang
nhưng giữa các xã lại có sự chênh lệch rất lớn về diện tích đất TDTT theo đầu
người, xã cao nhất đạt 8.572m
2
/người, xã thấp nhất đạt 0.263m
2
/người. Điều đó
cho thấy sự hạn chế khi đánh giá khả năng đáp ứng với phân đoạn dân cư.
Đánh giá tỷ lệ cung cầu diện tích đất mỗi loại công trình TDTT tỉnh Bắc
Giang: Kết quả được trình bày ở bảng 3.26.
Bảng 3.26 Nhu cầu về diện tích đất đai dành cho nhà tập theo dân số của
tỉnh Bắc Giang (có đến 31/12/2010)
T
T
Tỉnh/Huyện
Dân số
(người)
Số lượng
Cung diện
tích (m
2
)
(1)
Cầu diện tích
(m
2
)
(2)
Tỷ lệ %
A BẮC GIANG 1.567.557 297 75.141 544.461 13.8
1 Tp. Bắc Giang 103.335 65 16.445 35.891 45.8
tỉnh Bắc Ninh: tính toán tương tự như đánh giá cung cầu theo diện tích mỗi loại
công trình TDTT. Dẫn giải kết quả tính toán như trình bày ở bảng 3.27.
Bảng 3.27 Đánh giá cung cầu diện tích phòng tập theo học sinh của tỉnh
Bắc Ninh
T
T
Trường
Số lượng
học sinh
Phòng tập
Cung diện
tích (m
2
)
(1)
Cầu diện
tích (m
2
)
(2)
Tỷ lệ %
1 Tiểu học 8.2071 0 0 51.262 0
2 Trung học cơ sở 6.3672 5 3.420 39.770 8.6
3 Trung học phổ thông 4.4716 4 2.736 27.930 9.8
Tổng 19.0459 9 6.156 118.961 5.2
(1) Kích thước theo quy chuẩn tối đa của phòng tập là 38
×
18m (xem bảng 3.10 trong luận
án). TCVN 8793:2011 và TCVN 8794:2011 về yêu cầu thiết kế trường tiểu học và trung
học thì sàn tập cho nhà đa năng là: 12
sân tập
= 16.6%; K
nhà tập
= 3.6%
Ec = 178
Vậy K = 20.2%
Từ kết quả thu được, đề tài đã biểu diễn qua đồ thị 3.4 về mức độ đáp ứng
của các công trình TDTT cho nhu cầu tập luyện cùng lúc của nhân dân xã X.
Đồ thị 3.4 Cân bằng cung cầu về công trình TDTT với nhu cầu tập luyện
cùng lúc của nhân dân xã X
Kết quả từ đồ thị 3.4 cho thấy: điểm cân bằng của các công trình TDTT
của xã cần đáp ứng được 882 người tập luyện cùng lúc, tương ứng với điểm
giao cắt giữa đường cầu DL và đường cung S2. Song thực tế các công trình
TDTT hiện tại chỉ đáp ứng được 178 người (chiếm 20.2%). Vì vậy, cần thiết
phải có những điều chỉnh, tác động nhằm dịch chuyển đường cung công trình
TDTT theo chiều dọc (từ S1 sang S2).
20
Đánh giá công suất hoạt động của công trình TDTT so với số lượt người
tham gia tập luyện: Để tránh tình trạng công trình TDTT cứ tăng lên, trong khi
số người tham gia tập luyện đã giảm vì nhiều yếu tố khách quan, hoặc xuất
hiện các mâu thuẫn nội tại của công trình TDTT. Có thể số lượt người đến tập
luyện nhỏ hơn công suất thiết kế. Vậy lúc này đường cầu chính là công suất sử
dụng công trình TDTT, còn đường cung chính là số lượng người tham gia tập
luyện. Kết quả cung cầu này được biểu diễn trên đồ thị 3.5.
Đồ thị 3.5 Cung cầu về số người tập luyện với công suất công trình TDTT xã X
Từ kết quả thống kê cho thấy, với 95 lượt người tham gia tập luyện thì
mới chỉ đạt 53.4% công suất thiết kế của công trình TDTT (178 người). Từ kết
quả ở đồ thị 3.4 và các yếu tố khác không đổi thì chưa nhất thiết phải dịch
chuyển đường cung công trình TDTT theo chiều dọc. Tức là không xây dựng
thêm công trình TDTT mới, mà phải tìm hiểu các nguyên nhân không thu hút
t
hoà vốn
= (5.600.000/50.400.000) × 12 = 1.3 tháng
Tuy nhiên, ở đây ta có thể dựa vào số ca (sản lượng hoà vốn) để xác định
thời gian hoà vốn là: 168/3 = 56 ngày. Để thuận tiện khi ứng dụng trong thực
tiễn, đề tài xác định điểm hoà vốn và biểu diễn trên đồ thị 3.6.
Đồ thị 3.6 Đồ thị xác định điểm hoà vốn cho dịch vụ thuê sân bóng đá và trọng tài
Những phân tích trên là nền tảng để hình thành giá dịch vụ TDTT. Đối
với các dịch vụ phải thuê cơ sở vật chất thì việc tính toán lại được biến đổi phù
hợp. Để đảm bảo tính thống nhất khi chuyển các CSTT sang cơ chế cung ứng
dịch vụ, cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn về mức lợi nhuận.
22
Xác định giá dịch vụ TDTT dựa trên chi phí m
2
công trình TDTT và phân
biệt giá: Giả định, ước tính cho chi phí dịch vụ 1 năm là: 1,2 tỷ đồng. Thời
gian khai thác có hiệu quả được chấp thuận là 300 ngày trong năm. Khi đó:
Chi phí phí dịch vụ mỗi ngày là: 1,2 tỷ : 300ngày = 4.000.000
Thu nhập (10% lợi nhuận) của 4 triệu đồng.
Tổng số là: 4.000.000 + 400.000 = 4.400.000
Thuế VAT (10%) sẽ là 440.000
Tổng giá phải trả cho việc cung cấp các dịch vụ SVĐ sẽ là:
4.000.000 + 400.000 + 440.000 = 4.840.000 đồng/ngày
Chi phí của một trận thi đấu bóng đá và thuê trọng tài như đã trình bày ở
trên là 280.000 đồng, có tính đến lợi nhuận (20.000 đồng) và giá thanh toán
dịch vụ là 300.000 đồng. Áp dụng yếu tố phân biệt giá trong phạm vi từ 0 đến
100% để thiết lập giá cả cho các buổi tập. Giả sử, buổi sáng từ 7 - 9 giờ giảm
50% thì giá thanh toán dịch vụ lúc đó sẽ là:
280.000 đồng + 20.000 × 50% = 290.000 đ
Nguồn vốn đầu tư từ tiết kiệm của CSTT: Tiết kiệm của CSTT được xác
Do sử dụng số liệu thứ cấp, biến nội sinh chưa cố định (đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu sâu) nên kết quả dự báo bị ảnh hưởng. Đối với tính toán về giá dịch
vụ TDTT, luận án chỉ tính toán mang tính chất dẫn giải, không nêu ảnh hưởng
của chi phí khấu hao TSCĐ, con người
Trong luận án chỉ trình bày công thức hướng dẫn thực hiện, mà không
dẫn giải về chỉ số: giá vé dịch vụ TDTT trung bình và tần số tham dự bình
quân theo đầu người. Nguyên nhân là không có số liệu thực tế. Hạn chế này
không chỉ tồn tại trong luận án, mà tồn tại cả trong thực tế. Các phương pháp
tính toán chưa đề cập cụ thể trong công tác quản lý TDTT quần chúng thì
phương thức tổ chức nào đạt hiệu quả cao nhất.
Tóm lại: Từ những khái quát ứng dụng thực tế và giả định, kết hợp với
phân tích đã khẳng định các phương pháp tính toán mà đề tài lựa chọn, xây
dựng tỏ rõ hiệu quả trong công tác hoạch định phát triển TDTT nói riêng và